ĐẶT VẤN ĐỀ
Bệnh sốt Dengue/ sốt xuất huyết Dengue là một bệnh nhiễm trùng cấp
tính do virus Dengue gây ra. Bệnh lây qua trung gian là muỗi Aedes aegypti
và lưu hành trên 100 nước thuộc các khu vực có khí hậu nhiệt đới và cận nhiệt
đới, vùng Đông Nam Á và Tây Thái Bình Dương. Có khoảng 2,5 tỷ người
sống trong vùng có nguy cơ [8], [62]. Đại dịch sốt Dengue/ sốt xuất huyết
Dengue bắt đầu từ những năm cuối thế kỷ 20 với số mắc hàng năm khoảng 10
triệu người. Tỷ lệ chết trung bình khoảng 5% với khoảng 240.000 trường hợp
mỗi năm. Tại Đại hội đồng Tổ chức Y tế Thế giới 5/1998 Tổng Giám Đốc
G.H. Brundtland đã tuyên bố: “Thế kỷ 21 là thế kỷ phòng, chống bệnh sốt
xuất huyết”[7].
Việt Nam có số mắc và chết do sốt Dengue/ sốt xuất huyết Dengue gia
tăng kể từ năm 1994 trở lại đây là bệnh nguy hiểm có thể gây tử vong nếu
không được phát hiện sớm và điều trị đúng. Bệnh đã và đang trở thành vấn đề
y tế nghiêm trọng, hiện nay bệnh sốt xuất huyết Dengue chưa có thuốc điều trị
đặc hiệu cũng như vắc xin chủng ngừa. Vì vậy, diệt muỗi truyền bệnh vẫn là
biện pháp chủ yếu trong phòng và chống bệnh sốt Dengue/ sốt xuất huyết
Dengue [52],[6]. Phòng và chống bệnh sốt Dengue/ sốt xuất huyết Dengue
không thể thực hiện được nếu không có sự tham gia hợp tác của cộng đồng.
Có nhiều mô hình để huy động cộng đồng tham gia công tác phòng, chống sốt
xuất huyết đã có những thành công nhất định, trong đó có mô hình cộng tác
viên hàng tháng đến từng hộ dân thực hiện diệt lăng quăng và hướng dẫn các
biện pháp phòng chống. Mô hình kiểm soát lăng quăng bằng cách huy động
trưởng ấp, cộng tác viên, y tế ấp, đoàn thể, học sinh… tham gia, mỗi chiến
dịch thực hiện 02 ngày. Nhưng đến nay bệnh sốt xuất huyết vẫn tồn tại và có
chiều hướng gia tăng [4],[33].
1
Tại tỉnh Long An bệnh sốt xuất huyết được coi là một trong những vấn
đề chăm sóc sức khỏe, bệnh thường xuyên đe dọa đến trẻ em trong tỉnh. Hàng
năm, ngành Y tế và các ban ngành đã thực hiện một số mô hình và đầu tư khá
nhiều nhân lực, vật lực cho hoạt động phòng, chống sốt xuất huyết nhưng kết
có kháng nguyên khác với chủng trên được gọi là DEN-2 và được coi là các
chủng mẫu (DEN-1 Hawaii; DEN-2 New Guinea). Sau đó hai typ huyết thanh
khác là DEN-3 và DEN-4 lần lượt được W.McD Hammon tìm ra từ bệnh
nhân mắc sốt xuất huyết ở Manila- Philippines, 1956 [14],[52].
Trước đây người ta đã ghi nhận dịch Dengue truyền do muỗi nhưng phải
tới 1903 Graham mới đưa ra được dẫn chứng cụ thể và đến 1906 Ban Groft đã
chứng minh véc tơ truyền bệnh Dengue là muỗi Aedes aegypti [14]. Vụ dịch đầu
tiên được khẳng định là sốt xuất huyết Dengue được ghi nhận tại Philippines vào
năm 1953-1954. Từ đó nhiều vụ dịch sốt xuất huyết Dengue lớn đã xãy ra ở hầu
hết các nước Đông Nam Á với tỷ lệ tử vong cao. Qua 20 năm, tỷ lệ mắc và sự
phân bố về mặt địa lý của SXHD tăng rõ rệt, và hiện nay, ở một số nước Đông
Nam Á, các vụ dịch hầu như năm nào cũng xãy ra [23],[34].
1.2. TÌNH HÌNH SỐT DENGUE/ SỐT XUẤT HUYẾT DENGUE TRÊN
THẾ GIỚI
Dịch Dengue đang là vấn đề lây nhiễm ở các nước nhiệt đới và á nhiệt
đới và hiện nay là một bệnh nhiễm Arbovirus toàn cầu. Mỗi năm có chừng
3
100 triệu ca mắc bệnh SD, 250.000 ca SXHD và 25.000 ca tử vong. Nhiễm
virus Dengue đã được báo cáo trên 100 nước và 2500 triêu người (2/5 dân số
thế giới) đang sống trong vùng dịch Dengue (1). Bệnh đang có chiều hướng
gia tăng theo với khách du lịch (2). Dengue là mối quan tâm cho sức khoẻ
cộng đồng của cả thế giới bởi vì sự phân bố virus theo địa lý, các véctơ lây
truyền, tính chu kỳ của nhiều chủng huyết thanh, và các đợt bùng phát dịch ở
những vùng mới.
Virus Dengue thuộc họ Flaviviridae và do muỗi Aedes lây truyền. Virus
này thuộc nhóm virus RNA có vỏ lipid. Sự nhiễm virus có pha trong máu kéo
dài 4-8 ngày và hầu hết nhiễm trùng không có triệu chứng. Mức độ RNA
virus thay đổi từ 10
5.5
đến 10
Chính vì vậy mà dịch Dengue xãy ra đã không ngừng tăng lên trong hầu hết
các nước vùng nhiệt đới.
Dịch SXH đầu tiên ở Singapore bắt đầu từ năm 1901, sự bùng nổ năm
1960 làm 70 ca nhập viện. Kể từ năm 1960, các vụ dịch lớn xảy ra hằng năm
từ 1961-1964 và 1966-1968. Tỷ lệ mắc năm 1969 là 42,2/100.000 và 3-
10/100.000 dân năm 1969-1972. Các vụ dich tiếp theo năm 1986, 1989, 1992,
1998, và 2004 với tỷ lệ mắc tăng gần 10 lần từ 16,7/100.000 dân năm 1987
đến 223,1/100.000 dân năm 2004. Tần suất có vẻ theo chu kỳ 6 năm với đỉnh
cao là 1992, 1998, và 2004 [51],[65].
Singapore là nước phát triển công nghiệp hoá nằm trong vùng dịch nên
đã sử dụng test phát hiện Dengue để sàng lọc. Tỷ lệ huyết thanh nhiễm
Dengue ở S là 45% ở 4 triệu dân. Năm 2005, có 14.209 ca mắc có biểu hiện
triệu chứng, trong đó thanh thiếu niên và người trưởng thành là 80% [51],
[60].
5
Hình 1.1. Bản đồ phân bố Virus Dengue và véc tơ truyền bệnh năm 2008
(Nguồn: www.treehugger.com/world-dengue-virus-distirb. Map world distribution
of dengue viruses and their mosquito vector, Aedes aegypti [76])
Nhiễm virus Dengue có thể không có triệu chứng những có thể dẫn đến
sốt không rõ, SD và SXHD hoặc hội chứng sốc Dengue. Nguy cơ mắc bệnh
có thể gia tăng ở người có kháng thể kháng Dengue, hoặc chủ động hoặc thụ
động, mặc dầu sốc xuất huyết Dengue/SXHD có thể gây tử vong ở lần nhiễm
đầu tiên. Một tỷ lệ nhỏ bệnh nhân vẫn tiếp tục tiến triển sang sốc xuất huyết
Dengue với đông máu lòng mạch mặc dầu đã được điều trị tích cực tức thì
[2],[57].
1.3. TÌNH HÌNH SỐT DENGUE VÀ SỐT XUẤT HUYẾT DENGUE Ở
VIỆT NAM
Sốt Dengue và sốt xuất huyết Dengue được du nhập vào Việt Nam từ
những năm 1960 cho đến nay, trở thành một bệnh dịch lưu hành ở nước ta, là
vấn đề y tế quan trọng ở Việt Nam từ hơn 3 thập niên qua số mắc và số chết
bằng huyết thanh dương tính trong khi 32,5% không có lâm sàng nhưng có
7
huyết thanh biểu hiện nhiễm virus (OR: 1,981 và p = 0,025, 95%CI: 1,079-
3,635).
Như vậy SD chịu trách nhiệm về sốt không rõ nguyên nhân ở các trạm
y tế tại tỉnh Bình Thuận. Nhằm xác định các yếu tố nguy cơ người ta tiến
hành chẩn đoán huyết thanh trong hai trường tiểu học và dùng bảng câu hỏi
đánh giá cũng như quan sát ở nhà ở. Mẫu huyết thanh lấy gồm 961 trẻ và thử
tìm kháng thể kháng virus Dengue IgG bằng kỹ thuật miễn dịch ELISA. Tần
suất kháng thể IgG là 65,7% trong quần thể nhân dân tỉnh Bình Thuận tăng
dần từ 53% đến 88,2%. Tỷ lệ mắc mới hằng năm ở lần nhiễm đầu tiên là
11,7% bằng cách đánh giá bởi phương trình hồi quy nhị tuyến của tần suất
huyết thanh bởi tuổi. Tần suất IgG cao có ý nghĩa ở trẻ em (RR: 1,467;
95%CI: 1,245-1,730), ở lợn (RR: 1,228; 95%CI: 1,002-1,504), thú vật nuôi
(RR: 1,238; 95%CI: 1,042-1,470). Nghiên cứu ở các trường tiểu học hai xã
Hàm Hiệp và Hàm Kiếm gồm các trẻ từ 7 đến 14 tuổi gồm 631 trẻ, có tỷ lệ
IgG (+) là 65,7%; trong đó trẻ 7 tuổi là 53% và trẻ 13 tuổi là 88%. Tỷ lệ
nhiễm virus không khác biệt giữa trẻ nam và nữ. Như vậy, dịch SD ở Việt
Nam bền vững với tỷ lệ mới mắc hằng năm cao. Lây truyền xảy ra do thú vật
nuôi có vai trò quan trọng trong sức khoẻ cộng đồng [59].
Miền Nam, dịch SXHD đầu tiên xãy ra vào năm 1960 với 60 em tử
vong, kế tiếp dịch bùng phát ở Cái Bè, Châu Đốc, Hồng Ngự, Tân Châu, Cao
Lãnh vào năm 1963 với 331 bệnh nhi nhập viện và 116 trường hợp tử vong
[3] và đến năm 1998 bùng nổ vụ dịch lớn trong toàn quốc. Theo báo cáo của
Bộ Y tế, bệnh sốt xuất huyết là nguyên nhân hàng đầu dẫn đến nhập viện và
tử vong ở trẻ em miền Nam Việt Nam. Mặc dầu tỷ lệ tử vong của sốt xuất
huyết đã được giảm đáng kể trong 10 năm qua, nhưng tỷ lệ này vẫn còn cao ở
một số địa phương [21],[44]. Miền Nam và miền Trung bệnh xuất hiện quanh
năm và tần số mắc bệnh nhiều nhất từ tháng 6 đến tháng 10, lứa tuổi mắc
bệnh phần lớn là trẻ em.
Sốt xuất huyết là một bệnh dịch lưu hành trên 14 huyện thị của tỉnh
Long An, nhưng tập trung chủ yếu là các huyện miền hạ của tỉnh như Cần
Đước, Cần Giuộc, Bến Lức, Châu Thành là những huyện có tập quán chứa
nước mưa để uống và sinh hoạt, giống như miền tây Nam bộ, trung bình từ
3,1 vật chứa/ nhà (An Giang) đến 6,3 vật chứa/ nhà (Trà Vinh), nhiều hộ có
trên 20 chiếc lu trữ nước ăn đặt ở chung quanh nhà [30],[41],[42].
9
Sở Y tế ra nhiều công văn tăng cường công tác phòng, chống dịch sốt
xuất huyết, ký kết hợp đồng trách nhiệm giữa Sở Y tế và UBND huyện, tổ
chức triển khai chiến dịch diệt lăng quăng cho toàn tỉnh. Xã hội hóa các hoạt
động phòng chống sốt xuất huyết.
Ngành Y tế Long An củng cố Ban chỉ đạo, tăng cường giám sát và đã
sử dụng phần mềm quản lý ca bệnh SD/SXHD, giám sát hoạt động côn trùng
và huyết thanh virus. Mở các lớp tập huấn về điều trị SXH cho tuyến huyện
nhằm nâng cao chất lượng điều trị khắc phục tối đa bệnh SXH tử vong.
Trung tâm Y tế Dự phòng tỉnh kết hợp với TTYT DP huyện - thị thực
hiện biện pháp giảm mắc. Tập huấn về tăng cường kỹ năng giám sát dịch tễ,
thống kê báo cáo, xây dựng đường cong dự báo dịch cho tuyến xã, nâng cao
năng lực thống kê, triển khai các lớp về điều tra xử lý ổ dịch nhỏ. Triển khai
mạng lưới cộng tác viên và được tập huấn về kỹ năng phát hiện, xử lý ổ lăng
quăng và kỹ năng tuyên truyền, tổ chức chiến dịch diệt lăng quăng 2 đợt cho 1
năm ở tất cả 14 huyện, thị [46]. Hàng năm ngành Y tế Long An đều có kế
hoạch hoạt động phòng chống sốt xuất huyết đưa ra các chỉ tiêu cụ thể về
giảm tỷ lệ mắc, giảm tỷ lệ chết khống chế không để dịch lớn xãy ra. Tập trung
chủ yếu vào việc làm thay đổi hành vi kiểm soát lăng quăng của các hộ gia
đình. Hợp tác với Tổ chức Y tế Thế giới sử dụng mô hình khoan giếng, xây
hồ đưa nước sạch cho nhân dân sử dụng ở xã Đông Thạnh huyện Cần Giuộc,
cộng tác với Viện Pasteur Thành Phố Hồ Chí Minh nghiên cứu mô hình nâng
cao năng lực phòng chống sốt xuất huyết chủ động dựa vào trường học ở
huyện Bến Lức. Tuy vậy, từ năm 2003 đến nay, năm nào cũng có ca tử vong
Năm
Chỉ số
1996 1997 1998 1999 2000 2001 2002 2003 2004 2005 2006 2007 2008
Số mắc
1284 662 120 25 121 52 196 215 257 223 1182 408 644
Số chết
02 03 01 00 01 00 00 00 00 00 00 00 00
11
Sốc độ
III& IV
623 220 28 06 47 26 81 68 83 65 169 57 88
SD 49 34 295 56 113
(Nguồn số liệu: Báo cáo Trung tâm Y tế dự phòng Cần Giuộc-Long An [41])
Sốt xuất huyết là chương trình Y tế Quốc gia được Đảng, Nhà nước
quan tâm chỉ đạo, đầu tư nhân lực và vật lực. Ủy ban Nhân dân huyện chỉ đạo
các phòng ban chức năng và Ủy ban Nhân dân các xã, thị trấn tích cực hỗ trợ,
ngành Y tế tổ chức thực hiện tốt chiến dịch diệt muỗi, diệt lăng quăng để hạn
chế tối đa mắc bệnh sốt xuất huyết và tử vong. Ngành Y tế cùng ban ngành,
đoàn thể hàng năm tổ chức hội thảo xã hội hóa về phòng chống sốt xuất huyết
và đã áp dụng đủ các mô hình phòng chống sốt xuất huyết, xử lý các ổ dịch
theo qui định, mặc dù địa phương đang gặp rất nhiều khó khăn về nhân lực
trong giai đoạn chia tách nhân sự Trung tâm Y tế thành Trung tâm Y tế Dự
phòng huyện, Phòng Y tế, Bệnh viện Đa khoa huyện. Hàng năm, ngành Y tế
Cần Giuộc có đề ra chỉ tiêu 95% chủ hộ gia đình được củng cố kiến thức
phòng chống dịch, ký kết không có lăng quăng trong hộ gia đình. Triển khai
chiến dịch diệt lăng quăng 2 lần/năm, đảm bảo không để dịch bùng phát trong
năm. Trong khi đó, theo khuyến cáo của Bộ Y tế, tốt nhất thực hiện 05 chiến
dịch/ năm [4]. Công tác xử lý ổ dịch nhỏ được chú trọng bồi dưỡng đủ về
kiến thức, xử lý gần như không bỏ sót ổ dịch và tiến hành theo cách một chỉ
vận động diệt lăng quăng [47]. Bên cạnh còn nhiều điểm bất cập như thời
không những gây quá tải cho khoa nhi ở các bệnh viện lớn mà ngay cả ở
tuyến tỉnh và huyện đều gặp phải trong tình trạng đó. Nhà nước phải chịu rất
nhiều áp lực để giải quyết bài toán khó về kinh phí.
1.7. CÁC NGHIÊN CỨU VỀ PHÒNG CHỐNG SỐT XUẤT HUYẾT
1.7.1. Các nghiên cứu về mức độ hiểu biết bệnh sốt xuất huyết Dengue
13
Bảng 1.4. Các nghiên cứu về mức độ hiểu biết bệnh sốt xuất huyết
Dengue [11],[15],[17],[22], [27], [31],[40].
Nội dung
Tác giả
Địa điểm và
thời gian
Có biết
về
bệnh
Biết
nguyên
nhân
Biết
triệu chứng
Nguyễn Thị Kim Tiến
Khu vực phía
Nam, 1998
91,1% 78,7%
Sốt: 71,3%
XH: 47,6%
Trung tâm TT GDSK
Long An
P.4, Thị xã Tân
An, 2002
quăng muỗi Culex quinquefasciatus rất có hiệu quả. Năm 1913 được áp dụng
tại Philippines, năm 1920 tại Tây Ban Nha, Ý, Bắc Phi và nhiều nước Châu
Âu. Loài cá Poecilia reticulata (còn gọi là cá 7 màu) cũng được sử dụng hiệu
quả ở Đài Loan, Thái Lan, Ý, Nga, đây là loài cá có rất nhiều ở các tỉnh phía
Nam Việt Nam [49],[50].
Ở Việt Nam
+ Năm 1996 sau 4 tuần lễ thả cá thử nghiệm ở ấp 4, xã Tân Thuận
Đông, huyện Nhà Bè, TP. Hồ Chí Minh cho kết quả chỉ số lăng quăng Ades
aegypti giảm đi 5 lần, chỉ số vật chứa có lăng quăng Ades aegypti giảm đi
45% [49].
14
+ Năm 1996, qua một thử nghiệm tại ấp 3 xã Hưng Long, huyện Bình
Chánh, TP. Hồ Chí Minh, dùng cá 7 màu diệt lăng quăng Ades aegypti cho
kết quả rất tốt. Sau 3 tuần lễ, các chỉ số lăng quăng giảm 100% và kéo dài
suốt 18 tuần lễ, các chỉ số muỗi trưởng thành cũng giảm dần. Kết quả khảo sát
muỗi và lăng quăng tại ấp 3, xã Hưng Long, huyện Bình Chánh, TP. Hồ Chí
Minh trước và sau thả cá năm 1996.
Bảng 1.5. Kết quả khảo sát muỗi và lăng quăng tại ấp 3, xã Hưng
Long, huyện Bình Chánh, thành phố Hồ Chí Minh [49].
Các
chỉ số
Trước
thả
Sau thả cá
Tuần1 2 3 4 6 8 10 12 14 16 18
Cs. Breteau 160 80 40 0 0 0 0 0 0 0 0 0
Cs. Vật chứa (+) 19,2 9,8 4,7 0 0 0 0 0 0 0 0 0
MĐ. Ae.aegypty 1,8 1,1 0,9 0,7 0,7 0,5 0,6 0,4 0,7 0,2 0,4 0,3
Ghi chú: Các chỉ số muỗi và lăng quăng tại ấp 1 (đối chứng) không
thay đổi đáng kể.
Bệnh không truyền trực tiếp từ người sang người, mà do muỗi đốt
người bệnh rồi truyền virus sang người lành qua vết đốt của muỗi bệnh. Muỗi
thuộc họ aedes (Aedes agypti, Aedes albopictus, Aedes polynesiensis) có vai
trò quan trọng trong lây truyền virus Dengue. Các loại vec tơ tuỳ thuộc vị trí
địa lý của nước có dịch. Aedes albopictus đựơc tìm thấy truyền bệnh ở Thái
Lan, đảo Samui, Ấn Độ, Singapore và Mexico. Tuy nhiên quan trọng nhất là
muỗi Aedes agypti
Aedes aegypti, sinh sản trong các vật chứa, loại muỗi đốt ban ngày
được tìm thấy ở các vùng nhiệt đới và á nhiệt đới. Chúng ẩn nấp trong nhà,
chủ yếu ở phòng khách và phòng ngủ. Đặc điểm này làm cho sự tiếp xúc tối
đa với người nhưng lại tối thiểu với các phương tiện diệt muỗi như sử dụng
16
hoá chất thường ở ngoài nhà, do vậy càng làm khó khăn cho sự khống chế vec
tơ này.
Aedes aegypti có thể sinh sản trong nước bẩn hay những vật dụng chứa
nước như bình hoa, gáo dừa. Trứng có thể tồn tại lâu dài, vì chúng có khả
năng chịu đựng tình trạng khô hay các điều kiện thay nước không đầy đủ, sự
đô thị hoá không kế hoạch, có thể dẫn đến mật độ muỗi cao ở những vùng
dịch. Có sự gia tăng đáng kể các ấu trùng muỗi trong mùa mưa. Điều này giải
thích các trận dịch Dengue có khuynh hướng trùng hợp với mùa mưa. Hơn
nữa, nhiệt độ môi trường ẩm ảnh hưởng sự sinh sản virus trong muỗi. Nhiệt
độ môi trường cũng ảnh hưởng thời gian virus cao trong máu ở muỗi cái, sẽ
ngắn hơn với nhiệt độ gia tăng.
Sau khi đốt người nhiễm virus, virus Dengue vào trong muỗi cái trưởng
thành. Đầu tiên virus nhân lên ở ruột non, đế ruột già và bạch huyết, và tích
trữ trong các tổ chức khác nhau của muỗi. Sau khi nhân lên trong tuyến nước
bọt, muỗi nhiễm virus có thể truyền virus qua người khác. Những nghiên cứu
siêu cấu trúc cho thấy các hạt virus hiện diện ở hệ thống thần kinh, tuyến
nước bọt, ruột, tế bào bì, buồng trứng và tế bào lót vách trong cơ thể muỗi.
Ngược lại, chúng vắng mặt ở cơ, ruột, và ống thận.
pháp phòng, chống chủ động ngay trước khi dịch xãy ra và chắc chắn đó là
những biện pháp có hiệu quả cao nhất. Sự gia tăng SD/SXHD và tỷ lệ tử vong
trong thập kỷ cuối này cần thiết có sự giám sát chặt chẽ nhằm phát hiện ca
mắc bệnh và thực hiện các biện pháp khống chế thích hợp đối với véc tơ
truyền bệnh [70].
18
Sốt xuất huyết có choáng
Số nằm viện
Số đến khám
Số điều trị tại nhà và thể ẩn
1
250-500 ca
1.8.4. Nguyên nhân gây bệnh
Virus Dengue thuộc giống Flavivirus và thuộc họ Flaviviriadac, có kích
thước nhỏ (50
η
m). Virus Dengue do đặc điểm kháng nguyên và đặc điểm
sinh học có 4 typ huyết thanh được đặt tên: DEN-1; DEN-2; DEN-3; DEN-4
[2]. Nếu nhiễm 1 trong 4 typ này sẽ tạo được miễn dịch suốt đời đối với virus
týp huyết thanh đó và có miễn dịch chéo với các typ huyết thanh còn lại trong
vài tháng hoặc không có miễn dịch chéo với typ huyết thanh khác để bảo vệ
cơ thể. Cả 4 typ này đều có khả năng gây các vụ dịch sốt xuất huyết Dengue
do đó có những trường hợp nặng, tử vong.
1.8.5. Đặc điểm sinh học, sinh thái học
+ Trứng: Trứng muỗi được đẻ trên thành vật chứa, sát ngay phía trên
ngấn nước. Phôi của trứng hoàn thiện trong vòng 48 giờ trong điều kiện ấm
và ẩm. Khi phôi đã phát triển hoàn thiện thì trứng có thể chịu đựng được khô
hạn trong thời gian dài (khoảng 1 năm). Trứng muỗi nở ngay khi ngập nước
trở lại. Nhưng không phải tất cả các trứng đều nở cùng 1 lúc. Khả năng chịu
đựng của trứng giúp cho Aedes aegypti có thể tồn tại trong điều kiện khí hậu
động vào sự tham gia tự nguyện của cộng đồng [35],[36].
1.9.1. Giảm nguồn sinh sản của véc tơ
Lăng quăng của muỗi Aedes có thể phát triển ở các dụng cụ chứa nước
trong nhà và xung quanh nhà, vì vậy quản lý chặt chẽ dụng cụ chứa nước để
làm giảm nguồn sinh sản là biện pháp tốt nhất trong phòng chống véc tơ.
- Quản lý dụng cụ chứa nước.
+ Dụng cụ chứa nước sinh hoạt (chum, vại, bể nước mưa, cây cảnh…):
dùng các biện pháp ngăn ngừa muỗi sinh đẻ (có nắp đậy thật kín, thả cá…)
20
+ Dụng cụ chứa nước không có ích lợi (lớp xe hỏng, vật dụng gia đình
bỏ không…): thu dọn và phá huỷ.
+ Các hốc chứa nước tự nhiên (hốc cây, kẽ lá, gốc tre nứa…): loại bỏ
lấp kín, chọc thủng hoặc làm biến đổi.
- Loại trừ ổ bọ gậy (lăng quăng)
+ Thu dọn rác, kể cả dụng cụ chứa nước tự nhiên hoặc nhân tạo (chai,
lu, vỏ đồ hộp, lớp xe hỏng, vỏ dừa…) cho vào túi rồi chuyển tới nơi thu gom
phế thải của địa phương hoặc hủy bỏ bằng chôn, đốt.
+ Úp ngược các dụng cụ gia đình như xô, chậu, bát, máng nước gia cầm.
+ Xử lý kẽ lá cây (chuối, dừa…): bằng chọc thủng, cho hoá chất diệt bọ
gậy (lăng quăng).
- Chống muỗi đẻ trứng trong các dụng cụ tích trữ nước (chum, vại, phuy, bể…)
+ Đậy thật kín bằng nắp hoặc bằng vải để không cho muỗi đẻ.
+ Thả cá và các tác nhân sinh học khác.
+ Chọc thủng hốc cây, bịt lấp đỉnh cọc rào, loại bỏ bọ gậy (lăng quăng),
dội nước sôi vào thành vại để diệt bọ gậy (lăng quăng) và trứng khi còn chứa
ít nước.
+ Đối với bẫy kiến, lọ hoa, chậu cây cảnh, khay nước tủ lạnh hoặc điều
hoà nhiệt độ. Dùng dầu hoặc cho muối vào, thay nước 1 lần/ tuần, cọ rửa
thành dụng cụ chứa nước để diệt trứng muỗi .
1.9.2. Chống muỗi đốt
biện pháp đơn giản loại trừ nơi sinh sản của véc tơ ở nhà cũng như ở trường
học. Tổ chức các cuộc thi tìm hiểu về SD/SXHD, các biện pháp phòng chống,
động viên khen thưởng kịp thời những cá nhân, tập thể có nhiều đóng góp tích
cực [43],[58],[68].
22
Bên cạnh giáo dục cộng đồng cũng cần phổ biến tuyên truyền luật
phòng chống bệnh truyền nhiễm như trong điều 8 của luật về những hành vi
bị nghiêm cấm: cố ý làm lây lan tác nhân gây bệnh truyền nhiễm; người mắc
bệnh truyền nhiễm; người bị nghi ngờ mắc bệnh truyền nhiễm và người mang
mầm bệnh truyền nhiễm làm công việc dễ lây truyền tác nhân gây bệnh truyền
nhiễm theo quy định của pháp luật; che dấu không khai báo hoặc khai báo
không kịp thời các trường hợp mắc bệnh truyền nhiễm theo quy định của
pháp luật; cố ý khai báo, thông tin sai sự thật về bệnh truyền nhiễm; phân biệt
đối xử và đưa hình ảnh, thông tin tiêu cực về người mắc bệnh truyền nhiễm;
không triển khai hoặc triển khai không kịp thời các biện pháp phòng chống
bệnh truyền nhiễm theo quy định của luật này; không chấp hành các biện
pháp phòng, chống bệnh truyền nhiễm theo yêu cầu của cơ quan tổ chức có
thẩm quyền [29].
23
Chương 2
ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1. ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU
2.1.1. Đối tượng nghiên cứu
- Học sinh từ lớp 4 đến lớp 7 ở 5 xã triển khai chương trình phòng,
chống sốt xuất huyết (Phước Lại, Vĩnh Đông, Đông Thạnh, Phước Lâm, Tân
Kim) thuộc huyện Cần Giuộc và 02 xã không triển khai chương trình phòng,
chống sốt xuất huyết (Thuận Thành và Long Hậu) thuộc huyện Cần Giuộc.
Tất cả học sinh từ lớp 4 đến lớp 7 do đặc điểm của nhóm tuổi này (9 -15 tuổi)
thích chơi cá, bắt lăng quăng 7 xã được chọn trong nghiên cứu là do có
trường tiểu học và trung học cơ sở.
-
2
)
2
1(
α
−
Z
: là trị số tới hạn ở độ tin cậy 95% (
2
)
2
1(
α
−
Z
= 1,96)
- p là tỷ lệ học sinh có kiến thức, thực hành đúng trong phòng, chống
sốt xuất huyết và muốn đạt cỡ mẫu lớn nhất, chọn p = 0,50
- e : độ chính xác mong muốn 0,05.
Vậy cỡ mẫu
384
)05,0(
)5,01(5,0)96,1(
2
2
=
−×
=
n