Luận văn : Phương pháp chỉ số trong phân tích thống kê và vận dụng vào tính chỉ số giá tiêu dùng ở Việt Nam hiện nay - Pdf 20



Đề án tốt nghiệp

Phương pháp chỉ số trong
phân tích thống kê và vận
dụng vào tính chỉ số giá tiêu
dùng ở Việt Nam hiện nay Đề Án LTTK Khoa Thống Kê
1 SV Mai Thành Trung
LỜI MỞ ĐẦU.

Như chúng ta đã biết toàn cầu hoá, hợp tác quốc tế là một xu
thế tất yếu khách quan của thời đại, nhận thức đúng đắn được
điều này Đảng và Nhà nước ta, đặc biệt trong những năm gần đây,
luôn đẩy mạnh và thực hiện các chính sách mở cửa, tăng cường
hợp tác quốc tế nhằm đưa nền kinh tế nước ta hội nhập cùng nền
kinh tế thế giới. Khi chúng ta chuyển từ nền kinh tế kế hoạch hoá
tập trung sang nền kinh tế hàng hoá nhiều thành phần có sự quản
lý của Nhà nước, thì nền kinh tế của chúng ta sẽ hoạt động theo
những quy luật vốn có của nền kinh tế thị trường như quy luật
cung cầu, quy luật giá cả, quy luật cạnh tranh vv Và khi đó vai
trò của chính phủ lại càng được khẳng định trong việc định hướng
nền kinh tế, khắc phục những khuyết tật mà kinh tế thị trường gây
ra, đặc biệt trong quá trình hội nhập hiện nay, khi mà nền kinh tế
nước ta chịu sự tác động trức tiếp bởi những biến động của nền

luận cũng như thực tiễn, sau đó em mong muốn có thể góp một
phần nhỏ bé nào đó vào việc hoàn thiện hơn phương pháp tính chỉ
số giá tiêu dùng của nước nhà.
Qua đây em cũng xin chân thành cảm ơn ThS. Chu Bích
Ngọc GV khoa Thống kê kinh tế_ĐHKTQD đã hướng dẫn và giúp
đỡ em trong quá trình thực hiện đề án của mình.
Đề Án LTTK Khoa Thống Kê
3 SV Mai Thành Trung
PHẦN I: LÝ LUẬN CHUNG VỀ CHỈ SỐ.

Trong các quá trình kinh tế xã hội nói chung và trong hoạt
động sản xuất kinh doanh hàng ngày nói riêng,chúng ta thường
phải so sánh, phân tích, đánh giá các đại lượng khác nhau trong
những điều kiện không gian và thời gian khác nhau cũng như phải
tìm ra được các nguyên nhân, các nhân tố tác động đến từng đại
lượng đó để có thể điều chỉnh, xây dựng các chiến lược và kế
hoạch hành động hợp lý trong tương lai. Trong thực tế phương
pháp chỉ số có ý nghĩa thiết thực nhất, và người ta thường sử
dụng phương pháp chỉ số làm công cụ phân tích, nhưng để thực
hiện công việc này không phải đơn giản, nhất là khi có nhiều đai
lượng khó có thể đo lường được hay các đại lượng không có
chung đơn vị tính. Vậy thực chất của phương pháp chỉ số là gì?
Nó được vận dụng như thế nào? Chúng ta sẽ đi sâu vào nghiên
cứu để có câu trả lời một cách đầy đủ, và trước hết ta hãy tìm
hiểu những vấn đề về chỉ số.

I.Khái niệm, đặc điểm, và tác dụng của chỉ số trong thống kê.

+ Chỉ số chung: là chỉ số nêu lên biến động của cả tổng thể
nghiên cứu.
-Nếu căn cứ vào tính chất của chỉ tiêu nghiên cứu ta lại có
các loại chỉ số sau:
+ Chỉ số chỉ tiêu số lượng: là chỉ số được thiết lập đối với
chỉ tiêu số lượng, là chỉ tiêu biểu hiện quy mô, số lượng hiện
tượng nghiên cứu.
+ Chỉ số chỉ tiêu chất lượng: là chỉ số được thiết lập đối với
chỉ tiêu chất lượng, là chỉ tiêu biểu hiện mối liên hệ so sánh, mức
độ phổ biến, mối liên hệ của hiện tượng so sánh.
- Nếu căn cứ vào phương pháp tính toán ta có:
+ Chỉ số tổng hợp: là loại chỉ số được vận dụng để tính chỉ
số chung trên cơ sở xác định tổng các mức độ của từng đơn vị,
phần tử trong tổng thể.
+ Chỉ số bình quân: là loại chỉ số được vận dụng để tính chỉ
số chung từ các chỉ số đơn theo công thức số bình quân.
4. Quyền số của chỉ số thống kê.
- Khái niệm về quyền số:
Quyền số của chỉ số là nhân tố được giữ cố định trong công
thức chỉ số chung.
Ví dụ: Chỉ số tổng hợp giá cả: CPI=


qp
qp
0
1

Trong công thức trên khối lượng tiêu thụ q giữ vai trò là
quyền số. Quyền số có thể là một nhân tố hay nhiều nhân tố.

số giá thành, chỉ số năng xuất lao động vv Ta hãy tiếp tục
nghiên cứu kỹ hơn các loại chỉ số để hiểu cụ thể về nó.
1.Chỉ số phát triển.
1.1.Chỉ số đơn.
Chỉ số đơn là tỷ lệ giữa trị số của hiện tượng kỳ nghiên cứu
với kỳ gốc nào đó.
- Chỉ số đơn giá: là loại chỉ số biểu hiện so sánh giữa hai
mức giá của một mặt hàng ở hai thời gian khác nhau.
i
p =
0
1
p
p

Trong công thức trên: p
1:
là giá ở kỳ nghiên cứu
P
0:
là giá ở kỳ gốc
i
p
phản ánh biến động giá cả của từng mặt hàng trên thị
trường ở kỳ gốc so với kỳ nghiên cứu.
- Chỉ số đơn về khối lượng hàng tiêu thụ: đây là loại chỉ
số biểu hiện quan hệ so sánh khối lượng tiêu thụ của từng mặt
hàng qua thời gian.
i
q =

khi các chỉ số này không thể tính được trực tiếp.
1.2. Chỉ số chung.
Các chỉ số đơn chỉ cho ta so sánh mức biến động từng loại
hàng hoá, chưa cho ta có được một cái nhìn chung về sự biến
động của toàn bộ các loại hàng hoá trên thị trường, do đó ta phải
sử dụng chỉ số chung hay còn gọi là chỉ số tổng hợp.
1.2.1. Chỉ số tổng hợp giá cả.
*. Chỉ số tổng hợp giá cả phản ánh mức biến động giá chung
của một nhóm hàng hoá nào đó ở kỳ nghiên cứu so với kỳ gốc.
Nếu ta dùng phương pháp trung bình giản đơn của các chỉ số
đơn để tính ra chỉ số tổng hợp thì sẽ không hợp lý vì nó chưa
phản ánh được khối lượng hàng hoá trên thị trường, ta cần phải
chọn quyền số để dưa vào công thức chỉ số, từ đó có thể tính được
chỉ số tổng hợp một cách chính xác hơn.
*.Về quyền số của chỉ sổ trên: Nhân tố đóng vai trò làm
quyền số cho từng loại hàng hoá là khối lượng hàng hoá (q). Thời
kỳ của quyền số có thể được xác định ở kỳ gốc, kỳ nghiên cứu
hay kỳ cố định nào đó. Cũng chính vì vậy mà chúng ta có thể có
các loại chỉ số tổng hợp giá cả sau:
- Chỉ số tổng hợp giá cả Laspayres:
Chỉ số này sử dụng khối lượng tiêu thụ hàng hoá q
0
ở kỳ
gốc làm quyền số.

I
L
p
=


Đề Án LTTK Khoa Thống Kê
7 SV Mai Thành Trung

01
qp
-

00
qp
: Phản ánh mức tăng hay giảm doanh thu giả định
ở kỳ nghiên cứu do ảnh hưởng biến động giá bán các mặt hàng
giữa hai kỳ.
- Chỉ số tổng hợp giá cả Paache:
Chỉ số này sử dụng khối lượng tiêu thụ hàng hoá q
1
ở kỳ
nghiên cứu làm quyền số.
I
p
p
=



10
11
qp
qp

Trong công thức trên: I

kỳ nghiên cứu do ảnh hưởng biến động giá bán các mặt hàng giữa
hai kỳ.
-Chỉ số tổng hợp giá cả Fisher:
Đây chính là số bình quân nhân của hai chỉ số tổng hợp giá cả
Laspayres và chỉ số tổng hợp giá cả Paache có hai quyền số khác
nhau, nó kết hợp cả hai quyền số q
0
và q
1
:
Công thức :
I
F
p
=





10
11
00
01
qp
qp
qp
qp

Chỉ số Fisher được vận dụng trong trường hợp có sự chênh lệch

qp
qp
=



00
00
qp
qpi
p

Trong đó i
p
là chỉ số đơn giá từng mặt hàng.
Ta có thể thấy rằng chỉ số tổng hợp giá cả là trung bình cộng gia
quyền của các chỉ số đơn về giá bán từng mặt hàng trong đó p
0
q
0

đóng vai trò là quyền số. Ý nghĩa của quyền số này là phản ánh
doanh thu từng mặt hàng ở kỳ gốc.
Nếu biết tỷ trọng doanh thu từng mặt hàng trong kỳ gốc d
0:

d
0 =



qp
qp
=



p
i
qp
qp
11
11

Theo công thức trên thì chỉ số tổng hợp giá cả là trung bình
điều hoà gia quyền của chỉ số đơn về giá bán của từng mặt hàng
với quyền số là doanh thu từng mặt hàng của kỳ nghiên cứu.
Nếu biết tỷ trọng doanh thu từng mặt hàng kỳ nghiên cứu d
1 d
1=


11
11
qp
qp
Ta có: I
P

q
).
Đề Án LTTK Khoa Thống Kê
9 SV Mai Thành Trung
Chỉ số tổng hợp số lượng cũng có tầm quan trọng rộng lớn.
Khi quan sát sự biến động của tổng sản phẩm trong nước(GDP)
hoặc sản lượng sản phẩm hiện vật (của từng ngành), ta phải dùng
giá so sánh (chọn từ một mốc thời gian nào đó) để loại trừ ảnh
hưởng của biến động giá cả, đó chính là chỉ số tổng hợp số lượng
Laspayres. Chỉ số này cũng dùng để so sánh các đại lượng bằng
tiền khác, khi muốn loại trừ ảnh hưởng của giá cả.
Công thức:
I
q =



pq
pq
0
1

Chỉ số tổng hợp số lượng cũng có thể dung trọng số, tương tự
như đối với chỉ số tổng hợp giá cả. Lúc này chỉ cần có chỉ số đơn
của số lượng ( sản phẩm, hàng hoá ) và trọng số thích hợp là có
thể có chỉ số tổng hợp số lượng.
Trong công thức trên quyền số là nhân tố q : là giá bán tương
ứng của các mặt hàng, nó mang ý nghĩa công ước chung và giữ
vai trò trong việc chuyển các mặt hàng có đơn vị tính khác nhau
về cùng một đơn vị tính. p có thể xác định ở kỳ nghiên cứu, kỳ

pq

I
F
q
=
P
q
L
q
II

Doanh thu pq
I
L
q
=


00
00
qp
qpi
q

I
P
q
=


p

Trong đó: I
p A/B
là chỉ số đơn giá
P
A
là giá của hàng hoá ở thị trường A
Đề Án LTTK Khoa Thống Kê
10 SV Mai Thành Trung
P
B
là giá của hàng hoá ở thị trường B
- Chỉ số lượng tiêu thụ:
I
q A/B =
B
A
q
q

Trong đó : I
q A/B
là chỉ số đơn số lượng tiêu thụ
q
A
là lượng hàng hoá ở thị trường A
q
B
là lượng hàng hoá ở thị trường B

2.2.2. Chỉ số không gian về giá bán.

Công thức tính: I
q A/B =


Qp
Qp
B
A

Trong đó
Q
phản ánh tổng khối lượng tiêu thụ tương ứng từng
mặt hàng
p
A
, p
B
là giá của hàng hoá ở hai thị trường tương ứng Avà B

III. Hệ thống chỉ số.
Trong thực tế có nhiều các nhân tố nguyên nhân khác nhau
cùng ảnh hưởng đến một nhân tố kết quả, khi ta phân tích mối
quan hệ này bằng phương pháp chỉ số ta phải dùng nhiều các chỉ
số nhân tố để phân tích, tức là ta phải dùng một hệ thống chỉ số.
1.Khái niệm và cấu thành của hệ thống chỉ số.
1.1. Khái niệm.
Hệ thống chỉ số là một dãy các chỉ số có liên hệ với nhau hợp
thành một phương trình cân bằng.

bộ bằng tổng các chênh lệch tuyết đối giữa tử số và mẫu số của
các chỉ số nhân tố, đặc điểm này dùng để phân tích biến động
trong mối liên hệ giữa các chỉ tiêu.
3.1.2. Các bước xây dựng hệ thống chỉ số.
- Phân tích chỉ tiêu tổng hợp hay chỉ tiêu nghiên cứu ra các
nhân tố cấu thành.
- Sắp xếp các nhân tố theo thứ tự tính chất lượng giảm dần
và tính số lượng tăng dần.
- Viết hệ thống chỉ số trong đó các chỉ số nhân tố được thiết
lập theo nguyên tắc:
+ Đối với nhân tố chất lượng sử dụng quyền số là nhân tố số
lượng kỳ nghiên cứu.
+ Đối vơi nhân tố số lượng sử dụng quyền số là nhân tố chất
lượng ở kỳ gốc.
*. Ta hãy xét mối quan hệ sau:
Doanh thu =

(
giá cả hàng hoá*số hàng hoá tiêu thụ)
Nhìn chung quan hệ này đựơc biểu hiện bằng:
Giá trị =

(
giá * lượng)
Từ đây ta cũng có:
Chỉ số giá trị = Chỉ số giá* Chỉ số số lượng
Đề Án LTTK Khoa Thống Kê
12 SV Mai Thành Trung
Tuy nhiên, do các cách xây dựng chỉ số giá cả và chỉ số số
lượng khác nhau, nên ta cũng có các hệ thống chỉ số khác nhau:

qp
qp
=


10
11
qp
qp
*


01
11
qp
qp Hai hệ thống trên không cho ta đẳng thức để đảm bảo quan hệ
tích số đã nêu ở phần đầu.
Theo cách của Fisher, ta có đẳng thức, nhưng cách tính toán rất
phức tạp:



00
11
qp
qp
=



00
11
qp
qp
=


10
11
qp
qp
*


00
10
qp
qp Trong công thức này, chỉ số tổng hợp giá cả là của Paache, còn
chỉ số tổng hợp số lượng là của Laspayres. Trong một thời gian
dài trước đây, ở nước ta đã dùng hệ thống chỉ số này để phân tích
kinh tế và sau này cũng còn tiếp tục dùng vì nó có nhiều ưu điểm:
+ Bảo đảm đẳng thức về mặt toán học, thuận tiện cho việc
tính toán trong phân tích.
+ Có thể dùng để tính một chỉ số khi đã biết các chỉ số khác
trong hệ thống.

Tức là :
Chỉ số phát triển = Chỉ số hoàn thành kế hoạch* Chỉ số kế hoạch
Đề Án LTTK Khoa Thống Kê
13 SV Mai Thành Trung
Nếu dùng chỉ số tổng hợp giá cả và chỉ số tổng hợp có trọng số,
khi ghép thành hệ thống chỉ số cần chú ý sử dụng các trọng số
giống nhau để đảm bảo đẳng thức toán học của hệ thống.

3.2. Phương pháp biểu hiện ảnh hưởng biến động riêng biệt.
3.2.1. Đặc điểm của phương pháp:
- Là phương pháp nêu lên ảnh hưởng biến động riêng của mỗi
nhân tố đối với sự biến động của hiện tượng phức tạp, trong đó
các chỉ số phản ánh biến động riêng của mỗi nhân tố được thiết
lập với quyền số kỳ gốc.
- Trong hệ thống chỉ số ngoài chỉ số nhân tố còn có chỉ số liên
hệ biểu hiện ảnh hưởng chung của các nhân tố cùng biến động
hoặc cùng tác động lẫn nhau.
3.2.2. Các bước xây dựng hệ thống chỉ số:
- Phân tích chỉ tiêu tổng hợp ra các nhân tố cấu thành.
- Sắp xếp các nhân tố theo thứ tự tính chất lượng giảm dần,
tính số lượng tăng dần.
- Viết hệ thống chỉ số trong đó mỗi chỉ số nhân tố sử dụng
quyền số kỳ gốc và chỉ số liên hệ- là chỉ số đảm bảo cân bằng của
hệ thống chỉ số.
*. Ví dụ ta hãy phân tích tổng doanh thu theo phương pháp biểu
hiện biến động riêng biệt:
Ta có chỉ số toàn bộ:




.


10
00
qp
qpΔ
=


11
qp
-

00
qp
=

001
)( qpp


+
001
)( pqq 

+


: phản ánh kết quả cùng biến động và cùng tác
động của giá và lượng hàng tiêu thụ ảnh hưởng đến tổng doanh
thu.
Ta thấy trong trường hợp có nhiều nhân tố cấu thành thì ta
không thể xác định chính xác các chỉ số, đây cũng chính là hạn
chế của phương pháp này.

4. Hệ thống chỉ số phân tích biến động của chỉ tiêu bình quân
và tổng lượng biến tiêu thức.
4.1. Hệ thống chỉ số phân tích biến động của chỉ tiêu bình
quân.
Hệ thống chỉ số của số trung bình có tác dụng rất rõ rệt trong
phân tích kinh tế- xã hội. Bất kỳ một sự thay đổi cơ cấu nào trong
tổng thể hiện tượng cũng đều tác dụng ( có lợi hoặc có hại, tuỳ
theo chiều hướng chuyển dịch của cơ cấu) đến các chỉ tiêu phản
ánh các mặt của hiện tượng. Vì vậy cần có hệ thống chỉ số này để
hiểu rõ cơ chế của ảnh hưởng đó và có cách xử lý cần thiết. Ta có
mô hình phân tích như sau:


Xo
X
1





0

10
f
fX
f
fX

Xo
X
1

01
1
X
X
.
0
01
X
X
hay I
(
X
)

=
I
(X) .

,
1
X
là các chỉ tiêu bình quân tương ứng của kỳ gốc và kỳ báo
cáo.
X
1
, X
0
là các lượng biến của tiêu thức tương ứng kỳ báo cáo và
kỳ gốc.

01
X
là chỉ tiêu bình quân kỳ báo cáo giả định các lượng biến
không thay đổi so với kỳ gốc.
f
1
, f
0
là các trọng số tương ứng của các lượng biến ở kỳ báo cáo
và kỳ gốc.
Ý nghĩa:
Đề Án LTTK Khoa Thống Kê
15 SV Mai Thành Trung
(1) là chỉ số cấu thành khả biến: nêu lên biến động của chỉ tiêu
bình quân do ảnh hưởng của các nhân tố cấu thành.
(2) là chỉ số cấu thành cố định: nêu lên biến động của chỉ tiêu
bình quân do ảnh hưởng biến động của lượng biến tiêu thức trong
điều kiện kết cấu tổng thể theo tiêu thức nghiên cứu không đổi.

11
fX
fX
*


00
10
fX
fX

Cách phân tích mô hình này tượng tự như phân tích mô hình tổng
doanh thu ở trên.
- Xét mô hình 2: có thể có các dạng sau:
+ Mô hình do ảnh hưởng của hai nhân tố:



00
11
fX
fX
=



10
11
fX
fX

Từ đó ta có biến động tuyệt đối :
Δ
=


11
fX
-

00
fX
=
(
1
X
-
0
X
)
1

f
+ (
1

f
-
0

f

00
10
fX
fX

(1) (2) (3) (4)
Ta có biến động tuyệt đối:
Δ
=

11
fX
-

00
fX
=
(
1
X
-
01
X
)
1

f
+(
01
X

5. Hệ thống chỉ số phân tích trong trường hợp tổng thể bao gồm
các bộ phận không so sánh được.
Bộ phân không so sánh được là những bộ phận trong tổng thể
chỉ xuất hiện ở kỳ gốc hoặc kỳ nghiên cứu.
Ví dụ ta phân tích cơ cấu doanh thu các mặt hàng trong đó có:
+ Các mặt hàng thuộc bộ phận so sánh được có khối lượng là
q
s
với giá p
s
.
+ Các mặt hàng thuộc bộ phận không so sánh được bao gồm:
Các mặt hàng xuất hiện ở kỳ gốc nhưng mất đi ở kỳ nghiên cứu và
các mặt hàng không xuất hiện ở kỳ gốc nhưng xuất hiện ở kỳ
nghiên cứu.
Ta có mô hình phân tích tổng hợp doanh thu:



00
11
qp
qp
=


10
11
ss
ss

1,
p
0
là gía của các mặt hàng tương ứng ở kỳ nghiên cứu và kỳ
gốc.
q
1,
q
0
là lượng các mặt hàng tương ứng ở kỳ nghiên cứu và kỳ gốc.
p
s1,
p
s0
là gía của các mặt hàng tương ứng ở kỳ nghiên cứu và kỳ
gốc thuộc bộ phận so sánh được.
q
s1,
q
s0
là lượng các mặt hàng tương ứng ở kỳ nghiên cứu và kỳ
gốc thuộc bộ phận so sánh được.



11
11
ss
qp
qp

mặt của đời sống kinh tế xã hội. Ở Việt Nam hiện nay, Nhà nước
ta thông qua các yếu tố cung cầu, giá cả, sức mua của đồng tiền,
tỷ giá hối đoái vv để điều tiết các hoạt động của nền kinh tế, ổn
định gía cả, nhằm đạt hiệu quả cao trong môi trường hợp tác và
cạnh tranh, đồng thời nền kinh tế nước ta là nền kinh tế hàng hoá,
do đó chúng ta phải xem xét và coi trọng yếu tố giá cả cũng như
sự biến động của nó. Chính vì vậy việc tính chỉ số giá tiêu dùng
là một công việc rất cần thiết, chúng ta sẽ tìm hiểu cụ thể về chỉ
số giá tiêu dùng và vấn đề vận dụng phương pháp chỉ số trong
thống kê vào việc tính chỉ số giá tiêu dùng ở Việt Nam hiện nay
như thế nào.

1.Khái niệm và công thức tính chỉ số giá tiêu dùng.
Chỉ số giá tiêu dùng là chỉ số dùng để phản ánh xu hướng và
mức độ biến động của giá cả khi người tiêu dùng nua hàng hoá và
chi trả cácdịch vụ phục vụ trực tiếp cho đời sống hàng ngày.
Giá tiêu dùng được thể hiện thông qua giá bán lẻ hàng hoá ở thị
trường và giá dịch vụ phục vụ sinh hoạt đời sống của dân cư.
Chỉ số giá tiêu dùng được tính từ giá bán lẻ hàng hoá tiêu dùng
và giá dịch vụ phục vụ đời sống dân cư thuộc tất cả các thành
phần kinh tế tham gia bán lẻ hàng hoá và hoạt động kinh doanh
dịch vụ trên thị trường.
Hiện nay ở nước ta đang sử dụng công thức Laspayres để tính giá
tiêu dùng với quyền số và giá kỳ gốc là năm 2000, công thức như
sau:
I
p =




0
là quyền số cố định kỳ gốc: D
0

=


00
00
qp
qp
Để tính chỉ số giá
tiêu dùng, chúng ta phải thực hiện một số các công đoạn rất phức
Đề Án LTTK Khoa Thống Kê
18 SV Mai Thành Trung
tạp, khó khăn, những công việc này sẽ được trình bày trong những
phần tiếp theo sau đây.
2.Lập bảng giá kỳ gốc cố định.
Ở Việt Nam ta hiện nay, giá gốc so sánh của chỉ số giá tiêu dùng
hàng tháng, hàng năm là giá tiêu dùng bình quân năm 2000 và sẽ
cố định trong khoảng 5 năm, thu thập giá bán lẻ bình quân năm
2000 của các mặt hàng đại diện để sử dụng làm làm giá kỳ gốc cố
định hay là giá kỳ gốc. Các tỉnh, thành phố lập bảng giá kỳ gốc và
cố định trong một số năm để làm gốc so sánh cho tất cả các tháng
từ năm 2001, nguồn số liệu để lập bảng giá kỳ gốc là: Báo cáo “
Giá bán lẻ hàng hoá và dịch vụ tiêu dùng” 12 tháng của năm
2000. Đối với các mặt hàng và dịc vụ đã điều tra giá trong các
tháng của năm 2000, tính giá bình quân bằng phương pháp bình
quân số học giản đơn giá của các mặt hàng đó trong tháng. Những
mặt hàng và dịch vụ có trong danh mục nhưng chưa điều tra giá

Đề Án LTTK Khoa Thống Kê
19 SV Mai Thành Trung
4. Chọn danh mục mặt hàng đại diện.
Khi chúng ta tính chỉ số giá tiêu dùng, ta phải tính được giá
tiêu dùng, giá này được thống kê trên cơ sở giá bán lẻ của các mặt
hàng và dịch vụ đại diện mà ta đã chọn. Các Cục Thống kê thuộc
các tỉnh, thành phố căn cứ vào tình hình tiêu dùng và thị hiếu tiêu
dùng thực tế của địa phương, đối chiếu danh mục mặt hàng và
dịch vụ đại diện do Tổng Cục Thống kê đã chọn làm chuẩn, với
các mặt hàng và dịch vụ có quy cách, phẩm chất, nhãn hiệu rõ
ràng làm danh mục hàng hoá và dịch vụ đại diện của địa phương.
Do cơ cấu các mặt hàng trên thị trường luôn có sự thay đổi do
đó hiện nay Tổng cục Thống kê đã tiến hành điều chỉnh lại danh
mục hàng hoá và dịch vụ để loại bỏ các loại hàng hoá và dịch vụ
đã lạc hậu, ít được tiêu dùng trên thị trường, đồng thời bổ sung
các loại hàng hoá và dịch vụ mới xuất hiện trở nên phổ biến được
nhiều người tiêu dùng, và hiên nay danh mục hàng hoá và dịch vụ
đại diện để tính chỉ số giá tiêu dùng bao gồm 396 mặt hàng và
dịch vụ, các mặt hàng đại diện được chia thành 10 nhóm cấp 1, 34
nhóm cấp 2, và 86 nhóm cấp 3, trong đó có 32/86 nhóm cấp 3 đã
được chia thành 75 nhóm cấp cơ sở (cấp 4), các nhóm cấp 3 còn
lại vẫn giữ nguyên như trứơc.
Từ danh mục hàng hoá và dịch vụ đại diện chuẩn của cả nước,
các Cục Thống kê, tiến hành chọn các mặt hàng cụ thể tại địa
phương theo các yêu cầu sau:
Trên cơ sở các nhóm mặt hàng của danh mục chuẩn, xác định
tên mặt hàng và dịch vụ của địa phương với qui cách, phẩm cấp
cụ thể, mô tả rõ ràng, chi tiết, để bảo đảm thu thập được giá các
mặt hàng cùng chất lượng giữa các kỳ điều tra. Cụ thể là:
- Đối với hàng hoá, cần xác định rõ các đặc tính mô tả của mỗi

Hàng hoá được chia thành:
+Hàng lương thực, thực phẩm.
+Hàng phi lương thực, thực phẩm.
Hàng lương thực, thực phẩm được chia thành:
+Hàng lương thực
+Hàng thực phẩm
Hàng lương thực được chia thành 3 phân nhóm:
+Gạo, gạo nếp các loại.
+Lương thực chế biến.
+Lương thực khác.

Trong điều tra chi tiêu hộ gia đình, hàng hoá và dịch vụ được
phân tổ theo hoạt động chi tiêu chính của dân cư, từ đó danh mục
mặt hàng được chia thành 3 cấp:
Cấp 1: gồm những khoản chi phản ánh từng hoạt động chính
cho đời sống hàng ngày: Ăn, Uống và hút, May mặc, Nhà ở, Thiết
bị và đồ dùng gia đình, Y tế và chăm sóc sức khoẻ, Đi lại và bưu
điện, Giáo dục, Văn hoá thể thao và giải trí, Chi phí cho đồ dùng
và dịch vụ khác.
Cấp 2: bao gồm nhiều nhóm thuộc mỗi ngành cấp1, chẳng hạn
như Ngành Uống và hút bao gồm: Đồ uống không cồn, rựu bia,
Thuốc hút.
Cấp 3: bao gồm các nhóm nhỏ hơn thuộc mỗi ngành cấp 2.
Chỉ số giá tiêu dùng đo lường sự thay đổi giá của những hàng
hóa và dịch vụ được các hộ gia đình tiêu dùng, do đó cần thu
thập giá của những hàng hoá và dịch vụ có chất lượng, đặc điểm
tương tự nhau qua các thời kỳ so sánh, chính vì vậy phải quy định
cụ thể chất lượng, các tính chất và đặc điểm của các loại hàng hoá
và dịch vụ. Các mặt hàng đại diện phải đảm bảo được những yêu
Đề Án LTTK Khoa Thống Kê

thôn là khu vực ở các huyện.
-Về lựa chọn điểm điều tra: ta cũng cần lưu ý các điểm sau:
+ Địa điểm điều tra phải là nơi tập trung bán lẻ hàng hoá hoặc
nơi tập trung các dịch vụ phục vụ có tính chất đại chúng.
+ Phải kết hợp nhiều địa điểm điều tra đề phòng khi có một số
địa điểm điều tra không có mặt hàng trong danh mục.
- Về số lượng khu vực, điểm điều tra:
Số lượng các khu vực điểu tra được quy định như sau:
+ Hai thành phố Hà Nội và Hồ Chí Minh chọn 6 khu vực điều
tra.
+ Các tỉnh vùng miền núi, vùng sâu, vùng xa chọn 2 khu vực
điều tra.
+ Các tỉnh thành phố còn lại chọn từ 3-5 khu vực điều tra.
Số điểm điều tra, điều tra viên quy định như sau:
Đề Án LTTK Khoa Thống Kê
22 SV Mai Thành Trung
+ Tuỳ theo tình hình cụ thể và số lượng, loại mặt hàng điều tra,
số người bán hàng tại từng khu vực để xác định số điểm điều tra
cần thiết trong mỗi khu vực.
+ Đối những mặt hàng thường co sự khác nhau về giá, cần chọn
số điểm điều tra nhiều hơn so với những mặt hàng giá tương đối
ổn định.
+ Mỗi điều tra viên phụ trách thu thập giá của khoảng 100 mặt
hàng
+ Mỗi khu vực điều tra thành thịcần 3-4 điều tra viên, mỗi khu
vực điều tra nông thôn cần 2-3 điều tra viên. Cụ thể ta có:
Bảng quy định số lượng khu vực điều tra và điều
tra viên cho từng tỉnh, thành phố.
TT
TỈNH, THÀNH PHỐ

23 SV Mai Thành Trung
Việc điều tra giá tiêu dùng được thực hiện như sau:
Trước tiên căn cứ vào danh mục hàng hoá và dịch vụ đại diện
của tỉnh/thành phố để chọn khu vực, điểm điều tra và phân công
cho từng điều tra viên cần thu thập giá các mặt hàng, dịch vụ cụ
thể.
Tiếp theo tại mỗi điểm điều tra, điều tra viên trực tiếp theo dõi,
quan sát, ghi chép giá hàng hoá hoặc dịch vụ mà khách hàng thực
trả tiền, ghi vào sổ trung gian hoặc ghi trực tiếp vào biểu điều tra.
Sau đó khi điều tra giá cần lưu ý kết hợp quan sát, hỏi cả người
mua và người bán, chú ý các trường hợp người bán hàng hay nói
giá cao, khách hàng mặc cả
Nếu mặt hàng nào tập quán mua bán của địa phương khác với đơn
vị tính qui định trong danh mục, điều tra viên cần qui đổi lại theo
đơn vị chuẩn cho thống nhất.
Cuối ngày điều tra, điều tra viên phải kiểm tra lại số liệu đã
ghi chép trong sổ trung gian để ghi vào biểu điều tra hoặc kiểm
tra lại biểu điều tra đã ghi và nộp cho Cục thống kê địa phương
vào ngày hôm sau.
Thời gian thích hợp để lấy giá là lúc mua bán diễn ra bình
thường nhất trong ngày. Thời gian đến các điểm điều tra cần được
qui định thống nhất giữa các kỳ điều tra.
Trong trường hợp hàng hoá hoặc dịch vụ không phát sinh trong
kỳ điều tra do tính thời vụ hoặc lý do nào khác (như hàng kém
phẩm chất, lỗi mốt, thay đổi mẫu mã ) cần ghi chú rõ để cơ quan
thống kê xử lý.
Nếu kỳ điều tra trùng vào những ngày lễ, tết nhu cầu tiêu dùng
thường tăng cao, giá thu thập được sẽ phản ánh cả sự tăng giá
thuần tuý và sự tăng giá do nhu cầu tiêu dùng tăng mạnh đột biến.
Trong trường hợp này, cần kết hợp quan sát, lấy giá ngày trước và

+ Tính chỉ số giá cho khu vực nông thôn, thành thị và cho cả
tỉnh thành phố.

6.1. Tính giá bình quân từng kỳ điều tra của các mặt hàng
và dịch vụ đại diện theo hai khu vực nông thôn và thành thị.
Đây là giá bình quân không gian giữa các điểm điểu tra của
mỗi mặt hàng và dịch vụ đại diện của mỗi kỳ điều tra, được tổng
hợp từ các biểu điều tra do các điểm gửi về. Ta cũng cần lưu ý
rằng mỗi mặt hàng đại diện có mặt ít nhất tại 3 điểm điều tra, và
gía bình quân được tính theo phương pháp bình quân số học giản
đơn, công thức tính như sau:

=

n
p
n
i
i

1

Trong đó:
là giá bình quân của mặt hàng đại diện i.
P
i
là giá mặt hàngđại diện i tại một điểm điểu tra.
n là số điểm điều tra mặt hàng i.
p
p


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status