LUẬN ÁN BÁC SĨ CK II - Nghiên cứu kết quả phòng chống sốt xuất huyết Dengue dựa vào cộng đồng tại xã Trường Khánh huyện Long Phú tỉnh Sóc Trăng năm 2009 (FULL TEXT) - Pdf 40

B GIO DC V O TO

B Y T

I HC HU
TRNG I HC Y - DC

Lí PHI LONG

NGHIÊN CứU kết quả phòng chống sốt xuất huyết
dengue dựa vào cộng đồng tại xã trờng khánh
huyện long phú - tỉnh sóc trăng năm 2009

LUN N CHUYấN KHOA CP II

CHUYấN NGNH: QUN Lí Y T

Mó s: CK 62 72 76 05

HU - 2009


KÝ HIỆU VIẾT TẮT
BI

: Breteau Index

CDDLQ

: Chiến dịch diệt lăng quăng


: Kiến thức – Thái độ- Thực Hành

SD

: Độ lệch chuẩn (standard deviation)

SD/SXHD

: Sốt Dengue / Sốt xuất huyết Dengue

SXH

: Sốt xuất huyết

SXHD

: Sốt xuất huyết Dengue

TTYTDP

: Trung tâm Y tế Dự phòng.

TKCTPCSXH

: Triển khai chương trình phòng chống sốt xuất huyết

TP

: Thành Phố


về biện pháp thả cá để diệt lăng quăng................................................55


Bảng 3.11. Hành vi của người dân về các biện pháp diệt muỗi, bọ gậy
trước và sau can thiệp..........................................................................56
Bảng 3 .12. Hành vi của người dân xã Trường Khánh về các biện pháp
diệt muỗi, bọ gậy so sánh với xã Tân Hưng.......................................57
Bảng 3.13. Các DCCN có bọ gậy tại xã Trường Khánh trước và sau
can thiệp..............................................................................................58
Bảng 3.14. Các DCCN có bọ gậy tại xã Trường Khánh với
xã Tân Hưng........................................................................................59
Bảng 3.15. Mật độ bọ gậy ở DCCN tại xã Trường Khánh trước và sau
can thiệp..............................................................................................61
Bảng 3.16. Mật độ bọ gậy ở DCCN tại xã Trường Khánh với
xã Tân Hưng .......................................................................................62
Bảng 3.17. Sự thay đổi về hành vi có lợi của người dân xã Trường Khánh
trước và sau can thiệp..........................................................................63
Bảng 3.18. Người dân xã Trường Khánh tiếp cận với các kênh truyền thông
trước và sau can thiệp..........................................................................64
Bảng 3.19. Người dân xã Trường Khánh tiếp cận với các kênh truyền thông so
với xã Tân Hưng..........................................................................................65
Bảng 3.20. Các chỉ số muỗi và bọ gậy tại xã Trường Khánh trước và sau
can thiệp..............................................................................................66
Bảng 3.21. Các chỉ số muỗi và bọ gậy tại xã Trường Khánh so sánh với
xã Tân Hưng .......................................................................................67
Bảng 3.22. Sự liên quan các chỉ số bọ gậy và cá trong các DCCN tại
xã Trường Khánh trước và sau can thiệp............................................68
Bảng 3.23. Sự liên quan các chỉ số bọ gậy và cá trong các DCCN tại
xã Trường Khánh so sánh với xã Tân Hưng.......................................68
Bảng 3.24. Tỷ lệ bệnh nhân mắc sốt XH tại xã Trường Khánh trước và

1.2. BỆNH SỐT DENGUE VÀ SỐT XUẤT HUYẾT DENGUE
ẢNH HƯỞNG ĐẾN KINH TẾ - XÃ HỘI...........................................5
1.3. VI RÚT GÂY BỆNH VÀ VEC TƠ TRUYỀN BỆNH..........................6
1.3.1. Tác nhân gây bệnh sốt Dengue và sốt xuất huyết Dengue..................6
1.3.2. Véc tơ truyền bệnh sốt Dengue và sốt xuất huyết Dengue..................7
1.4. PHÒNG CHỐNG SỐT DENGUE VÀ SỐT XUẤT HUYẾT
DENGUE............................................................................................11
1.4.1. Vắc xin dự phòng..............................................................................11
1.4.2. Phòng chống véc tơ truyền bệnh sốt Dengue và sốt xuất huyết
Dengue................................................................................................11
1.4.3. Quản lý tổ chức mô hình phòng chống sốt Dengue và sốt xuất huyết
Dengue tại xã.......................................................................................20
1.5. TÌNH HÌNH DỊCH TỄ HỌC CỦA BỆNH SD/SXHD TRÊN
TOÀN CẦU........................................................................................23
1.5.1. Tình hình dịch tễ học của bệnh SXH trên thế giới............................23
1.5.2. Tình hình dịch tễ học của bệnh sốt xuất huyết ở Việt Nam..............24
1.5.3 Tình hình SD/SXHD của tỉnh Sóc Trăng và huyện Long Phú ..........26
Chương 2. ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU..........29
2.1. ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU..............................................................29
2.1.1. Đối tượng nghiên cứu........................................................................29
2.1.2. Tiêu chuẩn chọn mẫu........................................................................29


2.1.3. Cỡ mẫu..............................................................................................29
2.1.4. Kỹ thuật chọn mẫu ...........................................................................30
2.1.5. Địa điểm nghiên cứu.........................................................................30
2.2. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU........................................................32
2.2.1. Thiết kế nghiên cứu...........................................................................32
2.2.2. Phương pháp điều tra.........................................................................32
2.2.3. Điều tra các chỉ số côn trùng.............................................................35

4.2.2. Thái độ của người dân xã Trường Khánh và Tân Hưng về phòng chống
bệnh SXHD.................................................................................................77
4.2.3. Hành vi của người dân về các biện pháp diệt muỗi, lăng quăng phòng
chống bệnh sốt xuất huyêt Dengue..............................................................78
4.2. TÌNH HÌNH MUỖI VÀ Ổ BỌ GẬY TRƯỚC VÀ SAU CAN THIỆP
4.2.1. Tình hình bọ gậy trong các dụng cụ chứa nước của các hộ gia đình tại xã
Trường Khánh và Tân Hưng......................................................................80
4.2.2. Hành vi có lợi của người dân xã Trường Khánh
trước và sau can thiệp..........................................................................82
4.2.3. Tiếp cận với các kênh truyền thông ................................................82
4.3. TÌNH HÌNH MUỖI, BỌ GẬY VÀ CÁC CHỈ SỐ DỊCH TỄ HỌC....83
4.3.1. Tình hình muỗi, bọ gậy tại các xã Trường Khánh và Tân Hưng......85
4.3.2. Sự liên quan giữa chỉ số bọ gậy và cá...............................................86
KẾT LUẬN.................................................................................................87
KIẾN NGHỊ................................................................................................88


1

ĐẶT VẤN ĐỀ
Bệnh sốt xuất huyết Dengue (SXHD) là một bệnh truyền nhiễm cấp tính
do vi rút Dengue gây ra, lây truyền chủ yếu qua muỗi Aedes aegypti, thứ yếu là
muỗi Aedes alpopictus. Là bệnh lưu hành ở các nước đang phát triển. Bệnh
chưa có thuốc điều trị đặc hiệu và chưa có vắc xin phòng bệnh.
Hiện nay theo ước tính hàng năm trên thế giới có khoảng 2,5 đến 3 tỷ
người có nguy cơ mắc bệnh, trong số đó có hàng trăm ngàn người mắc bệnh và
có khoảng 1/4 phải nhập viện và điều trị, trẻ em chiếm 90%, tỷ lệ tử vong khá
cao. Năm 1998, số mắc và tử vong sốt xuất huyết Dengue rất cao với 234.920
trường hợp mắc, 377 trường hợp tử vong tại 56/61 tỉnh, thành phố. Tại 20 tỉnh ,
thành phố khu vực phía nam có 123.997 người mắc và 347 người chết. Vì vậy,

trồng thủy sản. Dân số của tỉnh là 1.308.100 người, người Kinh chiếm 65,10%,
người Hoa chiếm 5,98%, người Khơ me chiếm 28,92%. Người dân có thói
quen tích trữ nước và thường xuyên không đậy kín các dụng cụ chứa nước, đây
là điều kiện thuận lợi dễ phát sinh và phát triển bệnh sốt xuất huyết Dengue. Vì
vậy xây dựng một chiến lược phòng chống sốt xuất huyết Dengue hiện nay vẫn
là vấn đề thời sự đang được tranh luận, bàn cải và các lời giải chưa thật sự
thống nhất. Do vậy cần có phương thức tổ chức và quản lý thật tốt, đồng thời
xác định những vấn đề đang được tiếp tục nghiên cứu một cách hợp lý [42],
[43],[44].
Với lý do trên, chúng tôi tiến hành đề tài: “Nghiên cứu kết quả phòng
chống sốt xuất huyết Dengue dựa vào cộng đồng tại xã Trường Khánh
huyện Long Phú tỉnh Sóc Trăng năm 2009”.
Mục tiêu của đề tài:
1. Mô tả kiến thức, thái độ và hành vi của người dân về phòng chống sốt
xuất huyết Dengue tại xã Trường Khánh huyện Long Phú


3
2. Đánh giá kết quả các biện pháp dựa vào cộng đồng của công tác
phòng chống sốt xuất huyết Dengue.
Chương 1

TỔNG QUAN TÀI LIỆU
Sốt sốt xuất huyết Dengue là bệnh nhiễm vi rút Dengue cấp tính do muỗi
truyền. Bệnh thường có triệu chứng sốt cao đột ngột kéo dài trong vòng 2 - 7
ngày, kèm theo đau đầu, đau cơ, đau xương hoặc khớp và nổi ban. Bệnh diễn
biến nặng có biểu hiện xuất huyết ở các mức độ khác nhau: dưới da, niêm mạc,
xuất huyết nội tạng, gan to và có thể tiến triển đến hội chứng sốc Dengue, dẫn
đến tử vong [1].
1.1. LỊCH SỬ SỐT DENGUE VÀ SỐT XUẤT HUYẾT DENGUE

sút do người lớn phải chăm sóc trẻ ốm. Thời gian bị bệnh trung bình từ 7 - 10
ngày; chi phí trực tiếp hoặc gián tiếp do bệnh gây ra rất lớn, bao gồm chi phí
điều trị ở bệnh viện, thuốc men chăm sóc nếu ốm ở nhà, không lao động được;
chi phí để chính quyền địa phương tổ chức các hoạt động phòng chống dịch,
giảm nguồn thu qua du lịch...
Theo báo cáo của Bệnh viện Nhi đồng I Thành phố Hồ Chí Minh, chi phí
trung bình cho 01 cas SXHD có sốc được điều trị tại bệnh viện là 2 triệu đồng,
chưa kể gia đình phải chăm sóc tốn kém tiền đi lại, ăn nghỉ và không lao động
sản xuất được [9]. Theo báo cáo Von Allmen SD và đồng nghiệp (1979). Dịch
sốt xuất huyết ở Puerto Rico, 1977: phân tích chi phí. Tạp chí về y học và vệ
sinh vùng nhiệt đới của Mỹ (American Journal of Tropical Medicine and
Hygiene). Chi phí cho dịch sốt xuất huyết năm 1977 gồm cả chi phí trực tiếp và
gián tiếp được ước tính trong khu vục là từ 6 đến 15,6 triệu USD, trong đó các
biện pháp phòng chống dịch chiếm 7,8 - 20,2 %.


5
Ảnh hưởng của SXHD đến nền kinh tế còn lớn hơn nhiều, điển hình là
hàng năm Ngân sách nhà nước phải chi hàng trăm tỷ đồng cho Dự án phòng
chống SXHD Quốc gia; ngoài ra Chính phủ còn phải chi thêm hàng tỷ đồng
cho công tác dập dịch đột xuất [11].
Kinh phí bổ sung cho kế hoạch khẩn cấp chống dịch sốt xuất huyết năm
2004 dự kiến 38.660.550.000 đồng Việt Nam, cụ thể:
1. Công tác y tế dự phòng: 19.258.000.000 đồng
Trong đó:
- Máy phun ULV: 2.488.000.000 đồng
- Máy phun hóa chất cỡ lớn (đặt trên xe ô tô): 1.650.000.000 đồng
- Hóa chất diệt muỗi: 4.100.000.000 đồng
- Các hoạt động khác: 2.020.000.000 đồng
+ Thông tin tuyên truyền: 400.000.000 đồng

dịch chủ yếu trong thời kỳ 1994 - 1997 với tỷ lệ cao nhất 76,1% năm 1998.
Trong khi đó type Den 4 chiếm tỷ lệ thấp năm 1991, vắng mặt trong thời kỳ
1992 - 1997, nhưng xuất hiện lại cùng với Den 1 và trở thành type gây dịch chủ
yếu năm 1998 [17],[32].
Tại Việt Nam, đã phân lập được cả 4 týp vi rút Dengue gây bệnh. Theo
kết quả của chương trình giám sát vi rút tại các tỉnh phía Nam Việt Nam của
Viện Pasteur Thành phố Hồ Chí Minh, týp DEN-2 có chu kỳ hoạt động từ năm
1987, týp DEN-1 có chu kỳ hoạt động từ 1990 và týp DEN-3 bắt đầu hoạt động
từ 1995, còn týp DEN-4 hoạt động nhiều hơn từ năm 1999 [5],[6],[9]. Thông
thường, vi rút hiện diện trong giai đoạn cấp tính của bệnh và mất dần trong giai
đoạn hồi phục của bệnh.
1.3.2. Véc tơ truyền bệnh sốt xuất huyết Dengue
Bệnh không lây truyền trực tiếp từ người sang người mà do muỗi đốt
người bệnh rồi truyền virut sang người lành qua vết đốt. ở Việt Nam, hai loài


7
muỗi truyền bệnh SXHD là Aedes aegypti và Aedes albopictus, trong đó quan
trọng nhất là Aedes aegypti. Muỗi cái Aedes aegypti bị nhiễm vi rút, khi đốt
người sẽ truyền vi rút qua vết đốt, do đặc điểm sinh lý của muỗi cái rất ái tính
với người. Thông thường muỗi cái Aedes aegypti bị nhiễm vi rút Dengue, khi
hút máu người bệnh thì sau đó muỗi có khả năng truyền vi rút suốt đời. Ngoài
ra người ta còn nhận thấy nó có khả năng lây truyền cho thế hệ sau qua trứng,
đây là một cơ chế quan trọng để duy trì vi rút, nhưng không đóng vai trò lớn
trong những vụ dịch [1],[17].
Nhiều nghiên cứu về véc tơ truyền bệnh SXHD đã được tiến hành trong
nhiều năm bởi các tác giả như Vũ Sinh Nam và cộng sự (2004) Các tác giả đều
khẳng định Aedes aegypti là véc tơ truyền bệnh chính trong các vụ dịch SXHD
ở Việt Nam [32].
Qua đó chúng ta có sự định loại vectơ giữa Anopheline (họ phụ

hai đường vẩy trắng bạc phình ra trông như hai nửa vòng cung ôm hai bên mặt
lưng, tạo thành hình trông như mặt đàn Lya; đầu muỗi có vẩy trắng bạc đính ở
phía đỉnh. Trên mặt lưng bụng ở gốc các đốt II và VIII đều có những đường
vẩy bạc ngang từng đốt; gốc các đốt bàn chân sau có những khoang trắng, riêng
đốt bàn chân thứ V trắng hoàn toàn, vì vậy thường có tên gọi là “ Muỗi vằn”
[4],[5],]6].
Đặc điểm sinh lý, sinh thái của muỗi Aedes aegypti: Ở các tỉnh phía
Nam, Aedes aegypti phân bố rộng khắp các tỉnh, các vùng; trừ một số nơi thuộc
các huyện miền núi cao, tỉnh Lâm Đồng, có thể gặp Aedes aegypti ở mọi nơi;
đặc biệt là những thành phố, thị xã đông dân, các vùng đồng bằng ven biển, nơi
thiếu nước ngọt người dân phải dùng nhiều vật chứa nước dự trữ suốt mùa khô.
Chúng rất thích hút máu người và thường sống ở trong nhà gần người, đậu nghỉ
ở những nơi tối, trên quần áo sẫm màu treo trên móc áo. Muỗi đánh hơi người
nhanh và sà vào là đốt (hút máu) ngay, muỗi thường hoạt động đốt người vào
ban ngày, hoạt động cao điểm là lúc sáng sớm và chiều tối, ở ngoài nhà cũng


9
gặp loài muỗi này nhưng ít hơn, muỗi thường bay xa khoảng 100 - 200 mét và
phát tán quanh vùng chúng đẻ trứng; chúng có thể phát tán thụ động theo các
phương tiện giao thông đi khắp nơi và chỉ cần 1% số muỗi trong vùng bị nhiễm
vi rút là có thể gây dịch, nên việc xử lý các phương tiện giao thông giữa các
vùng đất nước là cần thiết phải làm khi có thông báo [3].
Ở nhiệt độ 20oC, độ ẩm 85% chu kỳ phát triển của muỗi là 10 - 15 ngày,
nhiệt độ < 20oC chu kỳ này kéo dài trên 20 ngày. Muỗi đẻ trứng ở những nơi
nước sạch chứa trong lu, khạp, hồ, các mảnh chai lọ, bát vỡ, võ xe cũ, gáo dừa,
máng chứa nước mưa ứ đọng lâu ngày ở trong và chung quanh nhà tại những
nơi râm mát. Trứng màu đen, được đẻ riêng rẽ bám ở thành ẩm phía trên mực
nước của các dụng cụ chứa nước; trứng nở sau khi bị ngập nước tự nhiên do
mưa hoặc do con người đổ nước vào để dự trữ. Lăng quăng của muỗi Aedes

1.4. PHÒNG CHỐNG SỐT XUẤT HUYẾT DENGUE
1.4.1. Vắc xin dự phòng
Vắc xin dự phòng SXHD đã được khám phá trên 60 năm, nhưng qua thử
nghiệm chưa công bố hiệu quả chống lại vi rút dengue; một loại vắc xin phòng
ngừa nhiễm 4 type vi rút cũng đã được thử nghiệm tại nhiều nước trên thế giới,
cho đến nay Tổ chức Y tế Thế giới vẫn chưa cho phép lưu hành vắc xin phòng
SXHD trên thị trường [56], [59].
Tại Việt Nam, theo Bộ Y tế thì đến nay bệnh SXHD chưa có thuốc điều
trị đặc hiệu và chưa có vắc xin phòng bệnh, vì vậy diệt véc tơ đặc biệt là diệt bọ
gậy (lăng quăng) với sự tham gia tích cực của cộng đồng là biện pháp hiệu quả
nhất trong phòng chống SXHD [2], [3].
1.4.2. Phòng chống véc tơ truyền sốt xuất huyết Dengue
1.4.2.1. Sử dụng hóa chất
Việc giải quyết véc tơ truyền bệnh vẫn là biện pháp chủ yếu trong phòng
chống SXHD hiện nay; ngoài các biện pháp cơ học, sinh học, biện pháp hóa
học cũng đóng một vai trò quan trọng nhất là khi dịch có nguy cơ bùng phát.
Các hóa chất diệt côn trùng được sản xuất dưới nhiều dạng khác nhau như bột


11
mịn, bột hòa nước, hạt, nhũ dầu, dung dịch, dạng để phun khí dung ULV...từ đó
công dụng khác nhau, cách sử dụng khác nhau, nồng độ và liều lượng hữu hiệu
của mỗi loại hóa chất cũng khác nhau.
Nhằm phát huy triệt để tác dụng của hóa chất được sử dụng, đồng thời
hạn chế việc lạm dụng dẫn đến sự xuất hiện tính đề kháng ở côn trùng cũng
như tránh được sự ô nhiễm môi trường và gây ngộ độc cho người và gia súc;
khi sử dụng hóa chất diệt côn trùng phải đảm bảo các quy định kỹ thuật và tuỳ
theo các đặc điểm sinh lý, sinh thái của từng loài côn trùng mà sử dụng những
hóa chất thích hợp, biện pháp phun thích hợp [5].
Thời gian gần đây, khi công tác xử lý ổ dịch nhỏ đã trở thành thường

máy lớn đặt trên xe, vận tốc thông thường của xe phun từ 5 -15 km/giờ sao cho
có đủ lượng hóa chất bao phủ một đơn vị diện tích cần phun [5].
Qua nhiều vụ dịch cho thấy sau 20 - 30 ngày, mật độ muỗi Aedes aegypti
trở lại bình thường như trước khi phun khí dung ULV, do lăng quăng trong các
vật chứa nước tiếp tục nở ra. Vì thế, chỉ nên áp dụng phun khí dung ULV để
diệt khẩn cấp muỗi trưởng thành Aedes aegypti nhằm ngăn chặn sự bùng phát
của dịch; để nâng cao hiệu quả của biện pháp phun khí dung ULV, cần phải
đồng thời triển khai các biện pháp phối hợp khác như vận động người dân diệt
lăng quăng [3].
1.4.2.2. Xua muỗi
Ngoài các loại hoá chất sử dụng phun diệt muỗi trên, còn có biện pháp sử
dụng các chất có tác dụng kích thích để đuổi muỗi đi hoặc ngăn cản sự tiếp xúc
của muỗi đối với người. Các thuốc xua muỗi chủ yếu ở dưới dạng nước, kem.
Người ta còn dùng dưới dạng tẩm vào lưới để che mặt, đầu hoặc tẩm vào áo
quần. Ngày nay người ta nghiên cứu dạng bốc hơi hoặc dạng khói với các chất
Prethroide để xua và diệt muỗi khá tốt, có tác dụng bảo vệ nhiều người như
dùng nhang trừ muỗi.


13
Có nhiều loại hoá chất có tác dụng xua côn trùng, những hoá chất này
phải đạt những tiêu chuẩn sau: không độc cho người và gia súc, không có mùi
khó chịu hoặc không kích thích khi sử dụng, bay hơi chậm, rẻ tiền và dễ sử
dụng. Một số loại thuốc thông dụng: DEP, Pomade Sả là loại dễ sử dụng nhất.
Ngoài ra, có thể sử dụng vợt điện để diệt muỗi.
1.4.2.3. Động vật ăn bọ gậy
Ở Việt Nam, nghiên cứu cá ăn bọ gậy muỗi được áp dụng có kết quả tốt
trong phòng chống SXHD và Sốt rét nhiều năm nay. Nhiều công trình nghiên
cứu tác giả nhận thấy các loại cá sẵn có ở địa phương như cá sóc, cá bảy màu,
cá thia thia, cá rô phi…đều có thể sử dụng để diệt bọ gậy Aedes aegypti. Nhất

- Lăng quăng của giống muỗi Toxorhynchites: được nhiều tác giả
nghiên cứu và cho thấy có khả năng ăn lăng quăng các loài muỗi khác rất tốt,
con trưởng thành của giống muỗi này có kích thước lớn (gấp 5 lần muỗi Aedes
aegypti) nhưng không hút máu người. Ở nước ta cũng đã phát hiện muỗi
Toxorhynchites ở Mỹ Tho, Trà Vinh, Lâm Đồng, Bình Dương. Viện Pasteur
Tp. HCM đã nuôi thành quần thể loài muỗi Toxorhynchites splendens trong
phòng thí nghiệm và xác định khả năng diệt lăng quăng của loài muỗi này.
Bảng 1.1. Tỷ lệ lăng quăng Ae.aegypti bị tiêu diệt theo tuổi của lăng
quăng Toxorhynchites [4]
Tuổi của LQ

Số lăng quăng

Toxorhynchites

Toxo. theo dõi

I

Số lăng quăng Ae.aegypti bị tiêu diệt
trong 24 giờ bởi 1 LQ Toxorhynchites
Trung bình

Tối đa

64

8

15



15
- Cá ăn lăng quăng: là biện pháp được thế giới sử dụng từ lâu và phổ
biến ở nhiều nơi. Năm 1905 ở Hawaii đã dùng cá Gambusia affinis để diệt lăng
quăng muỗi Culex quinquefasciatus rất có hiệu quả. Năm 1913 được áp dụng
tại Philippines, năm 1920 tại Tây ban Nha, Ý, Bắc Phi và nhiều nước ở Châu
Âu. Loài cá Poecilia reticulata (còn gọi là cá 7 màu) cũng được sử dụng có
hiệu quả ở Đài Loan, Thái Lan, Ý, Nga để diệt lăng quăng Culex
quinquefasciatus. Đây là loài cá nhỏ có rất nhiều ở các tỉnh phía nam Việt
Nam, cá đực có màu sắc khá đẹp, dễ sử dụng. Viện Pasteur Tp. HCM đã thử
nghiệm và cho thấy cá 7 màu có thể dùng để diệt lăng quăng Aedes aegypti rất
tốt bởi loài cá này có những ưu điểm sau:
+ Cá nhỏ (dưới 4 cm) nên có thể sống dễ dàng trong những dụng cụ
chứa nước sinh hoạt như lu, khạp, hồ … mà không làm ảnh hưởng đến thành
phần hóa học của nước.
+ Được nuôi rất phổ biến trong dân gian, sinh sản nhanh, dễ dàng
cung cấp.
+ Khả năng diệt lăng quăng cao, trung bình 1 con cá 3 tháng tuổi có
thể ăn 120 lăng quăng trong vòng 24 giờ.
Bảng 1.2. Tỷ lệ lăng quăng Ae.aegypti bị tiêu diệt theo tuổi cá
Số lăng quăng 1 con cá tiêu thụ trong 24 giờ
Tối thiểu
Trung bình
Tối đa
Mới đẻ - 1 tuần
25 (I)
35
45
1-2 tuần

+ Phần phụ miệng kiểu ăn thịt; gồm có hàm trên, mảnh hàm phụ, hàm
dưới và mảnh chân hàm.
+ Phần ngực: gồm các đốt 2, 3, 4, 5 mang các đôi chân bơi 1, 2, 3, 4.
+ Phần bụng: đốt 6 và 7 chập lại tạo thành đốt sinh dục, mang đôi chân 5
có nhiều biến đổi và rất nhỏ so với chân 1 - 4; tiếp theo là các đốt bụng 8, 9, 10.
+ Phần đuôi (Fuca): chia làm hai nhánh, mỗi nhánh có 4 tơ đuôi.
- Phát triển của Mesocyclops:
Mesocyclops có biến thái hoàn toàn, sự phát triển này tương đối đặc biệt
liên quan đến sự hình thành liên tục các đốt và phần phụ sau mỗi lần lột xác:
+ Giai đoạn Nauplius (N): Trứng nở ra ấu trùng được gọi là Nauplius, 6
giai đoạn (từ N1 - N6), đã xuất hiện ăng ten 1, 2, phần phụ miệng, chân rất nhỏ
kích thước vài micromet.
+ Giai đoạn tiếp theo Copepodit (C): gồm 5 giai đoạn (từ C1 - C5); từ
Nauplius đến C1 là thời kỳ biến đổi hình thái mạnh mẽ nhất: phân đốt, tăng
kích thước, hoàn thiện các cấu trúc ăng ten, phần phụ miệng và đôi chân thứ
nhất. Hình thể của C1 - C5 hoàn toàn khác nhau, chúng ta có thể dựa vào số đốt
đẻ phân biệt các giai đoạn. Giới tính có thể nhận biết từ C3, nhưng chỉ sau lần
lột xác thứ 6 thì sự thành thục sinh dục mới được xác định rõ ràng.
- Sinh sản: Mesocyclops sinh sản hữu tính thông qua giao phối; con đực
nhỏ hơn con cái, có bó sinh tinh nằm ở đốt ngực 5 - 6, ăng ten cong về phía
trước; con cái có túi chứa tinh ở đốt sinh dục nên chỉ cần một lần giao phối
cũng đủ tinh trùng thụ tinh cho nhiều lứa trứng. Khả năng sinh sản của
Mesocyclops rất cao; trung bình một con cái có thể đẻ 25 - 50 con mỗi lứa và
lập lại sau 5 ngày; khả năng này tuỳ thuộc vào điều kiện sống như nhiệt độ,
thiên địch và đặc biệt là thức ăn; chính vì thế chúng có thể khôi phục quần thể
nhanh chóng trong điều kiện thuận lợi [31], [38].


17
Chu kỳ phát triển của Mesocyclops rất ngắn; trong điều kiện phòng thí


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status