1
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ QUỐC DÂN
KHOA KINH TẾ VÀ KINH DOANH QUỐC TẾ
CHUYÊN NGÀNH QUẢN TRỊ KINH DOANH QUỐC TẾ
***
ĐỀ ÁN MÔN HỌC
ĐỀ TÀI: HOẠT ĐỘNG ĐẦU TƯ SẢN XUẤT KINH DOANH TẠI MỸ
CỦA CÔNG TY BÁNH KẸO KIDOCO
Giáo viên hướng dẫn : T.S Tạ Lợi
SINH VIÊN : LÊ MINH DŨNG
LỚP : KINH DOANH QUỐC TẾ
KHOÁ :42
HỆ : CHÍNH QUY
HÀ NỘI, NĂM 2003
sản xuất để thâm nhập thị trường Mỹ
2.2.4.1Ưu điểm
2.2.4.2 Nhược điểm
3
CHƯƠNG 3:BÀI HỌC KINH NGHIỆM VÀ GIẢI PHÁP CHO CÁC
DOANH NGHIỆP KHI ĐẦU TƯ VÀO THỊ TRƯỜNG MỸ
3.1
BÀI HỌC KINH NGHIỆM
3.2 GIẢI PHÁP
KẾT LUÂN
TÀI LIỆU THAM KHẢO LỜI NÓI ĐẦU
CHƯƠNG 1: CÔNG TY KIDOCO VÀ HOẠT ĐỘNG ĐẦU TƯ SẢN
XUẤT KINH DOANH TẠI MỸ
1.1.
VÀI NÉT VỀ CÔNG TY KIDOCO
Công ty bánh kẹo Kinh Đô được thành lập từ năm 1993, công ty Kinh Đô
khởi đầu là phân xưởng sản xuất nhỏ tại Phú Lâm, Quận 06 với tổng số vốn
5
đầu tư là 1,4 tỉ VND và lượng công nhân là 70 người. Lúc đầu công ty kinh
doanh một số mặt hàng như bánh Snach, một sản phẩm mới đối với người
tiêu dùng trong nước. Thị trường bánh Snach lúc đó chủ yếu là ở Thái Lan và
công ty đã thành công trong lĩnh vực kinh doanh sản phẩm này. Năm 1994,
nhận thấy thị trường có triển vọng công ty đầu tư thêm với vốn pháp định lên
đến 14tỉ VND tung ra sản phẩm bánh Snach Kinh Đô vừa giá rẻ, mùi vị
đặc
trưng phù hợp với thị hiếu của người trong nước. Năm 1996 đầu tư thêm công
nghệ thiết bị hiện đại của Đan Mạch trị giá 5 triệu USD để sản xuất bánh
Cookíe. Năm 1997 và năm 1998 công ty tiếp tục đầu tư dây chuyền thiết bị
sản xuất bánh mì, bánh bông lan công nghiệp. Đây là sản phẩm mang tính
dinh dưỡng cao, vệ sinh giá thành thích hợp với nhiều tầng lớp tiêu dùng.
Cu
ối năm 1998 dây chuyền sản xuất kẹo Chocolate được đưa vào khai thác sử
dụng. Năm 1999 công ty tiếp tục tăng vốn pháp định 40 tỉ VNĐ. Xây thêm
nhà máy công xưởng, mở rộng quy mô sản xuất. Đa dạng hoá sản phẩm bánh
kẹo với hàng trăm sản phẩm bánh kẹo và các sản phẩm bánh tươi. Năm 2000
công ty xây dựng thêm nhà máy đặt tại thị trấn Bần Yên Nhân tỉnh Hưng Yên.
Tháng 4/2001 công ty đầu tư thêm một dây truy
ền công nghệ sản xuất kẹo
Thành quả của Kinh Đô đã được ghi nhận bởi chất lượng sản phẩm không
ngừng được nâng cao. Được người tiêu dùng bình chọn “Hàng Việt Nam chất
lượng cao” trong 6 năm liền 1997, 1998, 1999, 2000, 2001, 2002. Sản phẩm
của công ty đạt huy chươ
ng vàng hội chợ quốc tế tại Cần Thơ và hội chợ quốc
tế Quang Trung năm 1995, 1996, 1997 công ty còn đạt nhiều thành tích
khác như “Cúp vàng Maketing” sản phẩm đạt giải vàng chất lượng vệ sinh an
toàn thực phẩm năm 2001. Công ty còn nhận được một số bằng khen như:
Bằng khen của thủ tướng Chính Phủ , bằng khen đơn vị hoàn thành tốt nghĩa
vụ nộp thuế, bằng khen đơn vị đạ
t thành tích tốt về thực hiện bộ luật lao động
và huy chương “ Vì thế hệ trẻ” năm 2000 của BCHTW đoàn
TNCSHCM.
1.2. HOẠT ĐỘNG ĐẦU TƯ CỦA KIDOCO
Tháng 2/2002 chủ tịch Hội đồng quản trị NEW CHOICE FOOD và ông
Trần lệ Nguyên tổng giám đốc công ty Kinh Đô đã kí văn bản thoả thuận về
7
việc thành lập nhà máy sản xuất kẹo mềm của Kinh Đô tại thành phố Los
Angeles thuộc bang Califonia Mĩ. Nhà máy này có công suất ban đầu là 1tấn
kẹo/giờ vốn đầu tư là 5 triệu USD hoàn toàn do công ty Kinh Đô đầu tư chịu
trách nhiệm về kĩ thuật, công nghệ còn NEW CHOICE FOOD có trách nhiệm
bao tiêu và phân phối sản phẩm Kinh Đô tại Mĩ và cả các nước trong khu vực
bắc Mĩ.
Kinh Đô là doanh nghiệp Việt Nam đầu tiên đầu t
ư và xây dựng nhà máy
tại Mĩ, một thị trường lớn bậc nhất trên thế giới và luôn đòi hỏi các quy định
hết sức chặt trẽ về chất lượng sản phẩm. Đặc biệt là những quy định ngặt
nghèo đối với sản phẩm bánh kẹo. Ông JFF KUO cho biết sau chuyến đi
khảo sát các nước châu Á, Kinh Đô là một trong những doanh nghiệp đạt
được lớn nhất là nâng cao kỹ thuật, học được cung cách quản lý và có thể
đàng hoàng bước chân vào hầu hết các thị trường của các nước trên thế giới.
Và thị trường Mỹ là mục tiêu đột phá của Kinh Đô.
CHƯƠNG 2: PHÂN TÍCH HOẠT ĐỘNG ĐẦU TƯ SẢN XUẤT KINH
DOANH CỦA KIDOCO
2.1 NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ HOẠT ĐỘNG ĐẦU TƯ TRỰC TIẾP
2.1.1 KHÁI NIỆM HOẠT ĐỘNG ĐẦU TƯ
Trước đây đã có nhiều lý thuyết thương mại được hình thành khi mà hầu
hết các yếu tố sản xuất không thể chuyển dịch dễ dàng qua biên giới quốc gia.
Ngày nay việc di chuyển của các yếu tố trở nên thuận lợi hơn, cùng với sự
9
phát triển vượt bậc của công nghệ viễn thông, giao thông vận tải quốc tế, các
công ty có thể làm được nhiều việc hơn là xuất khẩu sản phẩm của mình.
Hoạt động đầu tư đã là một trong những cách xâm nhập thị trường quốc tế tốt
nhất của các công ty kinh doanh.Việc thực hiện đầu tư và nhất là đầu tư trực
tiếp không phải chỉ có sự tham gia c
ủa các công ty lớn mà còn có sự tham gia
của các công ty vừa và nhỏ.
Đầu tư theo nghĩa rộng, đầu tư là sự hy sinh các nguồn lực ở hiện tại để
ngoài mà còn thể hiện ở việc tư bản bắt buộc phải vượt qua khỏi tầm kiểm
soát của một quốc gia. Việc di chuyển tư bả
n này nhằm mục đích phục vụ
kinh doanh tại các nước tiếp nhận đầu tư, đồng thời lại là điều kiện để xuất
khẩu máy móc, vật tư, nguyên liệu và khai thác tài nguyên của nước chủ nhà.
2.1.3 Đặc điểm của đầu tư sản xuất:
Đầu tư trực tiếp nước ngoài đưa vốn vào nước tiếp nhận và đi kèm với
vốn là cả k
ỹ thuật, công nghê, bí quyết kinh doanh Chủ đầu tư đưa vốn vào
đầu tư là tiến hành tổ chức sản xuất kinh doanh và sản phẩm làm ra được tiêu
thụ ở thị trường nước sở tại hoặc thị trường quốc tế.
Việc tiếp nhận đầu tư trực tiếp nước ngoài phát sinh nợ cho nước nhận
đầu tư. Thay cho lãi xuất, nước nhận đầu tư được phầ
n lợi nhuận thích đáng
khi dự án đầu tư hoạt động có hiệu quả. Bên cạnh đó, nước sở tại còn có điều
kiện để phát triển tiềm năng trong nước. Nhờ có hoạt động đầu tư trực tiếp mà
các nhà đầu tư có thể khai thác và sử dụng triệt để những lợi thế của nước tiếp
nhận đầu tư.
2.1.4 SỰ CẦN THIẾT CỦA HOẠT ĐỘNG ĐẦU TƯ SẢN XUẤT TRỰC TIẾP.
Ta có thể ví hoạt động đầu tư sản xuất trực tiếp giống như việc mở rộng
thị trường nội địa để tăng doanh số bán hàng và tận dụng công xuất sản xuất
dư thừa, ngoài ra hoạt động này còn cho phép các công ty tiếp cận các nguồn
lực bên ngoài, giảm chi phí và tăng hiệu quả của hoạt động sản xuất kinh
doanh.
Một lí do khác thúc đẩy các công ty tham gia hoạt động đầ
u tư sản xuất ở
nước ngoài đó là do mức thu nhập bấp bênh. Các công ty có thể ổn định
nguồn thu nhập của mình bằng cách tăng doanh số bán hàng quốc tế vào
11
chuyể
n đổi kinh tế công nghiệp sang kinh tế tri thức (thông tin, điện tử ) Mỹ
12
tập trung vào phát triển các ngành dịch vụ công nghệ cao và công nghệ thông
tin. Một mặt họ gia sức tìm cách mở rộng thị trường xuất khẩu dịch vụ (ngân
hàng, tài chính ), hàng công nghệ cao như máy vi tính, điện tử, viễn thông
Mặt khác họ khuyến khích nhập khẩu hàng hoá cần thiết nhiều lao động từ
nước khác bởi chi phí nhân công của họ rất cao. Điều này tạo ra sức cạnh
tranh mạnh mẽ trên thị trườ
ng trong nước Mỹ, để dân chúng được mua hàng
hoá với giá rẻ hơn, chất lượng hơn.
Các doanh nghiệp Mỹ có những sự linh động hơn nhiều so với các đối tác
của họ tại bất cứ đâu trong những quyết định mở rộng cơ sở kinh doanh của
mình, sa thải công nhân thừa và phát triển sản phẩm mới. Với số dân trên 250
triệu đây là một thị trường thực sự
hấp dẫn đối với các doanh nghiệp trong và
ngoài Mỹ.
Thị trường này càng hấp dẫn hơn khi ở đây có một thể chế chính trị được
xây dựng khá lâu với một hệ thống pháp luật ổn định. Mặc dù trên thực tế thì
ở mỗi bang ở đất nước này có một hệ thống pháp luật riêng và nó được thống
nhất bởi hệ thống luật liên bang, nhưng thường thì nó luôn tạo nh
ững điều
kiện phát triển rất thuận lợi cho hoạt động kinh doanh của các doanh nghiệp.
Để nhằm nâng cao yêu cầu đối với các cơ quan nhà nước theo dõi việc tôn
trọng pháp luật và để kiểm tra việc tôn trọng pháp luật Quốc hội Mỹ đã thành
lập một loạt các cơ quan điều tiết liên bang, trong đó có: Uỷ ban thương mại
liên bang, cục kiểm tra chất lượng thực phẩm, uỷ
ban về các vấn đề an toàn
hàng tiêu dùng. Hoạt động của các cơ quan này cũng có thể ảnh hưởng không
được những kinh nghiệm quản lý cao cấp, cách làm việc hiệu quả, điều tiết
các nguồn lực đầ
u vào và phân phối các sản phẩm đầu ra một cách hợp lý
(nguồn cung cấp những sản phẩm đầu vào để chế biến thực phẩm lại rất dồi
dào vì Mỹ là một trong những nước xuất khẩu gạo và lúa mỳ hàng đầu trên
thế giới).
Những cơ hội của họ còn thể hiện ở chỗ sản phẩm của họ khi sản xuất ra
có thể đế
n tay người tiêu dùng một cánh nhanh nhất do cơ sở hạ tầng giao
14
thông ở đây rất tốt, việc mua bán hàng thức ăn nhanh qua mạng đã chở nên
quen thuộc và phổ biến đối với người dân. Đồng thời 3 hệ thống siêu thị của
Mỹ là costo, well_mark và sams_club là 3 hệ thống siêu thị có mức độ trải
rộng trên toàn quốc đã kí hợp đồng bao tiêu toàn bộ sản phẩm đầu ra của Kinh
Đô nên có thể nói cơ hội kinh doanh của công ty ngày càng rõ ràng hơn.
2.2.2 ĐỘNG CƠ KINH DOANH CỦA KIDOCO
Sau một thời gian ra mắt ở thị trường Mỹ, tập đoàn New Choice Food đã
quyết định mua khoảng 4000 container mỗi năm. Cả năm 2002, Kinh Đô chỉ
xuất được 1,9 triệu USD. Nhưng tính đến 20/2/2003, kim ngạch xuất khẩu của
Kinh Đô đã lên đến 1,52 triệu USD. Do đó đầu tư vào thị trường Mỹ là một
quyết định hợp lý.
Câu hỏi đặt ra ở đây là tại sao KIDOCO lạ
i chọn thị trường Mỹ để đầu tư
đầu tiên? Một thị trường khá khó khăn đối với những hàng sản phẩm là thực
phẩm? Một thị trường mà tiêu chuẩn về vệ sinh, kĩ thuật, giá cả luôn luôn ở
mức khắt khe và cạnh tranh? Đó là vì với đà xuất khẩu ở mức 80 –100
container/tháng vào thị trường Mỹ như hiện nay thì rõ ràng là KIDOCO đã có
những tính toán thiệt hơn gi
ữa những gì mà họ bỏ ra và thu về.
Well_mart và Cosco, hai đại gia siêu thị của Mỹ và dự định đẩy nhanh
franchise các hiệu bánh tươi của Kinh Đô. Tổng giám
đốc Kinh Đô ,ông Trần
Kim Thành đã phát biểu một cách chân thật và ấn tượng: “vào WTO, cạnh
tranh nhiều hơn, chúng tôi lo, rất lo nhưng chúng tôi không sợ”.
Theo ông, “những áp lực cạnh tranh nghẹt thở đang ngày càng đè nặng lên
các doanh nghiệp Việt Nam ngay trên thị trường nội địa. Sức ép cạnh tranh về
giá cả mẫu mã, chất lượng, giao hàng đòi hỏi doanh nghiệp phải có công nghệ
cao, năng lực sáng tạo những sản phẩm mớ
i, những sản phẩm có chất lượng,
uy tín, yêu cầu lãnh đạo phải có kiến thức tầm nhìn chiến lược và thông hiểu
luật chơi toàn cầu hoá kinh tế. Ngẹt thở để rồi dễ thở hơn.
2.2.3 HÌNH THỨC KINH DOANH CỦA KIDOCO TRÊN THỊ TRƯỜNG MỸ
2.2.3.1 CÁC YẾU TỐ TÁC ĐỘNG ĐẾN VIỆC LỰA CHỌN HÌNH THỨC KINH
DOANH CỦA KIDOCO
16
Có rất nhiều nhân tố tác động đến việc quyết định lựa chọn hình thức kinh
doanh của một công ty, nhưng có 3 nhân tố quan trọng ảnh hưởng lớn đến
việc lựa chọn hình thức kinh doanh của công ty đó là:
2.2.3.1.1 Yếu tố vốn
Lượng vốn của một công ty quyết định rất nhiều đến việc lựa chọn hình
thức kinh doanh trên một thị trường mới. Nếu công ty có mộ
t lượng vốn lớn
đủ để trang trải cho các hoạt động Marketing, quảng bá sản phẩm của mình
thông qua quảng cáo, các hình thức khuyến mại trong quá trình “mang sản
phẩm của công ty đến với người tiêu dùng”. Thuê địa điểm làm đại lý bán các
sản phẩm của mình thì công ty có thể đến với khách hàng một cách trực tiếp
hơn.Với Kinh Đô thì họ chưa đủ tiềm lực để làm như vây.Tổng số vốn mà
công ty KIDOCO Việt Nam đầu tư sang Mỹ là 5 triệu USD chỉ đủ cho việc
khắc nghiệt.Với công ty Kinh Đô, thực tế họ không có nhi
ều vốn và kinh
nghiệm, lại đang kinh doanh trong một môi trường kinh doanh có sự cạnh
tranh khắc nghiệt như vậy thì việc họ lựa chọn hình thức kinh doanh của
KIDOCO là sản xuất để bán sản phẩm của mình cho các công ty lớn thông
qua các đơn đặt hàng là hoàn toàn đúng đắn. Cùng với việc cố gắng thiết lập
thêm các đầu mối quan hệ đối với khách hàng, tìm kiếm thêm những thông tin
về những thị trường mớ
i có điều kiện thâm nhập thuận lợi. Ví dụ như thị
trưòng NAFTA. Khi một hàng hoá được gắn nhãn mác “Made in USA” thì
việc đưa sản phẩm của mình vào những nước thuộc NAFTA là Mexico và
Canada rất dễ dàng, hầu như không có rào cản. Và để đạt được những mục
tiêu trên hay nói một cách khác là để đưa hoạt động kinh doanh của KIDOCO
lên một trạng thái cao hơn về chất. Công ty Kinh Đô đã cố gắng phát huy hết
kh
ả năng của mình cụ thể: Cụ thể là họ đã nhập mới những trang thiết bị , dây
chuyền công nghệ tiên tiến sản xuất bánh Cracker và Cookies của Vương
quốc Đan Mạch. Đây là dây chuyền sản xuất bánh tiên tiến nhất hiện nay.
Dây chuyền này có thể sản xuất với công xuất 1.5 tấn/giờ đủ để đáp ứng
những đơn đặt hàng lớn đồng thờ
i nâng cao chất lượng của sản phẩm.
18
Tuy nhiên, việc sản xuất kinh doanh của Kinh Đô trên đất Mỹ còn bị phụ
thuộc rất nhiều vào các nhà phân phối, sản lượng của Kinh Đô bị phụ thuộc
vào đơn đặt hàng của các nhà phân phối này, thêm vào đó thương hiệu Kinh
Đô vẫn còn khá mới mẻ trên đất Mỹ nên việc thực hiện chiến lược của riêng
mình là điều rất khó. Nhưng hiện tại Kinh Đô có thể đạt đượ
c các mục tiêu về
doanh số và lợi nhuận vì hàng năm lượng đơn đặt hàng của các nhà phân phối
tra chất lượng và vệ sinh của sản phẩm tại các công đoạn trên
giây chuyền sản xuất.
Lấy mẫu để kiểm tra các chỉ tiêu vệ sinh.
Thành phẩ
m
Thành phẩm được đóng gói trong bao bì kín đúng với qui
định về bao bì sản phẩm cho các sản phẩm thực phẩm
Hướng dẫn người bảo quản, trưng bày sản phẩm theo yêu cầu
đối với sản phẩm để tránh tình trạng hư hỏng của sản phẩm.
Có chế độ khuyến khích người tiêu dùng trả sản phẩm về nếu
sản phẩm có dấu hi
ệu hư hỏng.
Đây là vấn đề đầu tiên, nó hết sức quan trọng đối với một công ty sản xuất
và kinh doanh thực phẩm như Kinh Đô và vệ sinh an toàn thực phẩm càng trở
lên quan trọng khi kinh doanh tại thị trường Mỹ ( nơi mà những người tiêu
dùng đòi hỏi rất cao về chất lượng của sản phẩm và thường là không chấp
nhận bất cứ một sự sơ suấ
t nào đối với sản phẩm). Có thể nói, đây là cách làm
rất đúng đắn của Kinh Đô vì chỉ có chất lượng tốt, đảm bảo sức khoẻ cho
người tiêu dùng mới tạo cho Kinh Đô bàn đạp để dẫn tới thành công. Chọn
hình thức đầu tư sản xuất tại thị trường Mỹ và liên minh với các nhà phân
phối lớn ở đây thực sự là một hướng đi đúng
đắn.
2.2.
4 ƯU ĐIỂM VÀ NHƯỢC ĐIỂM CỦA KIDOCO KHI LỰA CHỌN HÌNH
THỨC ĐẦU TƯ, SẢN XUẤT ĐỂ THÂM NHẬP THỊ TRƯỜNG MỸ
2.2.4.1 Ưu điểm
20
Xâm nhập thị trường Mỹ thông qua hình thức đầu tư sản xuất, liên minh
Bất lợi của việc liên minh đối với các nhà phân phối Mỹ là rất dễ dẫn tới
những đổ vỡ của hợp đồng khi các bên không dung hoà được lợi ích của
mình. Hậu quả là bên yếu thế hơn sẽ phải chịu những thiệt hại.
CHƯƠNG 3: BÀI HỌC KINH NGHIỆM VÀ GIẢI PHÁP CHO CÁC
DOANH NGHIỆP KHI ĐẦU TƯ VÀO THỊ TRƯỜNG MỸ
3.1. BÀI HỌC KINH NGHIỆM
Đầu tư sản xuất ở một thị trường quốc tế do nhiều nguyên nhân khác nhau
có thể nhằm mở rộng thị trường tiêu thụ, tăng doanh thu hoặc tiếp cận các
nguồn lực mới. Chính vì thế bước đầu tiên của quá trình đầu tư sản xuất là
đánh giá nhu cầu của thị trường đó.Việc đánh giá nhu cầu ở đây có thể là
đánh gía mức độ rộng l
ớn của thị trường, những phong tục tập quán nơi sản
phẩm của mình được tiêu dùng Những gì mà KIDOCO cho ta thấy là sau khi
đã phân tích và đánh giá thị trường Mỹ họ sẽ xác định sự sẵn có các nguồn
lực của mình.Khi một công ty có ý định thực hiện một dự án đầu tư để sản
xuất kinh doanh ở nước ngoài họ cần phải xem xét khả năng huy động các
nguồn lực cho dự
án ở hiện tại và trong tương lai.Các nguồn lực ở đây có thể
là vốn để đầu tư, lắp đặt các trang thiết bị. Công nghệ để sản xuất sản phẩm
sao cho phù hợp với những nhu cầu tiêu dùng ở nước sở tại, đảm bảo tính tiết
kiệm và hiệu quả. Nguồn lực để thực hiện dự án có thể có sẵn tại nước nhận
đầ
để cái tên Kinh Đô là sự lựa chọn đầu tiên đối với khách hàng khi mua sản
phẩm bánh kẹo. Giờ đây KIDOCO đã được trả công xứng đáng cho những cố
gắng của mình khi liên tiếp nhận được những đơn đặt hàng lớn trị giá hàng
tri
ệu USD từ các nhà phân phối ở Mỹ và các quốc gia khác.
Tuy nhiên, cũng cần phải nói rằng doanh nghiệp muốn đi lên một tầm cao
mới thì cần phải có sự cẩn thận và chắc chắn ở mỗi bước tiến của mình. Điều
23
này chỉ có thể được tạo ra từ uy tín đối với bạn hàng và niềm tin của khách
hàng đối với sản phẩm của mình.
Đồng thời cũng phải đề phòng cẩn thận vơí các đối tác, khi họ dựa vào sự
thiếu kinh nghiệm trong hoạt động kinh doanh của các công ty để tạo ra sự lệ
thuộc vào họ. Từ đó dẫn tới việc người được quết định thì lại không đượ
c
quyết định, người xứng đáng được hưởng nhiều hơn lại được hưởng ít hơn.
3.2 GIẢI PHÁP
Những giải pháp sẽ được rút ra từ bài học kinh nghiệm và khó khăn của
công ty sẽ phải đối mặt.
Giải pháp đối với những rủi ro do công ty khi chưa có kinh nghiệm đầu tư
vào thị trường lớn và khắc nghiệt như thị trường Mỹ là học hỏi và tìm hiểu kĩ
những vấn đề về luật pháp ( đây là vấn đề rất quan trọng vì ở mỗi bang của
Mỹ có những luật lệ riêng), luật chơi trên thị trường Mỹ, các yếu tố về thị
trường, văn hoá, phong tục tập quán, tâm lý của khách hàng khi đứng trước
sản phẩm của mình. Tốt nhất là nên xin ý kiến của các nhà tư vấn có hiểu biết
nhất định nhưng đủ để công ty có những quyết định đầu tư đúng đắn.
Giải pháp đối với sự cạnh tranh kh
ốc liệt ở thị trường Mỹ đó là liên kết, kí
hợp đồng với càng nhiều nhà phân phối càng tốt giúp cho chỗ đứng của
KIDOCO càng ngày càng ổn định và chắc chắn. Kết quả này chỉ được tạo nên
chỗ đứng ngày hôm nay. Thị trường Mỹ sẽ cho nhiều quả ngọt nhưng thực sự
không phải ai cũng có khả năng chăm sóc và chờ đợi cho đến khi được hái
quả. Kinh Đô ch
ấp nhận là doanh nghiệp đầu tiên đến thị trường Mỹ để đầu tư
với vô vàn những cơ hội và thách thức.
Hy vọng bài viết của tôi ở đây chỉ đề cập đến hoạt động đầu tư và sản
xuất của một công ty trong số rất nhiều công ty khác ở Việt Nam sau này sẽ
đầu tư trực tiếp ra nước ngoài. 25
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
*KIDOCO.COM
*GIÁO TRÌNH KINH DOANH QUỐC TẾ
*KINHDOMOONCAKE.COM
*VNEXPRESS.NET