đánh giá tài nguyên khí hậu tỉnh lào cai phục vụ phát triển một số cây dược liệu - Pdf 20


1
MỞ ĐẦU
1. LÍ DO CHON ĐỀ TÀI
Tài nguyên khí hậu là nguồn tài nguyên thiên nhiên có tầm quan trọng
đặc biệt đối với sự phát triển kinh tế xã hội của mỗi nước. Tài nguyên khí
hậu cũng là một trong những thành phần chính của môi trường tự nhiên, có
mối quan hệ tương tác với tài nguyên đất, nước và sinh vật. Nghiên cứu điều
kiện khí hậu và đánh giá mức độ thích nghi đối với cây trồng là một hướng
nghiên cứu có ý nghĩa khoa học và thực tiễn cao. M
ột mặt, nó bổ sung lí
luận cho công tác đánh giá nói chung và đánh giá điều kiện tự nhiên - tài
nguyên thiên nhiên nói riêng; mặt khác, kết quả của việc đánh giá tài nguyên
khí hậu còn giúp cho những người làm công tác nghiên cứu và quản lí nhận
thức rõ đặc điểm khí hậu của từng khu vực, mức độ thích nghi với từng loại
cây trồng, từ đó hoạch định chiến lược sử dụng và khai thác lãnh thổ một
cách hợp lí mang lạ
i hiệu quả cao nhất.
Lào Cai là tỉnh miền núi phía Bắc Việt Nam có tổng diện tích tự
nhiên 6360,76km
2
. Điều kiện tự nhiên và tài nguyên thiên nhiên rất đa dạng.
Địa hình đồi núi chiếm phần lớn diện tích lãnh thổ, trong đó có những đỉnh
núi cao đồ sộ nhất ở nước ta. Khí hậu đa dạng có sự phân hoá rõ rệt. Trong
định hướng phát triển kinh tế của tỉnh bên cạnh việc đẩy mạnh công nghiệp,
dịch vụ - du lịch thì nông nghiệp vẫn là ngành kinh tế chính, chiếm hơn 70%
cơ cấu lao độ
ng, 32,82% cơ cấu kinh tế (năm 2007).
Với đặc thù đa dạng về tài nguyên thiên nhiên, đặc biệt là tài nguyên
khí hậu cho phép Lào Cai có thể phát triển đa dạng các loại cây trồng. Trong
đó phát triển những loại cây dược liệu quý hiếm có nguồn gốc cận nhiệt

ng định hướng quy hoạch mở rộng diện tích một số cây
dược liệu trên địa bàn tỉnh Lào Cai.
2.2. Nhiệm vụ
Để đạt được mục tiêu nêu trên, đề tài xác định các nhiệm vụ cơ bản
như sau:
- Tổng quan cơ sở lí luận và xây dựng luận điểm, chỉ tiêu đánh giá.
- Phân tích các đặc điểm khí hậu tỉnh Lào Cai.
- Nghiên cứu đặc điểm sinh thái của các cây dược liệ
u đánh giá. Xác
định các chỉ tiêu và ngưỡng sinh thái cụ thể phù hợp với điều kiện khí hậu.
- Phân loại sinh khí hậu thảm thực vật tự nhiên tỉnh Lào Cai và thể
hiện kết quả phân loại trên bản đồ tỉ lệ 1: 650 000.

3
- Xây dựng hệ thống chỉ tiêu và phương pháp để đánh giá mức độ
thích nghi của các cây dược liêu với điều kiện khí hậu.
- Đề xuất các giải pháp, định hướng phát triển, mở rộng diện tích các
loại cây dược liệu trên địa bàn tỉnh Lào Cai.
3. GIỚI HẠN NGHIÊN CỨU CỦA ĐỀ TÀI
- Phạm vi không gian:
Được giới hạn trong toàn bộ lãnh thổ hành chính tỉnh Lào Cai. Diện
tích tự nhiên là 6360,76km
2
, bao gồm 1 thành phố và 8 huyện. Trong đó có
xét đến phạm vi tiếp giáp: phía Bắc giáp với tỉnh Vân Nam Trung Quốc,
phía Nam giáp tỉnh Yên Bái, phía Đông giáp tỉnh Hà Giang và phía Tây
giáp tỉnh Lai Châu.
- Phạm vi nội dung nghiên cứu:
+ Đối với điều kiện khí hậu, có nhiều chỉ tiêu tác động đến cây trồng
như: chế độ nhiệt, chế độ ẩm, chu kì quang, gió, các hiện tượng thời tiết đặc

hình khí hậu của mình với các thảm thực vật [78].
Năm 1936, W.Koppen đã cải tiến cách phân loại của mình. Ông vẫn
dùng chỉ tiêu nhiệt độ trung bình tháng lạnh nh
ất và lượng mưa năm để phân
chia thế giới thành 5 đới khí hậu chính phù hợp với 5 lớp phủ thực vật chính
trên Trái Đất. Trong các đới khí hậu ông lại dùng chỉ tiêu mùa khô, mùa rét
lạnh cũng như thời gian xuất hiện để chia thành 11 loại khí hậu khác nhau từ
đới khí hậu nhiệt đới mưa nhiều đến đới khí hậu băng tuyết [78]:
A. Đới khí hậu nhiệt đới mưa nhiều

af. Loại hình khí hậu rừng mưa nhiệt đới
AW. Loại hình khí hậu thảo nguyên rừng thưa nhiệt đới
B. Đới khí hậu khô ráo
Bs. Loại hình khí hậu thảo nguyên
Bw. Loại hình khí hậu sa mạc
C. Đới khí hậu ấm áp, mưa nhiều
Cw. Loại hình khí hậu ấm, mùa đông khô
Cs. Loại hình khí hậu ấm, mùa hè khô
Cf. Loại hình khí hậu ấm, ẩm quanh năm

5
D. Đới khí hậu rét lạnh - khí hậu rừng có tuyết
Dw. Loại hình khí hậu rét lạnh, mùa đông khô
Df. Loại hình khí hậu mùa đông lạnh, ẩm quanh năm
E. Đới khí hậu băng tuyết
Et. Loại hình khí hậu đài nguyên
Ef. Loại hình khí hậu kết băng
(Trong đó: s, w, f, t là chỉ thị mức độ khô và rét lạnh)
Năm 1948, nhà khí hậu học Ivanôp đã dùng hệ số ẩm ướt K =r/E
0

thực vật ở đây phụ thuộc
vào chế độ khô, ẩm hơn là chế độ nhiệt (trừ các vùng cao là nơi độ cao địa
hình có tính quyết định quy luật này mới ít rõ rệt). Ông đã đưa ra cách phân
loại về mối quan hệ giữa kiểu thảm thực vật với số tháng khô hạn.
Năm 1945, Gaussen đã tiếp thu những thành tựu của các nhà khoa
học đi trước, tiến hành khái quát hoá những mố
i quan hệ nhiệt ẩm và xây
dựng được phương trình cân bằng nước cho thực vật trên cơ sở của nhiệt ẩm
là nhân tố quan trọng nhất: r = 2t (r là tổng lượng mưa tháng tính bằng mm,
t là nhiệt độ trung bình tháng tính bằng
0
C). Hình 1: Biểu đồ khí hậu của Walter và Lieth
Theo ông chỉ số khô sinh khí hậu (K) được xác
định như sau:
+ Tháng khô là tháng có lượng mưa nhỏ hơn hai lần nhiệt độ trung
bình tháng (r < 2t).

7
+ Tháng hạn là tháng có lượng mưa nhỏ hơn nhiệt độ trung bình
tháng (r < t).
+ Tháng kiệt là tháng hầu như không có mưa (r ≈ 0).
Chỉ số khô (K) của Gaussen được nhiều nhà thực vật công nhận là tốt.
Năm 1961, Walter và Lieth đã dùng để giải thích, mô tả sự hình thành tự
nhiên của thực vật trên thế giới. Kết quả
được thể hiện bằng biểu đồ khí hậu
với hai yếu tố chính
được thể hiện là nhiệt độ và lượng mưa (Hình 1). Năm

phải kể đến là: Khí hậu nông nghiệp của Phạm Ngọc Toàn, Phan Tất Đắc
(1967); Khí hậu và phát triển kinh tế của D.H.K Lee (1973); Đánh giá và sử
dụng tài nguyên khí hậu trong việc xây dựng chiến l
ược phát triển kinh tế
của Nguyễn Đức Ngữ, Nguyễn Trọng Hiệu (1985); Sinh khí hậu ứng dụng
trong nông nghiệp ở Việt Nam của Lâm Công Định (1992); Đánh giá khai
thác và bảo vệ tài nguyên khí hậu và tài nguyên nước ở Việt Nam của
Nguyễn Viết Phổ, Vũ Văn Tuấn (1993); Khí hậu và tài nguyên khí hậu Việt
Nam của Nguyễn Đức Ngữ, Nguyễn Trọng Hiệu (2004).
Ngoài ra, vấn đề nghiên cứu,
đánh giá tài nguyên khí hậu Việt Nam
còn được đề cập đến trong một số giáo trình về tự nhiên Việt Nam, kinh tế
sinh thái, cơ sở sinh khí hậu của các tác giả: Nguyễn Đức Chính, Vũ Tự Lập,
Lê Bá Thảo, Nguyễn Pháp, Nguyễn Khanh Vân.
Mặt khác, tài nguyên khí hậu rất đa dạng và phức tạp nên việc nghiên
cứu và đánh giá tài nguyên khí hậu cho một khu vực hẹp (ví dụ cấp tỉnh)
mang lại ý nghĩa thực tiễn cao. Tuy nhiên, các công trình nghiên c
ứu tại
những khu vực hẹp còn ít và nhiều hạn chế. Gần đây có một số công trình
tiêu biểu như: Đánh giá điều kiện khí hậu vùng Bắc Trung Bộ phục vụ sản
xuất nông lâm nghiệp và du lịch của Nguyễn Thị Hiền, Nguyễn Khanh Vân;
Phân tích đánh giá diễn biến mùa nhiệt ở vùng núi phía Bắc và đồng bằng
Bắc Bộ của Mai Trọng Thông; Nghiên cứu đặc đi
ểm sinh khí hậu phục vụ
cho việc bố trí một số cây trồng thích nghi tỉnh Nghệ An của Nguyễn Văn
Đông; Đánh giá tiềm năng ẩn ở Thanh Hoá của Đặng Ngọc San.
Để đánh giá mức độ thích nghi tài nguyên khí hậu đối với các cây dược
liệu tác giả
đã tổng quan được các tài liệu liên quan đến các cây dược liệu.
Tiêu biểu trong số

là một hệ thống. Các hệ thống thường bao gồm nhiều thành phần, giữa các
thành phần với nhau đều có mối quan hệ qua lại mật thiết. Đồng thời, giữa
hệ thống và môi trường bên ngoài cũng có sự thống nhất chặt chẽ [41].
Quan điểm hệ thống được coi là quan điểm bao trùm khi nghiên cứu, đánh
giá một vấn đề của địa lí.
Vận dụng quan điểm hệ thống, đề tài xem xét các nhân tố sinh thái ảnh
hưởng đến cây trồng, phân tích đặc đ
iểm khí hậu, đánh giá chúng trong mối
quan hệ thống nhất của hệ thống. Mô tả cấu trúc hình thái, phân tích được
chức năng của các hợp phần, các nhân tố tạo nên cấu trúc đứng, cấu trúc
ngang, cấu trúc chức năng của các địa tổng thể. Ngoài ra, khi đánh giá mức

10
độ thích nghi sinh thái thì cây trồng không chỉ phụ thuộc một nhân tố mà phụ
thuộc vào hệ thống các nhân tố trong quá trình sinh trưởng phát triển. Các
nhân tố đó có quan hệ tác động qua lại và biến đổi không ngừng. Đề tài chỉ
giới hạn đánh giá đối với nhân tố khí hậu, được xem xét là nhân tố chủ đạo
ảnh hưởng đến cây trồng và phương pháp đánh giá là đánh giá tổng hợp.
5.1.2. Quan điểm tổng hợ
p
Quan điểm tổng hợp khi nghiên cứu địa lí tự nhiên là việc nghiên cứu
các đối tượng trong tổng hoà các mối quan hệ giữa các đối tượng với nhau.
Các đối tượng địa lí có mối quan hệ chặt chẽ và tạo thành một thể thống
nhất. Do vậy, khi nghiên cứu không thể tách rời các đối tượng nghiên cứu ra
khỏi mối quan hệ với các đối tượng khác.
Khí hậu là một thành phần không thể thi
ếu của một thể tổng hợp địa lí
tự nhiên, nó chịu tác động của nhiều thành phần khác nhau và cũng tác động
trở lại đối với các thành phần đó. Mặt khác, đối với cây trồng nói chung và
đối với cây dược liệu nói riêng thì chúng đồng thời cũng chịu ảnh hưởng của

tiến hành đánh giá mức độ thích nghi của mỗi loại cây ta phải gắn với một
lãnh thổ
cụ thể và xem xét mối quan hệ với lãnh thổ xung quanh.
5.2. Phương pháp nghiên cứu
5.2.1. Phương pháp phân tích, xử lí số liệu thống kê
Để thực hiện đề tài này, tác giả tiến hành thu thập các tài liệu, số liệu
liên quan đến tự nhiên của tỉnh Lào Cai (khí hậu, thuỷ văn, thổ nhưỡng, địa
hình, sinh vật); các số liệu thống kê kinh tế - xã hội (dân cư, các ngành kinh
tế, diện tích, sản lượng của từng loại cây trồ
ng…); các đặc điểm sinh thái,
sinh lí của các cây dược liệu đánh giá. Các số liệu được xử lí bằng cách sắp
xếp, hệ thống hoá, thành lập các bảng biểu, tính toán các trị số trung bình, trị
số cực trị, trị số thích nghi.
5.2.1. Phương pháp bản đồ, biểu đồ
Đây là phương pháp đặc trưng khi nghiên cứu các vấn đề địa lí. Trong
đề tài này, một trong những nội dung quan trọng là đánh giá mức độ thích
nghi của một số cây dược liệu trên bản đồ đánh giá thành phần và bản đồ
đánh giá tổng hợp. Dựa trên bản đồ địa hình tỉnh Lào Cai, tác giả đã xây
dựng các bản đồ nhiệt độ trung bình năm, bản đồ lượng mưa trung bình năm

12
và bản đồ sinh khí hậu. Kết quả cuối cùng là đưa ra bản đồ đánh giá tổng
hợp. Bản
đồ được coi là phương tiện để thể hiện nội dung và kết quả nghiên
cứu đồng thời vừa là nguồn thông tin để đánh giá mức độ thích nghi của nó
đối với một số cây trồng.
Ngoài ra, để thể hiện trực quan và rõ nhất đặc điểm khí hậu của từng
trạm khí tượng, tác giả còn thành lập các biểu đồ sinh khí hậu theo phương
pháp Gaussen - Walter, biểu đồ đánh giá thích nghi, biểu đồ phân hạ
ng thích

những tư liệu thực tế quan trọng nhằm minh hoạ, chỉnh lí và bổ sung cho
những nghiên cứu lí thuyết.
5.2.5. Phương pháp đánh giá nhanh nông thôn
Cơ sở của phương pháp này là kết hợ
p làm việc theo nhóm gồm các
nhà nghiên cứu, nhà quản lí và người dân địa phương thực hiện trực tiếp tại
các vùng nông thôn nhằm thu thập nhanh chóng các thông tin, phân tích
nhanh và đề ra các giải pháp khả thi [58]. Kết hợp với phương pháp thực địa,
trong thời gian có mặt tại địa bàn nghiên cứu tác giả đã tiến hành tiếp xúc,
phỏng vấn nhanh những nông dân có kinh nghiệm, phỏng vấn những người
đứng đầu ở các thôn bản. Đối với địa bàn miề
n núi và chủ yếu là dân tộc ít
người sinh sống thì phương pháp điều tra nhanh nông thôn mang hiệu quả
khá cao, nó bổ sung và cụ thể hoá các thông tin nhận được.
5.2.6. Phương pháp ứng dụng công nghệ thông tin
Đây là phương pháp được sử dụng và mang lại hiệu quả cao. Tất cả
các bản đồ trong đề tài đều được xây dựng bằng hệ thống thông tin địa lí
(GIS) với phần mềm Mapinfo Professional 9.0. Đặc biệt,
đề tài đã bước đầu
sử dụng mô hình tích hợp ALES - GIS để đánh giá. Các biểu đồ sinh khí hậu
được vẽ bằng phần mềm Microsoft Exel. Ngoài ra, những thông tin từ mạng
Internet thường xuyên được cập nhật, sát với nội dung nghiên cứu là những
nguồn tư liệu tham khảo rất có giá trị.
6
. LUẬN ĐIỂM BẢO VỆ
- Luận điểm 1: Lào Cai là một tỉnh miền núi, điều kiện tự nhiên rất
đa dạng, phong phú và có sự phân hoá theo đai cao rõ rệt. Trong đó, thể hiện
rõ nhất ở sự đa dạng, phức tạp của điều kiện khí hậu. Khí hậu được đặc
trưng bởi đặc điểm sinh khí hậu với 12 loại sinh khí hậu, của hơn 31 khoanh


CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA VIỆC ĐÁNH GIÁ
TÀI NGUYÊN KHÍ HẬU TỈNH LÀO CAI PHỤC VỤ
PHÁT TRIỂN MỘT SỐ CÂY DƯỢC LIỆU
1. CƠ SỞ LÍ LUẬN
1.1. Một số khái niệm cơ bản
1.1.1. Khí hậu và khí hậu ứng dụng
Khí hậu là nhân tố tự nhiên có vai trò rất quan trọng đối với thế giới sinh
vật, đời sống, sản xuất và các lĩnh vực khác của con người.
Theo W.Koppen: “Khí hậu là trạng thái thời tiết trung bình và quá
trình thời tiết nói chung ở một nơi”. Còn theo nhà khí hậu học I.Hann: “Khí
hậu là toàn bộ các hiện tượng đặc trưng cho trạng thái trung bình của khí
quyể
n ở một địa điểm nào đó trên Trái Đất”[61].
Trong cuốn “Nguyên lý khí hậu học” L.S.Béc - Gơ định nghĩa khí hậu:
“Trạng thái trung bình của hiện tượng khí tượng có thể ảnh hưởng đến thực
vật, động vật, con người và các loại hình thổ nhưỡng; nên khí hậu là trạng
thái trung bình của hiện tượng khí tượng”[57].
Khoa học kỹ thuật ngày càng phát triển thì việc nhận thức về mối
quan hệ gi
ữa khí hậu và các lĩnh vực khác của đời sống sản xuất và sinh
hoạt ngày càng cao. Đặc biệt, với sự ra đời của các công cụ quan trắc, mạng
lưới đo đạc thời tiết và khí hậu đã được tổ chức ngày càng hoàn thiện ở
nhiều nơi trên thế giới cũng như ở Việt Nam. Các kết quả nghiên cứu khí
hậu được tiến lên một bước mới, từ
nghiên cứu định tính sang định lượng và
đã được ứng dụng rộng rãi trong thực tiễn đời sống, sản xuất, các hoạt động
kinh tế - xã hội của con người.
Khí hậu ứng dụng là một ngành khoa học nghiên cứu khí hậu trong
mối quan hệ với một đối tượng cụ thể, làm rõ tác động tích cực và tiêu cực


thái học. Nó nghiên cứu những tác động, ảnh hưởng của khí hậu, thời tiết
lên sự tồn tại và phát triển của giới sinh vật trong hệ sinh thái [78].
Khí hậu ứng dụng
Khí
hậu
lâm
nghiệp

Khí
hậu
nông
nghiệp

Khí
hậu
y
học

Khí
hậu
du
lịch
Khí
hậu
x
ây
dựng
Khí
hậu
giao

ơ thể con người trong các hoạt động của sản xuất, lao động dân
sinh, du lịch, nghỉ dưỡng, phục hồi sức khoẻ, trị bệnh…
Tuy nhiên, trên quan điểm sinh thái của thảm thực vật, trong sự hình
thành các kiểu thảm thực vật, nhân tố khí hậu giữ vai trò chủ đạo. Trong mỗi
điều kiện khí hậu nhất định có một kiểu thảm thực vật hoặc một nhóm cây
trồ
ng nhất định tồn tại và phát triển. Hơn nữa, trong giới sinh vật, thảm thực
vật chịu tác động của khí hậu một cách thụ động hơn cả. Người ta coi lớp phủ
thực vật như là vật chỉ thị của điều kiện khí hậu. Chính vì vậy, theo nghĩa hẹp
thì sinh khí hậu chính là khí hậu thảm thực vật tự nhiên.
1.1.3. Khái niệm về đánh giá tài nguyên khí hậu

18
Đánh giá được hiểu là việc xác định giá trị, tiềm năng (phong phú -
không phong phú, thuận lợi - không thuận lợi, thích nghi - không thích nghi,
tốt - xấu, giàu - nghèo,.v.v ) của một đối tượng nào đấy đối với một số yêu
cầu nhất định [41]. Về mặt nội dung, hoạt động đánh giá có thể chia làm hai
nhóm chính: (1) Đánh giá các điều kiện tự nhiên và tài nguyên thiên nhiên,
(2) Đánh giá các điều kiện kinh tế - xã hội.
Trong đó, đánh giá
điều kiện tự nhiên và tài nguyên thiên nhiên có
thể có nhiều hình thức khác nhau: đánh giá các yếu tố tự nhiên và tài nguyên
thiên nhiên thành phần (tài nguyên đất, tài nguyên nước, tài nguyên khí hậu,
tài nguyên sinh vật, tài nguyên khoáng sản); hoặc đánh giá tổng hợp môi
trường tự nhiên (đánh giá cảnh quan).
Như vậy, đánh giá tài nguyên khí hậu là một bộ phận của công tác
đánh giá môi trường tự nhiên mà bản chất chính là việc xem xét, xác định và
phân loại giá trị (mức độ thuận lợi, thích nghi, phong phú) của loạ
i tài
nguyên này trên mỗi vùng lãnh thổ đối với một số yêu cầu kinh tế - xã hội
Với mục tiêu đã được xác định, các phương pháp đánh giá tài nguyên
khí hậu phải tuân thủ theo các nguyên tắc cơ bản sau:
- Phải đảm bảo tính khoa học của việc đánh giá thông qua việc xác
định giá trị và quy luật phân hoá tài nguyên khí hậu.
- Coi các thông tin khí hậu đúc kết được từ số liệu quan trắc từ các
trạm khí tượng là cơ sở chủ yếu của việc đánh giá tài nguyên khí hậu.
- Đảm bảo mối liên hệ
chặt chẽ và nhất quán giữa giá trị, quy luật
phân hoá tài nguyên khí hậu và các yêu cầu của hoạt động sản xuất, đời
sống con người thông qua kết quả của việc đánh giá.
H
H
ì
ì
n
n
h
h3
3

n
n
h

đ
á
á
n
n
h
hg
g
i
i
á
át
t
à
à
i
i
(theo Nguyễn Cao Huần)
(1) Mục tiêu, nhiệm vụ
(2a) Xác định
nhu cầu
(2b) Thống kê giá trị
tài nguyên khí hậu
(3) Lựa chọn chỉ tiêu
(4) Đánh
g
iá thành phầ
n
(5) Đánh
g
iá chun
g
(
6
)
Đánh
g
iá tổn
g
h

p
(7) Kiểm chứn
g
thực tế

sống. Khi cường độ tác động tới ngưỡng cao nh
ất hoặc xuống quá ngưỡng
thấp nhất với khả năng chịu đựng của cơ thể thì sinh vật không thể tồn tại
được [62].

Opt: cực thuận Min: cực tiểu Max: cực đại
Hình 4: So sánh giới hạn sinh thái của sinh vật chịu nhiệt hẹp (I và III)
và sinh vật chịu nhiệt rộng (II) - theo Ruttnel, 195321
Như vậy, giới hạn sinh thái là giới hạn chịu đựng của cơ thể đối với
một nhân tố sinh thái (nhiệt độ, độ ẩm, lượng mưa,…). Mức độ tác động có
lợi nhất của nhân tố đó với cơ thể là điểm cực thuận. Càng lệch xa vùng này
thì càng bất lợi cho cơ thể. Mỗi loài có một giới hạn sinh thái và điểm cự
c
thuận khác nhau. Có loài có giới hạn sinh thái rộng nhưng cũng có loài có
giới hạn sinh thái hẹp (Hình 4).

Các cây dược liệu đa phần là loài có giới hạn sinh thái hẹp, kén chọn
về điều kiện sinh trưởng phát triển. Một số loài lại phụ thuộc vào môi trường

Trong quá trình sinh trưởng, cây chịu ảnh hưởng nhiều của chế độ
chiếu sáng tự nhiên đó là chu kì ánh sáng. Chu kì ánh sáng có ảnh hưởng rất
lớn đến chu kì phát dục của cây trồng. Tuỳ theo yêu cầu của cây đối với thời
gian chiếu sáng ta có thể phân bi
ệt cây dài ngày và cây ngắn ngày. Thời gian
chiếu sáng càng dài, cây dài ngày phát triển càng nhanh, ra hoa càng sớm và
ngược lại đối với cây ngắn ngày.
Tóm lại, ánh sáng Mặt Trời có ảnh hưởng rất lớn đến quá trình sinh
trưởng và phát triển của cây trồng. Muốn cây trồng đạt năng suất cao và
vững chắc thì cần phải nắm được nhu cầu ánh sáng của từng thời kì sinh
trưởng và phát triển cụ thể.
b) Nhiệt độ
Nhiệt độ là m
ột trong những nhân tố khí hậu quan trọng nhất ảnh
hưởng đến sự sinh trưởng và phát triển của cây trồng. Đối với cây trồng cần
xem xét điều kiện nhiệt độ
đất và điều kiện nhiệt độ không khí.
Nhiệt độ đất có ảnh hưởng trực tiếp đến hoạt động của bộ rễ. Khi
nhiệt độ hạ thấp làm cho áp suất t
ăng, rễ hút chất khoáng và nước khó khăn
không đủ thoả mãn cho cây gây nên hiện tượng hạn sinh lí. Ngoài ra, nhiệt
độ quá thấp còn ảnh hưởng đến quá trình hô hấp, quá trình chuyển hoá năng
lượng của cây.
Nhiệt độ không khí ảnh hưởng lớn đến quá trình quang hợp của cây.
Cây muốn quang hợp được tốt cần có một nhiệt độ thích nghi. Nếu nhiệt độ
thấp, khả năng lưu thông vận chuyển nước và dinh dưỡng diễ
n ra kém, cây
kém phát triển. Ngược lại, nhiệt độ quá cao thời gian sinh trưởng của cây
trồng sẽ bị rút ngắn lại, quá trình phát dục quá sớm sẽ làm giảm năng suất
và chất lượng của cây trồng.

gian mưa kéo dài, kéo theo nhiệt độ và ánh sáng Mặt Trời kém sẽ kìm hãm
sự sinh trưởng của cây thời vụ bị chậm lại [68].
Như vậy, lượng mưa, cường độ mưa, sự phân bố lượng mưa theo thời
gian ảnh hưởng rất lớn đến đời sống cây trồng.
d) Các yếu tố khác

24
Ngoài ba yếu tố cơ bản là ánh sáng, nhiệt độ và lượng mưa có ảnh
hưởng lớn tới sự sinh trưởng phát triển của cây trồng, các yếu tố khí tượng
khác như độ ẩm không khí, gió, bão, các hiện tượng thời tiết đặc biệt (gió
phơn, sương muối, sương mù, mưa đá, giông…) cũng ảnh hưởng rất lớn đến
cây trồng.
Độ ẩm không khí ảnh hưởng đến kh
ả năng cân bằng thoát hơi nước
của cây. Độ ẩm thấp, cường độ thoát hơi nước tăng cây sẽ bị héo. Độ ẩm
tăng, cường độ thoát hơi nước giảm, nhưng nếu độ ẩm tăng quá mức thì thời
gian ra hoa, kết quả của cây chậm lại và bất lợi cho sự thụ phấn, giảm năng
suất cây trồng.
Hàm lượng, thành phần các chất khí có trong không khí có tác d
ụng
trực tiếp và quan trọng đối với cây trồng. CO
2
và O
2
là hai chất khí quan
trọng ảnh hưởng đến quá trình quang hợp, tạo ra các hợp chất hữu cơ nuôi
sống cây, cũng như quá trình hô hấp, cung cấp năng lượng cho các hoạt
động sống của cây trồng. Các chất khí khác như N, NH
3
,

2
. Phía Bắc giáp với tỉnh Vân Nam (Trung Quốc), phía
Nam giáp tỉnh Yên Bái, phía Đông giáp tỉnh Hà Giang, phía Tây giáp tỉnh
Lai Châu. Lào Cai có một thành phố và 8 huyện là Bát Xát, Bảo Thắng, Sa
Pa, Văn Bàn, Bảo Yên, Mường Khương, Bắc Hà và Si Ma Cai (Bảng 1).
Bảng 1: Các đơn vị hành chính tỉnh Lào Cai năm 2007
STT Tên đơn vị hành chính
Diện tích
(Km
2
)
Dân số
(nghìn người)
Mật độ
(người /km
2
)
1 TP. Lào Cai 229,25 90,96 397
2 Huyện Bát Xát 1056,67 65,04 62
3 Huyện Bảo Thắng 680,09 105,03 154
4 Huyện Sa Pa 681,36 44,539 65
5 Huyện Văn Bàn 1422,06 76,33 54
6 Huyện Bảo Yên 824,83 76,08 92
7 Huyện Mường Khương 553,76 49,44 89
8 Huyện Bắc Hà 678,72 50,98 75
9 Huyện Si Ma Cai 234,02 27,72 118

Tổng 6360,76 586,120 92
(Nguồn : Niên giám thống kê tỉnh Lào Cai, 2007)
Điều kiện tự nhiên tỉnh Lào Cai có nhiều nét đặc sắc. Địa hình có sự


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status