Luận văn thạc sĩ Nông nghiêp Nghiên cứu biện pháp canh tác ngô, lúa nương bền vững trên đất dốc tại xã Ia Dom huyện Đức Cơ tỉnh Gia Lai - Pdf 41

Header Page 1 of 166.
BỘ GIÁO DỤC ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC TÂY NGUYÊN
-----------------------------

LƯƠNG ĐỨC TRÍ

NGHIÊN CỨU BIỆN PHÁP CANH TÁC
NGÔ, LÚA NƯƠNG BỀN VỮNG TRÊN ĐẤT DỐC
TẠI XÃ IA DOM HUYỆN ĐỨC CƠ TỈNH GIA LAI

LUẬN VĂN THẠC SĨ NÔNG NGHIỆP

Footer Page 1 of 166.

Buôn Ma Thuột năm 2009


Header Page 2 of 166.
BỘ GIÁO DỤC ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC TÂY NGUYÊN
-----------------------------

LƯƠNG ĐỨC TRÍ

NGHIÊN CỨU BIỆN PHÁP CANH TÁC
NGÔ, LÚA NƯƠNG BỀN VỮNG TRÊN ĐẤT DỐC
TẠI XÃ IA DOM HUYỆN ĐỨC CƠ TỈNH GIA LAI

Chuyên ngành: TRỒNG TRỌT
Mã số: 4.01.01

mạnh và thời gian canh tác bị rút ngắn, thường chỉ trồng ñược 2-3 vụ cây
lương thực ngắn ngày với năng suất thấp, cuộc sống của nông dân trong vùng
rất khó khăn ( Thái Phiên, Nguyễn Tử Siêm 2002)[16], (Lê Quốc Doanh, Hà
Đình Tuấn, Andre Chabanne 2006)[2]
Ia Dom là một xã vùng sâu, giáp biên giới Cam Pu Chia. Đây là
vùng ñất có nhiều ñồi núi, ñịa hình phân cắt, quá trình xói mòn ñang ñe dọa,
ñộ phì nhiêu không ñồng ñều giữa các vùng trong xã. Lượng mưa khá cao
trong năm, song phân bố tập trung theo mùa, thường gây nên hạn hán trong
mùa khô, ngập lụt trong mùa mưa, ảnh hưởng rất lớn ñến chất lượng mùa
màng. Trong khi ñây là vùng có dân trí thấp, kinh nghiệm trong sản xuất nông
nghiệp cũng như thâm canh cây trồng chưa cao.

Footer Page 3 of 166.


Header Page 4 of 166.

2

Lúa nương và ngô là những loại cây trồng chủ ñạo, ñem lại nguồn
thu nhập chính cho người dân tại xã Ia Dom. Song kỹ thuật canh tác 2 loại
cây trồng này còn nhiều hạn chế. Người dân ở ñây chủ yếu sử dụng giống ñịa
phương có ñộ lẫn tạp cao, không ñầu tư ñúng mức về phân bón, áp dụng chưa
thoả ñáng các biện pháp kỹ thuật bảo vệ và nâng cao ñộ phì nhiêu ñất...nên
năng suất thu ñược thường thấp, bấp bênh, ñất ñai bị xói mòn, rửa trôi mạnh,
ñộ phì nhiêu nhanh chóng sụt giảm, có trường hợp chỉ qua 3 - 5 năm canh tác
ñất ñã bị thoái hoá ñến mức mất sức sản xuất.
Nhằm từng bước khai thác hợp lý và có hiệu quả tiềm năng ñất dốc
tại ñịa phương, ổn ñịnh ñời sống xã hội và gìn giữ môi trường, chúng tôi tiến
hành ñề tài: “Nghiên cứu biện pháp canh tác Ngô, lúa nương bền vững

phủ lớp mặt kém và cường ñộ mưa lớn. Khi hạt mưa rơi trực tiếp xuống mặt
ñất, ñộng năng của hạt mưa sẽ phá vỡ các hạt kết khỏi ñất và chuyển dịch ñi
nơi khác theo dòng chảy (Beasley R. P. 1972) [27]. Như vậy ñất bị xói mòn,
rửa trôi ngày càng trầm trọng, nếu chúng ta không có biện pháp tích cực ngăn
chặn, hậu quả là ñất thoái hoá bạc màu, khô cằn trơ sỏi ñá, mất sức sản xuất.
Muốn giảm thiểu xói mòn ñất do mưa, trước hết mặt ñất phải ñược
che phủ ñể hạn chế tối ña hạt mưa rơi trực tiếp xuống mặt ñất và giảm tối ña
lượng nước chảy tràn bề mặt, ñồng thời cần phải có những biện pháp hữu hiệu
làm giảm ñộ cao của ñịa hình. Để thực hiện ñược ñiều ñó một cách hiệu quả,
khi canh tác cây trồng trên ñất dốc cần phải áp dụng những biện pháp kỹ thuật
tiến bộ và thâm canh, luân canh giúp cây sinh trưởng phát triển tốt, nâng cao
ñộ che phủ cho ñất ñồng thời kết hợp bằng biện pháp công trình hay những
băng chắn bằng sinh học ñể ngăn chặn dòng chảy bề mặt, hạn chế ñất bị xói
mòn.
Với cây lương thực như ngô và lúa nương, khả năng che phủ ñất
vốn dĩ ñã kém, kết hợp với phương thức trồng ñộc canh theo tập quán ñịa
phương ñã làm cho ñất bị xói mòn, rửa trôi ngày càng trầm trọng
Bên cạnh những tác ñộng xấu của thiên nhiên ñối với ñất ñồi núi
dốc, thì con người cũng là một trong những tác nhân gây không ít ñến sự sụt
giảm và thoái hoá ñất ñai thông qua quá trình sản xuất. Trong quá trình sản
xuất người ta chỉ biết khai thác dinh dưỡng trong ñất một cách triệt ñể, mà ít

Footer Page 5 of 166.


Header Page 6 of 166.

4

nghĩ ñến việc trả lại dinh dưỡng cho ñất khi cây trồng ñã lấy ñi. Có chăng chỉ

Header Page 7 of 166.

5

vệ ñất thì một thời gian không lâu ñất canh tác sẽ bị sụt giảm dinh dưỡng dẫn
ñến quá trình ñất bị thoái hoá bạc màu mất sức sản xuất.
Theo tính toán của Oldeman R.L. và ctv (1990) [36], trong vòng 45
năm (từ 1945 ñến 1990) có 1,97 tỷ hecta ñất bị thoái hoá, trong ñó có khoảng
330 triệu hecta thoái hoá nặng và ước chừng 9 triệu hecta bị thoái hoá trầm
trọng. Các châu lục có diện tích ñất thoái hoá lớn nhất là Châu á: 453 triệu
hecta, châu Phi: 321 triệu hecta, làm ảnh hưởng không nhỏ ñến sức sản xuất
lương thực trong nước cũng như trên toàn cầu.
Thống kê của Hary Eswaran, Rattan Lal và Paul F. Reich (1999)
[30] cho thấy: Bình quân hàng năm trên phạm vi toàn cầu mất ñi 75 tỷ tấn ñất
do xói mòn từ diện tích ñất canh tác và ñất không ñược che phủ. Trong các
châu lục, ñất bị xói mòn mạnh nhất là Châu á, Châu Phi và Nam Mỹ.
Theo tính toán của Lal R. and Stewart B.A., (1990) [32], bình quân
xói mòn ñất khoảng 30-40 tấn/ha/năm. Trong khi ñó khả năng hình thành ñất
từ ñá mẹ qua quá trình phong hoá nhiều nhất cũng không quá một tấn
/ha/năm. Đó là nguyên nhân chính làm mỏng dần tầng canh tác, ñất thoái hoá
trơ sỏi ñá, dẫn ñến sản xuất không hiệu quả. Xói mòn ñã làm giảm mạnh năng
suất cây trồng, như ở Châu Phi từ 2 ñến 40%, Châu á ước tính lương thực
hàng năm cũng bị giảm 36 triệu tấn/ năm, tương ñương với 5,4 tỷ ñôla. Chính
vì vậy mặc dù xói mòn ñất xảy ra từ hàng thế kỷ nay, nhưng hiện tại và tương
lai trong thế kỷ 21 vẫn sẽ là nội dung cần phải quan tâm nghiên cứu trên
phạm vi toàn cầu.
Để minh chứng cho sự quan tâm ñầu tư trí tuệ của các nhà khoa học
không chỉ riêng ở Việt nam mà trên toàn thế giới, cũng như chính phủ các
nước ñối với việc nghiên cứu các vấn ñề bức xúc vùng ñất dốc ñã ñưa lại
những kết quả rất khả quan. Qua những kết quả nghiên cứu cho thấy:

chống xói mòn, hấp thu CO2 từ không khí nhiều hơn và giải phóng O2 nhiều
hơn, ñã hạn chế rất lớn về tổn thất do xói mòn, rửa trôi và bay hơi của phân
khoáng. Đồng thời cây trồng ñược bón phân thì hiệu lực sử dụng nước cao
hơn rất nhiều so với cây không ñược bón phân, ñặc biệt là ñối với những vùng
canh tác trên ñất dốc dựa vào nước mưa là chính. Qua theo dõi thí nghiệm cây
lương thực, tác giả còn ñưa ra nhận xét: Bón phân không những làm tăng sinh
khối cây ngô một cách rõ rệt mà còn kéo dài tuổi thọ của lá trên cây, ñồng
thời năng suất tăng từ 20 - 36% và ổn ñịnh nhiều năm so với ñối chứng.

Footer Page 8 of 166.


Header Page 9 of 166.

7

Thái Lan là một quốc gia khá thành công trong lĩnh vực sử dụng ñất
dốc. Các công thức ñộc canh lúa nương hiệu quả thấp ñược thay thế bằng ñậu
tương - lúa ñã làm cho tổng giá trị sản phẩm tăng gấp ñôi, mức ñộ xói mòn ít
hơn và ñộ phì nhiêu ñất cũng ñược cải thiện hơn.
Ở Mabini, Thái Lan người ta nghiên cứu các biện pháp trồng ngô
theo băng, kết hợp bón phân cho thấy: Hạn chế ñược lượng nước trôi và ñất
mất do xói mòn rất ñáng kể, năng suất cây trồng tăng 65 – 98% và hiệu quả
kinh tế thu ñược cũng cao hơn so với phương thức canh tác truyền thống của
nông dân (Maglinao, 1995)[33]
Các nghiên cứu ñối với ngô trồng trên ñất dốc ở miền nam Trung
Quốc theo Yin Dixin (1995)[44] kết luận: Trồng ngô theo biện pháp canh tác
truyền thống của nông dân ñịa phương thì ñất mất do xói mòn hàng năm là rất
lớn, tới 42tấn/ha/năm. Trong khi ñó trồng ngô theo băng kết hợp trồng xen
cây cốt khí và có bón phân thì lượng ñất trôi hàng năm giảm xuống còn

làm băng chắn bảo vệ ñất ñồi núi dốc, kết hợp cắt tỉa lượng sinh khối chất
xanh từ băng chắn vùi vào ñất, ñã duy trì ñược tốt nhất hàm lượng hữu cơ và
ñạm trong ñất, nên năng suất cây trồng cao nhất và ổn ñịnh qua 3 năm liên tục
( 3,7 tấn/ha ñối với lúa nương, 0,431 kg/m2 ñối với tỏi). Do ñó, có thể nói
băng chắn hạn chế ñược xói mòn ñất, ñồng nghĩa với duy trì ñược ñộ phì
nhiêu của ñất, làm tăng năng suất cây trồng.
Khi nghiên cứu hệ thống canh tác trên ñất dốc Naik Sinukaban
(1994)[35] ñã rút ra ñược kết luận: Khi áp dụng các biện pháp canh tác trên
ñất dốc ñối với cây ngắn ngày như lúa nương, ngô, lạc.. thì cần phải kết hợp
trồng xen các giống cây phân xanh cây họ ñậu, hoặc sử dụng băng cỏ phủ ñất
và trồng theo ñường ñồng mức sẽ mang lại hiệu quả cao hơn, năng suất cây
trồng chính sẽ tăng 25 - 50% và mức ñộ thiệt hại do xói mòn, rửa trôi cũng
giảm xuống, ñộ phì nhiêu của ñất ñược bảo vệ tốt hơn.
Việc nghiên cứu về bón phân cải thiện ñộ phi nhiêu của ñất dốc, làm
tăng năng suất cây trồng cũng thường xuyên ñược các nhà khoa học ñề cập.
Theo Ernt Mutert và Thomas Fairhust (1997)[4] nguyên nhân làm cho ñộ phì
nhiêu của ñất dốc kém là do ñộ ñộc của nhôm, mangan, sắt bên cạnh thiếu
lân, canxi, kali... Phần lớn ñất dốc xẩy ra phong hoá mạnh và dễ bị rửa trôi
các chất dinh dưỡng. Vì vậy cần bổ sung các chất dinh dưỡng bị thiếu và duy
trì ñộ phì nhiêu của ñất bằng cách thông qua con ñường bón phân.

Footer Page 10 of 166.


Header Page 11 of 166.

9

Theo Siegfried Lampe (1997)[18] Việc sử dụng phân bón không
ñầy ñủ trong sản xuất nông nghiệp thì hoàn toàn không thể ñáp ứng ñủ lương

Header Page 12 of 166.

10

ñất. Wargiono J. và ctv cho rằng ngay cả khi bón phân cho sắn trồng thuần,
cho lúa - ñậu tương xen canh và cho ngô trồng thuần thì năng suất tăng 1,5 - 2
lần, ñồng thời xói mòn ñất cũng giảm so với không bón theo thứ tự là 35%,
11% và 19%, còn nếu bón phân cho hệ thống cây trồng xen lạc-sắn có băng
cỏ voi chắn xói mòn hiệu quả cao hơn rất nhiều.
Tại Philippin, người ta sử dụng biện pháp trồng cây hàng năm theo
băng kết hợp trồng một số cây làm hàng rào theo ñường ñồng mức. Kết quả
cho thấy ñây là biện pháp canh tác bảo vệ ñất chống xói mòn hiệu quả nhất
trên ñất ñồi, giảm lượng nước trôi và ñất xói mòn xuống còn 20 - 70% so với
kỹ thuật của nông dân là trồng dọc dốc. Độ phì nhiêu của ñất cũng ñược cải
thiện thông qua tàn dư hữu cơ từ hàng rào ñược cắt xén vùi vào ñất hàng năm,
năng suất lúa ngô, sắn cũng ñược tăng lên rất ñáng kể, từ 15 – 40%. Hàng rào
trồng theo ñường ñồng mức còn có tác dụng làm giảm ñộ dốc của ñất ñồi,
hình thành ruộng bậc thang dần (Hernandez. L. G. 1996)[31].
Mohd Noor Yusoff (1994)[43] cho rằng: Bón phân hữu cơ cho ñất
ñồi trồng cây ngắn ngày như bắp, lúa cạn hay cây lâu năm như cao su, ñồng
thời trồng xen cây họ ñậu ñã có tác dụng làm tăng ñộ xốp, giảm dung trọng
ñất cũng như vùi tàn dư cây trồng trên ruộng ñã làm tăng pH, giảm nhôm di
ñộng và tăng CEC rất ñáng kể, ñã ñưa năng suất cây trồng tăng 15% ñối với
cao su, 20% ñối với lúa cạn và 33% ñối với bắp.
Việc sử dụng phân bón không chỉ ảnh hưởng tới năng suất, phẩm
chất cây trồng mà còn ảnh hưởng ñến môi trường ñất cũng như tuổi thọ canh
tác của ñất.
Theo Ernst và Thomas Faihurst (1997) [4], canh tác trên ñất dốc, sự
làm giảm ñộ phì là do xói mòn, rửa trôi, ñồng thời cây trồng ñã lấy ñi chất
dinh dưỡng trong ñất ñể tạo nên sinh khối thực vật và sản phẩm của cây. Qua

trung nghiên cứu các biện pháp canh tác hợp lý, trên cơ sở kết hợp hài hoà
giữa kiến thức bản ñịa và công nghệ tiên tiến ñể bảo vệ ñất. Nhằm tiến tới một
nền nông nghiệp bền vững, có hiệu quả. Tuỳ từng ñiều kiện cụ thể của từng
vùng, từng ñịa phương mà ñưa ra những giải pháp cho phù hợp.
Những giải pháp ñược người dân chấp nhận thường ñơn giản, dễ
làm nhưng có hiệu quả. Vì có sự kết hợp hài hoà giữa ñiều kiện tự nhiên và
tính ñặc thù của từng vùng kinh tế ñể thiết lập các hệ thống canh tác phù

Footer Page 13 of 166.


Header Page 14 of 166.

12

hợp. Đối với cây nông nghiệp ngắn ngày như lúa, ngô, sắn và ñậu ñỗ ñã có
nhiều nghiên cứu ñưa lại kết quả khả quan:
Lương Đức Loan và ctv (1979) [9] ñã ñưa ra những giải pháp
chống xói mòn ñất như giải pháp công trình, giải pháp trồng băng cây phân
xanh ngang dốc, giải pháp trồng xen, trồng gối, giải pháp tủ gốc. Tác giả cho
rằng giải pháp công trình là giải pháp hữu hiệu nhất, vì về cơ bản nó triệt
tiêu ñược dòng chảy, lượng ñất trôi hầu như không ñáng kể, nhưng nông dân
khó thực hiện, và ñó là một biện pháp tốn kém (một hecta mất 300-550
công), hơn thế nữa tầng mùn bị xáo trộn dẫn ñến ñại ña số trường hợp năng
suất cây trồng vụ ñầu ñều thấp, buộc phải ñầu tư phân hữu cơ, phân hóa học
mới có thu hoạch cao. Đào mương ñắp bờ cũng là một biện pháp hữu hiệu:
Đào mương lượng ñất xói mòn giảm 60% và năng suất lúa nương tăng 200%
so với ñối chứng. Giải pháp trồng băng cây phân xanh ngang dốc cho kết
quả khá tốt : Với hai loại cây phân xanh dùng ñể trồng là muồng lá tròn
(Crotalaria strata) và cỏ Stylo (Stylosanthes gracilis), lượng ñất xói mòn

dụng phế phụ phẩm ñể che phủ ñất, cụ thể trồng ngô, sắn, lúa nương xen các
loại ñậu ñỗ vừa thu ñược các sản phẩm của cây trồng xen vừa dùng tàn dư
thân lá, rễ làm vật liệu giữ ẩm và làm phân bón. (Nguyễn thị Dần, 1996)[1].
Kết quả nghiên cứu của tác giả Đậu Cao lộc(1998)[12], canh tác
trên ñất dốc ở Hoà Bình cho thấy trong các biện pháp sử dụng băng chắn cho
các cây ngắn ngày ñã làm giảm dòng chảy trên bề mặt xuống so với không có
băng chắn là 58 - 69%, lượng ñất xói mòn giảm xuống còn 48 – 51%. Biện
pháp ñầu tư phân bón cho cây trồng cũng có tác dụng làm giảm xói mòn ñất
xuống 10%. Trong các cây trồng: sắn, ngô, lạc, ñậu ñen, ñậu hồng ñáo, lúa
nương trồng băng cốt khí, muồng hoa vàng, lượng nước trôi và mất ñất ít nhất
và năng suất thu ñược tăng cao nhất. Trong 6 năm nghiên cứu lượng nước trôi
3.932m3/ha(33%) và ñất mất 21,8tấn/ha/năm (31%) so với các cây trồng
thuần và năng suất cây trồng chính tăng từ 25 – 48%.
Theo Thái Phiên, Nguyễn Tử Siêm (1997)[14] ,canh tác lúa nương
rẫy trên ñồi bón ñầy ñủ các loại phân: Phân chuồng, N, P, K ñã làm tăng năng
suất lúa lên rất ñáng kể. Sử dụng phân bón kết hợp với các biện pháp canh tác
như trồng cây theo ñường ñồng mức, trồng băng chắn cây muồng hoa vàng,
cốt khí có tác ñộng rất tích cức ñến việc bảo vệ ñất xói mòn, rửa trôi và năng
suất cây trồng tăng lên từ 25 – 47%.

Footer Page 15 of 166.


Header Page 16 of 166.

14

Nếu như trên ñất ñồng bằng thâm canh quá trình thuộc hóa ñất là xu
thế chủ ñạo thì trên ñất dốc do quá trình canh tác bất hợp lý diễn ra từ lâu
trong những ñiều kiện bất lợi, quá trình thoái hoá ñất xãy ra phổ biến. Hiện


15

canh, xen canh, ñầu tư phân bón, sử dụng cây phân xanh giống họ ñậu làm
băng chắn ñể bảo vệ ñất giảm dòng chảy, giảm cường ñộ xói mòn, ñồng thời
làm tăng năng suất cây trồng, tăng hiệu quả kinh tế, Trần Đức Toàn, Huỳnh
Đức Nhân và ctv (1998) [24].
Nghiên cứu một số biện pháp canh tác hợp lý cho các cây trồng
chính tại huyện Cư Mgar- Dak Lak, Lê Phú Hanh (2003)[5] ñã nhận xét: Trên
ñất dốc ñối với cây hàng năm nói chung và cây ngô, lạc nói riêng, nếu canh
tác không có biện pháp bảo vệ ñất tốt thì mức ñộ xói mòn rất lớn, lớn hơn
nhiều các loại cây lâu năm. Do vậy trong quá trình canh tác nên sử dụng các
biện pháp trồng xen băng phân xanh ñể hạn chế tối ña lượng ñất trôi và dinh
dưỡng mất ñi do xói mòn. Bên cạnh ñó cần phải biết sử dụng những giống có
năng suất cao, phẩm chất tốt và có chế ñộ bón phân hợp lý.
Theo Nguyễn Tử Siêm, Thái Phiên ( 1993 – 1995)[20], trên vùng
ñất dốc Tây nguyên có thể dùng các loại cây phân xanh bảo vệ và cải tạo ñất
chống xói mòn, ñó là cây cốt khí, cây muồng hoa vàng và ñậu mèo thái lan.
Tác giả ñã nhận ñịnh về các ñặc tính ưu việt của từng loại cây: Cây cốt khí,
cây muồng hoa vàng thích nghi với mọi ñiều kiện của khí hậu, cây chịu hạn
tốt, thời gian sinh trưởng phát triển dài, cho sinh khối lớn 30 – 36tấn/ha. Hàm
lượng dinh dưỡng trong thân, lá, rễ rất cao do vậy hàng năm có khả năng cung
cấp một lượng dinh dưỡng lớn cho ñất. Đối với cây ñậu mèo Thái Lan có tốc
ñộ sinh trưởng phát triển mạnh, khả năng che phủ ñất nhanh, cung cấp một
lượng chất xanh lớn, rễ cây có nhiều nốt sần do vi khuẩn cố ñịnh ñạm tạo nên.
Cây sinh trưởng tốt trong mùa mưa, mùa nắng cây khô héo tạo thành một lớp
thảm phủ hữu cơ dày. Cây có tác dụng bảo vệ ñất chống xói mòn, hạn chế cỏ
dại, khả năng giữ ẩm tốt, cải thiện tính chất lý, hoá ñất.
Lạc dại, ñậu mèo, cỏ Ghinê, ñậu stylo, Cassia... có giá trị sử dụng
cao và cũng có khả năng che phủ tốt nên có thể sử dụng ñể tiêu diệt ñược các

Trong nghiên cứu canh tác truyền thống trên ñất dốc, với vấn ñề
sử dụng bền vững, Thái phiên, Mai Văn Trịnh, Elizabeth (1998) [15] nhận
xét: Các hình thức canh tác nương rẫy không có biện pháp cải tạo, bón phân,
bảo vệ ñất…làm ñất bị rửa trôi, xói mòn, năng suất cây trồng ngày một
giảm, sức sản xuất của ñất giảm sút. Vì vậy tác giả ñã kết luận: Trước sự
giảm sút về năng suất cây trồng, ñất ngày một bị nghèo kiệt thì người dân
cần áp dụng bón phân, ñồng thời kết hợp với những biện pháp chống xói

Footer Page 18 of 166.


Header Page 19 of 166.

17

mòn, cụ thể ñối với ngô bón 30kg N/ha + 20kg K2O, năng suất ngô tăng lên
2,5tấn/ha so với không bón.
Đối với cây ngắn ngày, canh tác trên ñất dốc áp dụng các kỹ thuật
tiến bộ ñồng thời bón phân cho cây trồng chính, kết hợp trồng băng cây phân
xanh bảo vệ ñất ñã ñưa năng suất tăng từ 30 – 90% ñối với cây ngắn ngày như
lúa, ngô, lạc ñồng thời làm giảm lượng ñất xói mòn từ 20 – 60% so với
phương thức canh tác của nông dân. Như vậy vừa bón phân vừa trồng băng
cây xanh chống xói mòn là biện pháp kỹ thuật cho năng suất cây trồng và hiệu
quả kinh tế cao nhất (Trần thị Tâm, Thái Phiên, La Nguyễn 1998)[22].
Thái Phiên, Nguyễn Tử Siêm (2002)[16] có nhận xét: Biện pháp
sinh học tạo ra lớp phủ cây trồng có ý nghĩa quyết ñịnh trong việc giảm lượng
nước bị trôi và lượng ñất bị xói mòn xuống 50 - 60% so với ñối chứng. Năng
suất ngô, lúa tăng 15 - 25%, mặc dù hàng rào cây xanh họ ñậu chiếm khoảng
10% diện tích. Việc trả lại chất hữu cơ thông qua chất xanh cắt tỉa từ hàng rào
cây xanh và từ phụ phẩm cây trồng có tác dụng lớn vì có thể làm nguyên liệu

thuần không ñầu tư hay ñể ñất trống thì lượng nước trôi và ñất mất rất lớn
trung bình hàng năm 2.700 - 3.700m3 nước trôi/ha, 2,1 - 2,7 tấn ñất mất/ha.
Các biện pháp có ñầu tư phân bón thấp hoặc cao kết hợp trồng xen băng cốt
khí hoặc kết hợp trồng xen keo lá tràm ở tầng cao lượng nước trôi giảm xuống
chỉ còn 56 - 59%, ñất mất 37 - 45% so với ñất trống (Nguyễn Văn Trường,
1994)[25]
Đất bazan ở Tây nguyên năm ñầu khai phá rừng hàm lượng hữu
cơ trong ñất từ 5,5 - 6,2%, nhưng sau 5 năm canh tác lúa, ngô, không ñầu tư
phân bón cũng như không có biện pháp bảo vệ ñất lượng hữu cơ trong ñất
chỉ còn lại 1,8 - 2,3%. Nghiên cứu trên ñất phiến thạch sét (Phú Thọ) cũng
cho kết qủa tương tự: hàm lượng hữu cơ trong ñất ban ñầu là 3,5%, sau 5
năm trồng lúa nương, ngô, sắn, không bón phân lượng hữu cơ chỉ còn lại
0,9%, ñất không còn khả năng sản xuất (Thái Phiên, Trần Đức Toàn, 1997)
[14].

Footer Page 20 of 166.


Header Page 21 of 166.

19

CHƯƠNG 2

ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

2.1. Đối tượng nghiên cứu:
- Đất: Nâu ñỏ bazan (Rhodic Ferralsols)
- Cây trồng: Ngô VN10
- Lúa: LC 93-1, Cúc ñịa phương

Tài nguyên nước trên ñịa bàn xã khá phong phú, có nhiều con suối
nhỏ hợp thành những dòng chảy. Tuy nhiên lượng nước phân bố không ñều,
mùa mưa chiếm trên 85% tổng lượng nước và mùa khô chỉ có khoảng 15%
lượng nước do ñó ñã xảy ra hạn cục bộ ở một số vùng gây thiệt hại cho sản
xuất. Trên ñịa bàn xã không có hồ lớn chứa nước phục vụ cho tưới tiêu cũng
như phát triển thuỷ sản.
Toàn xã có 4.118 người với 887 hộ, trong ñó Dân tộc Jrai chiếm
44,27%. Tốc ñộ phát triển dân số của xã còn cao, xấp xỉ 3,8%/ năm. Trình ñộ
dân trí không ñồng ñều và còn thấp nhiều so với bình quân của cả tỉnh Gia
Lai.
Cây trồng chủ yếu của xã là cây lương thực, thực phẩm như: lúa cạn, ngô,
sắn, ñậu các loại… Ngoài ra một số vùng trồng cây công nghiệp dài ngày
như: cao su, cà phê, hồ tiêu…
2.3. Nội dung nghiên cứu:
- Nghiên cứu ảnh hưởng các biện pháp canh tác ñến sinh trưởng,
năng suất lúa nương và ngô trên ñất dốc.
- Nghiên cứu ảnh hưởng của biện pháp canh tác ñến ñộ phì nhiêu ñất .
2.4. Phương pháp nghiên cứu:
2.4.1. Bố trí thí nghiệm ñồng ruộng
- Thí nghiệm 1: Nghiên cứu biện pháp canh tác lúa nương bền vững trên ñất
dốc

Footer Page 22 of 166.


Header Page 23 of 166.

21

Gồm 5 công thức như sau:

T4

T5

T4

T3

T5

T2

T1

T2

T5

T4

T1

T3

T5

T1

T2


+ Tiến hành trên ñất dốc: 10-15o
+ Giống ngô LVN10
+ Giống lạc: GV3
+ Mức phân bón: 90N-60P2O5-90K2O
+ Băng chắn muồng hoa vàng và cốt khí trồng ngang dốc, khoảng cách 5m/băng
+ PPP: phụ phế phấm ñược trả lại cho ñất

Thí nghiệm ñược bố trí theo khối ñầy ñủ ngẫu nhiên, nhắc lại 5 lần.
Diện tích ô cơ sở: 15m x 5m = 75m2, tổng diện tích 20 ô x 75m2 = 1500m2.
Sơ ñồ bố trí thí nghiệm 2:

Hướng trên dốc

LẦN NHẮC
I

T1

T2

T3

T4

T4

T3

T1


LẦN NHẮC
IV
LẦN NHẮC
V

Hướng dưới dốc

Footer Page 24 of 166.


Header Page 25 of 166.

23

- Thí nghiệm 3: Nghiên cứu công thức luân canh ngô
Gồm 4 công thức như sau
• T1: Ngô một vụ
• T2: Ngô hai vụ
• T3: Ngô vụ một, lạc vụ hai
• T4: Lạc vụ một, ngô vụ hai
Chú thích:
+ Thời gian thí nghiệm: 2006 – 2007. Thời gian gieo:Vụ 1 tháng 5 vụ 2 tháng 8
+ Địa ñiểm:Thôn Mook Đen, xã Ia Dom huyện Đức Cơ
+ Tiến hành trên ñất dốc: 10-15o
+ Giống ngô LVN10
+ Giống lạc: GV3
+ Mức phân bón cho ngô: 90N-60P2O5-90K2O
+ Mức phân bón cho lạc: 30N-90P2O5-60K2O

Thí nghiệm ñược bố trí theo khối ñầy ñủ ngẫu nhiên, lần nhắc lại 5 lần.

T4

T2

T3

T1

T2

T4

T1

T3

I
LẦN NHẮC
II
LẦN NHẮC
III
LẦN NHẮC
IV
LẦN NHẮC
V

Sau 2 năm nghiên cứu, tiến hành xây dựng mô hình kiểm chứng kết
quả thí nghiệm vào năm 2008, với thiết kế như sau:

Footer Page 25 of 166.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status