tóm tắt luận án tiến sĩ nông nghiệp nghiên cứu biện pháp kỹ thuật trồng đậu tương xuân trên đất dốc ở tỉnh bắc kạn - Pdf 24


BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRẦN VĂN ĐIỀN

NGHIÊN CỨU BIỆN PHÁP KỸ THUẬT
TRỒNG ĐẬU TƯƠNG XUÂN TRÊN ĐẤT DỐC
Ở TỈNH BẮC KẠN

Chuyên ngành: Trồng trọt
Mã số: 62 62 01 01

TÓM TẮT LUẬN ÁN TIẾN SĨ NÔNG NGHIỆP

Thái Nguyên, 2010


7. Các biện pháp che phủ bằng cỏ và rơm rạ khô, phân xanh hoặc nilon
kết hợp với các băng chắn xói mòn là những băng cỏ tự nhiên không
những giảm lượng đất bị xói mòn từ 35-66%, còn có tác dụng làm
tăng năng suất đậu tương lên từ 7-14% và tăng hiệu quả kinh tế từ
15-17% so với công thức không thiết lập b
ăng cỏ hạn chế xói mòn
và không che phủ giữ ẩm.
8. Các biện pháp kỹ thuật cải tiến đề xuất dựa trên kết quả nghiên cứu
đã được người dân ở Bắc Kạn triển khai trên 35 ha mô hình thâm
canh đậu tương xuân trên đất dốc cho năng suất bình quân đạt 19,57
tạ/ha, vượt năng suất đậu tương ngoài mô hình tới 48,4%.
ĐỀ NGHỊ
1. Triển khai tiếp các nghiên cứu về quản lý sâu b
ệnh hại tổng hợp
(IPM) trên cây đậu tương xuân để giảm chi phí thuốc bảo vệ thực
vật và đảm bảo an toàn vệ sinh sản phẩm hạt đậu tương.
2. Tiếp tục nghiên cứu các biện pháp kỹ thuật đưa giống đậu tương
ĐT22 vào cơ cấu cây trồng vụ xuân cho chân đất ruộng 1 vụ lúa
không chủ động nước tại tỉnh Bắc Kạn.1
MỞ ĐẦU
Tính cấp thiết của đề tài: Tỉnh Bắc Kạn có 37,7 nghìn ha đất
cho sản xuất nông nghiệp, trong đó diện tích đất dốc dành cho các
cây màu chiếm 12,5 nghìn ha (Cục Thống kê tỉnh Bắc Kạn, 2007).
Đậu tương là một cây trồng quan trọng đứng thứ 3 sau cây lúa và cây
ngô, nhưng hiện nay người dân ở tỉnh Bắc Kạn chủ yếu vẫn chỉ trồng
một vụ đậu tương hè. Khoảng 65% qu
ỹ đất dốc (8,0 nghìn ha) của tỉnh

khuyến nông các cấp và nông dân của tỉnh Bắc Kạn lựa chọn được
những giống đậu tương tốt và biện pháp k
ỹ thuật thâm canh phù hợp
với điều kiện canh tác đất dốc trong vụ xuân ở tỉnh. Kết quả nghiên

2
cứu của đề tài giúp cho tỉnh phát triển thêm một vụ đậu tương xuân
trên những diện tích đất dốc thường bỏ hoá trong vụ xuân, tăng hệ số
sử dụng đất dốc, duy trì và cải thiện độ phì của đất, giảm bớt dư thừa
lao động nông thôn trong vụ xuân, góp phần vào phát triển kinh tế xã
hội xoá đói giảm nghèo cho người dân trong vùng.
Mục đích: Nghiên cứu một số biệ
n pháp kỹ thuật chính nhằm
tăng năng suất cây đậu tương gieo trồng trong vụ xuân trên đất dốc,
góp phần hoàn thiện qui trình thâm canh và phát triển sản xuất đậu
tương xuân ở tỉnh Bắc Kạn.
Yêu cầu: (i) Đánh giá được thực trạng bao gồm cả các yếu tố
thuận lợi và khó khăn trong sản xuất đậu tương xuân trên đất dốc tại
tỉnh Bắc Kạn; (ii) Xác đị
nh được giống đậu tương phù hợp với điều
kiện sinh thái của tỉnh; (iii) Xác định được một số biện pháp kỹ thuật
chủ yếu trong thâm canh tăng năng suất đậu tương xuân trên đất dốc;
(iv) Xây dựng được mô hình trình diễn, bước đầu đề xuất qui trình kỹ
thuật thâm canh đậu tương xuân trên đất dốc cho tỉnh Bắc Kạn.
Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:
Đối tượng nghiên cứu
chính là các giống đậu tương mới được chọn tạo ra từ các cơ quan
nghiên cứu trong nước, có tiềm năng cho năng suất cao trong vụ xuân và
có một số đặc điểm sinh trưởng phát triển phù hợp với điều kiện canh tác
trên đất dốc ở các tỉnh miền núi phía Bắc. Các giống đậu tương được

Năm và địa điểm
Diện tích
(ha)
NSTB
(tạ/ha)
Số hộ
(hộ)
NSTB
ngoài mô
hình
(tạ/ha)
Năm 2007
Khang Ninh - Huyện Ba Bể 4,5 18,27 17 14,93
Địa Linh - Huyện Ba Bể 2,6 22,15 4 15,73
Bình Văn - Huyện Chợ Mới 7,2 17,84 32 12,34
Tổng và trung bình năm 14,3 19,42 53 14,33
Năm 2008
Nông Hạ - Huyện Chợ Mới 8,9 19,56 178 13,12
Nông Thịnh - Huyện Chợ Mới 5,2 18,47 105 12,63
Lạng San - Huyện Na Rì 3,1 19,35 16 13,28
Văn Minh - Huyện Na Rì 3,7 21,49 21 13,74
Tổng và trung bình năm 20,9 19,72 320 13,19
Tổng và trung bình 2 năm 35,2 19,57 373 13,76
KT: Kỹ thuật; NSTB: Năng suất trung bình KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ
KẾT LUẬN
1. Có tới 95,8% số hộ dân có đất dốc có thể trồng được đậu tương
xuân, nhưng mới chỉ 18,3% số hộ trồng đậu tương xuân với năng

;
- Phân bón: bón với liều lượng 30 N + 90 P
2
O
5
+ 45 K
2
O + 300
kg vôi bột;
- Phòng trừ sâu bệnh: Phun thuốc phòng trừ sâu bệnh 4 lần như
quy trình phòng trừ sâu bệnh của Trung tâm khuyến nông tỉnh
Bắc Kạn (2002);
- Biện pháp giữ ẩm và hạn chế xói mòn: Trên nương đậu tương
để băng cỏ tự nhiên rộng 0,5 m; đất trồng được che phủ bằng
cây phân xanh sẵn có tại địa phương với lượng 3 kg/m
2
;
- Với đậu tương trồng xen: Trồng xen ngô với mật độ 15000
cây/ha (3 cây ngô/2 m
2
);
- Các biện pháp kỹ thuật khác áp dụng như Quy trình trồng đậu
tương của Trung tâm khuyến nông tỉnh Bắc Kạn (2002).
Qui trình kỹ thuật đề xuất này đã được tập huấn cho người dân để
thực hiện xây dựng các mô hình trình diễn tại địa bàn sản xuất của tỉnh.
3.4.2. Kết quả xây dựng một số mô hình thâm canh đậu tương
xuân trên đất dốc tại Bắc Kạn trong 2 năm 2007 và 2008
Kết quả triển khai một số mô hình trồng đậu tương tại một số
xã của tỉnh Bắc Kạn cho thấy giống đậu tương ĐT22 cho năng suất
khá cao và ổn định (Bảng 3.49). Năm 2007 với diện tích trồng 14,3

tương với mật độ 15000 cây ngô/ha (3 cây ngô/2 m
2
); và áp dụng
phương pháp che phủ bằng cây phân xanh để giữ ẩm đất kết hợp với
băng cỏ tự nhiên để hạn chế xói mòn.
Khối lượng và cấu trúc luận án: Luận án gồm 195 trang, 49
bảng biểu, 2 biểu đồ, 8 ảnh minh họa, 180 tài liệu tham khảo. Cấu
trúc luận án gồm 8 phần: mở đầu, tổng quan tài liệu nghiên cứu trong
và ngoài nước, vật liệu nội dung và phương pháp nghiên cứu, kế
t quả
và thảo luận, kết luận và đề nghị, một số bài báo đã công bố liên quan
đến nội dung luận án, tài liệu tham khảo và phụ lục.

CHƯƠNG 1
TỔNG QUAN TÀI LIỆU
1.1. Cở sở khoa học của việc tăng năng suất cây đậu tương
Cơ sở sinh lý của việc tăng năng suất cây trồng đã được xây
dựng bởi Charles-Edwards (1982) và nhiều nhà nghiên cứu khác thể
hiện qua công thức: năng suất kinh tế là hàm số tích của tổng sinh
khối tích lũy và hệ số thu hoạch (HI).
Năng suất kinh tế (NS) = Tổng sinh khối x HI
Các nhà ch
ọn giống và nông học thường định hướng chọn
giống và áp dụng các biện pháp kỹ thuật hợp lý để để đạt được năng
suất kinh tế cao theo một số cơ chế sau:
1.1.1. Tăng khả năng tiếp nhận năng lượng để tăng tổng sinh khối
Trong điều kiện canh tác bình thường, tỷ lệ sinh trưởng của cây
đậu tương là hàm tuyến tính của năng lượ
ng ánh sáng hấp thụ được
(Muchow and Charles-Edwards, 1982). Vì thế để tăng được tổng sinh

tương đối giữa thời kỳ sinh trưởng sinh dưỡng và sinh trưởng sinh
thực. Nhìn chung, HI sẽ tăng lên khi thời gian sinh trưởng sinh thực
chiếm tỷ lệ l
ớn hơn trong toàn bộ thời gian sinh trưởng. Chế độ ánh
sáng cũng ảnh hưởng trực tiếp đến tập tính sinh trưởng của các giống.
Ở đậu tương, điều kiện ánh sáng ngày dài sẽ làm giảm quá trình vận
chuyển vật chất khô và đạm tích lũy về hạt (Cure và các cs, 1982), làm
tăng khả năng sinh trưởng sinh dưỡng (Guiamet và Nakayama, 1984).
1.1.4. Tối ưu hóa những tính trạng có tương quan thuận với năng suất hạt
Mehetre và các cs (1998) chỉ ra rằng để chọn giống đậu tương có
năng suất cao và ổn định cho một vùng nên sử dụng các tính trạng có hệ
số di truyền cao và tương quan thuận với năng suất. Ở Việt Nam, một số
nghiên cứu về tương quan giữa các tính trạng và năng suất hạt đậu tương
đã kết luận năng suất hạt có mối tương quan thuận chắc chắn vớ
i thời gian
sinh trưởng, số quả chắc/cây, số đốt mang quả, số đốt/thân chính, chiều
cao cây, số cành cấp 1 và số hạt/quả (Nguyễn Tấn Hinh, 1992), Vũ Đình
Chính, 1995, Nguyễn Văn Lâm và Nguyễn Tấn Hinh, 2003).
1.2. Một số nghiên cứu về biện pháp kỹ thuật tăng năng suất đậu tương
1.2.1. Sử dụng giống đậu tương năng suất cao
Liu và các cs (2008) cho rằng chọn được giống
đậu tương có
năng suất cao và ổn định phù hợp với một vùng sinh thái là bước

21
tương cho năng suất cao hơn. Sự tương tác giữa biện pháp che phủ và băng cỏ
hạn chế xói mòn cũng không có ý nghĩa đối với chỉ tiêu NSTT.
Bảng 3.46. Ảnh hưởng của các biện pháp giữ ẩm và hạn chế xói
mòn đến năng suất thực thu của giống đậu tương ĐT22
Đơn vị: tạ/ha

(triệu
đồng/ha)
CT1 (không băng + không che) 9,16 21,55 12,38
CT2 (không băng + cỏ và rơm) 10,66 23,18 12,52
CT3 (không băng + phân xanh) 11,06 23,49 12,43
CT4 (không băng + nilon) 11,76 24,94 13,17
CT5 (có băng + không che) 9,16 23,20 14,04
CT6 (có băng + cỏ và rơm) 10,66 24,94 14,27
CT7 (có băng + phân xanh) 11,06 25,99 14,93
CT8 (có băng + nilon) 11,76 26,34 14,58
Trong các công thức không thiết kế băng chắn xói mòn, công
thức che phủ bằng nilon cho hiệu quả kinh tế cao nhất có lãi thuần
đạt 13,17 triệu đồng/ha. Còn trong các công thức có thiết kế băng
chắn xói mòn thì công thức che phủ bằng cây phân xanh có hiệu quả
kinh tế cao nhất có lãi thuần đạt tới 14,93 triệu đồng/ha.

20
Bảng 3.41. Ảnh hưởng của các biện pháp giữ ẩm và hạn chế xói
mòn đến lượng đất bị xói mòn sau một vụ trồng đậu tương xuân
Đơn vị: tấn/ha
Công thức
Không
băng
Băng cỏ
Trung
bình
Không che phủ 6,18 4,30
5,24
Che phủ bằng cỏ và rơm rạ khô 3,93 2,97
3,45

che phủ băng cây phân xanh đạt 28,88 tạ/ha trong ô có băng cỏ và 26,10 tạ/ha
trong ô không có băng cỏ. Sau đó là công thức che phủ bằng cỏ và rơm rạ
khô. Số liệu bảng 3.46 cũng cho thấy có sự sai khác có ý nghĩa về NSTT giữa
ô có băng cỏ và ô không có băng cỏ với mức P<0,05. Tác dụng hạn chế xói
mòn đất hay gi
ảm thiểu sự mất tầng mặt của các băng cỏ đã giúp cây đậu

5
đầu tiên quan trọng nhất đảm bảo sự thành công trong phát triển sản
xuất đậu tương. Các đặc trưng đặc tính cơ bản mà nhà chọn giống luôn
quan tâm là giống phải có khả năng thích ứng rộng, khả năng chống chịu
sâu bệnh, chống đổ, chống tách hạt và năng suất cao. Theo Trần Đình Long
và Nguyễn Thị Chinh (2005) trong vòng 20 năm qua, đã có 25 giống đậu
tương mới được công nhận giống ti
ến bộ kỹ thuật, các giống đậu tương mới
này đa dạng về thời gian sinh trưởng, chống chịu và khả năng cho năng suất
giữa các vùng sinh thái. Nhiều giống đã được xác định cho năng suất cao,
ổn định và phù hợp với điều kiện canh tác ở các tỉnh miền núi phía Bắc như
giống VX93 (Nguyễn Hữu Tâm, 2003), giống ĐVN5 (Đào Quang Vinh và
các cs, 2004), giống DT84 và DT96 (Mai Quang Vinh và các cs, 2005), và
giống ĐT22 (Tr
ần Đình Long và các cs, 2007).
1.2.2. Trồng đậu tương luân canh và xen canh với cây trồng khác
Theo Ngô Thế Dân và các cs (1999) cho rằng trồng đậu tương
luân canh và xen canh với cây trồng khác là một biện pháp kỹ thuật
truyền thống trong canh tác đậu tương ở Việt Nam. Tác giả cho biết
một số công thức trồng xen rất phổ biến ở nước ta là: hai hàng ngô
xen 4-6 hàng đậu tương hoặc một hàng ngô xen 2 hàng đậu tương,
hoặc đậu tương trồng thuần và ngô được tr
ồng xen với mật độ từ 1-2

1.2.6. Bón phân đầy đủ và cân đối cho đậu tương
Nguyễn Tử Siêm và Thái Phiên (1998) cho rằng hiệu quả của
việc sử dụng các loại phân bón N, P, K cho cây trồng trên đất đồi
chua được xác định là P cho hiệu quả
cao nhất, sau đó đến N và thấp
nhất là K. Tác giả cũng cho rằng P là một trong những yếu tố hạn chế
lớn nhất đến năng suất tất cả các cây trồng cạn như sắn, lạc, đậu
tương và lúa cạn.
1.2.7. Điều tiết nước và giữ ẩm
Trong điều kiện đất dốc quản lý tốt lớp cây che phủ, áp dụng các
biện pháp bảo v
ệ đất và nước thích hợp bao gồm các biện pháp nông học
và cơ giới sẽ duy trì sự thấm nước và giữ nước góp phần làm tăng năng
suất cây trồng (Trần Đình Long và các cs, 2005).
1.2.8. Giảm sự hư hỏng của hạt ở thời kỳ thu hoạch
Chất lượng của hạt đậu tương giảm nhanh trong điều kiện ẩm
ướt mưa cuối vụ không thu hoạch kị
p thời. Hạt bị giảm chất lượng
chủ yếu do nấm phá hại kết hợp với việc phân hủy sinh lý màng tế
bào, vì thế vỏ hạt cứng có thể làm giảm quá trình mất sức sống của
hạt (Pott và các cs, 1978). Trong điều kiện nóng và mưa nhiều cuối
vụ xuân ở Việt nam, khả năng chống tách vỏ quả để đảm bảo chất
lượng của hạ
t là một chỉ tiêu quan trọng cần được đánh giá.
1.2.9. Phòng trừ sâu bệnh hại
Sâu bệnh hại là một trong những yếu tố hạn chế quan trọng
nhất đến năng suất đậu tương. Theo Ngô Thế Dân và các cộng sự
(1999) ở Việt Nam, bệnh gỉ sắt đã gây thiệt hại trên tất cả các vùng
trồng đậu tương từ Bắc vào Nam. Tác giả cũng cho rằng có hai nhóm
sâu hại ph

trồng xen
3.3.4.3. Hiệu quả kinh tế của các phương thức trồng xen ngô với đậu tương
Sơ bộ hạch toán hiệu quả kinh tế cho thấy tất cả các công thức
trồng ngô xen vào đậu tương đều có hiệu quả kinh tế (lãi thuần) cao
hơn đậu tương trồng thuần. Công thức T4 trồng xen ngô với mật độ
15.000 cây/ha (3 cây ngô/2 m
2
đậu tương) cho hiệu quả kinh tế cao
nhất đạt 15,13 triệu đồng/ha.
Bảng 3.38. Hiệu quả kinh tế của các công thức trồng xen ngô với
đậu tương
Công
thức
Tổng chi
(triệu đồng/ha)
Tổng thu
(triệu đồng/ha)
Thu – Chi
(triệu đồng/ha)
T1 8,45 20,97 12,52
T2 9,23 22,72 13,49
T3 10,02 23,52 13,50
T4 10,81 25,94 15,13
T5 11,60 24,49 12,89
T1: trồng thuần đậu tương; T2: xen 5000 cây ngô/ha đậu tương; T3:
xen 10.000 cây ngô/ha đậu tương; T4: xen 15.000 cây ngô/ha đậu
tương; T5: xen 20.000 cây ngô/ ha đậu tương;
3.3.5. Kết quả nghiên cứu một số biện pháp giữ ẩm và hạn chế xói mòn
3.3.5.1. Ảnh hưởng của các biện pháp giữ ẩm và hạn chế xói mòn đến
lượng đất bị xói mòn

LSD(0,05) 4,50 - - 4,38 3,77
P1000 hạt: Khối lượng 1000 hạt; NSLT: Năng suất lý thuyết; NSTT:
Năng suất thực thu
T1: trồng thuần đậu tương; T2: xen 5000 cây ngô/ha; T3: xen 10.000
cây ngô/ha; T4: xen 15.000 cây ngô/ha; T5: xen 20.000 cây ngô/ ha.
Bảng 3.36. Thời gian sinh trưởng, các yếu tố cấu thành năng suất và
năng suất của ngô trong các công thức trồng xen ngô với đậu tương

Công thức
TGST
(ngày)
Số
bắp/cây
(bắp)
Số
hàng/bắp
(hàng)
Số
hạt/hàng
(hạt)
P1000
hạt
(g)
NSLT
(tạ/ha)
NSTT
(tạ/ha)
T2 118 1,40 13,9 36,2 284 9,96 7,54
T3 117 1,33 13,9 35,8 283 18,73 14,39
T4 117 1,33 13,3 35,6 282 26,81 23,43

2.1.2. Các vật liệu khác
- Phân bón: Đạm: Sử dụng đạm urê; Lân: sử dụng lân super; Ka li:
sử dụng kali clorua. Vôi: sử dụng vôi bột sản xuất tại địa phương.
- Vật liệu che phủ:
+ Cây phân xanh tươi: Cây chó đẻ (Chromolaena odorata L.)
+ Vật liệu che phủ khô: Cỏ và rơm rạ khô;
+ Nilon: Sử dụng nilon của Trung Quốc với tỷ lệ 1kg che được 28 m
2
.
- Thuốc trừ sâu bệnh: Thuốc Ofatox 400EC và Neretox 95WP
được sử dụng trong phòng trừ các loại sâu. Thuốc Score 250EC và
Anvil 5SC được dùng để phòng trừ các loại bệnh.
- Giống ngô trồng xen: Giống ngô lai NK4300 của Công ty
Syngenta đang trồng phổ biến ở Bắc Kạn được dùng là vật liệu trong
thí nghiệm trồng xen.
- Điều kiện đất đai: các thí nghiệm nghiên cứu được triển khai
trên loại đất vàng đỏ có độ dố
c <15
o
.
2.2. Nội dung nghiên cứu
Đề tài được triển khai theo 4 nội dụng chính sau:
i. Điều tra đánh giá thực trạng sản xuất đậu tương xuân trên đất
dốc tại Bắc Kạn;
ii. Nghiên cứu xác định giống đậu tương cho năng suất cao và
ổn định trong vụ xuân trên đất dốc tại Bắc Kạn;
iii. Nghiên cứu một số biện pháp kỹ thuật chủ yếu trong thâm
canh t
ăng năng suất đậu tương (thời vụ, mật độ, phân bón, kỹ
thuật trồng xen và biện pháp giữ ẩm và hạn chế xói mòn);

2003, 2004 và 2005. Cây đậu tương được gieo trồng, chăm sóc và theo
dõi các chỉ tiêu theo hướng dẫn của quy trình khảo nghiệm giống đậu
tương 10TCN 339-98 (Bộ NN & PTNT, 2001).
2.3.3. Nghiên cứu một số biện pháp kỹ thuật chủ yếu trong thâm
canh tăng năng suất đậu tương
Thí nghiệm 2
: Xác định thời vụ gieo trồng đậu tương xuân thích hợp
trên đất dốc tại Bắc Kạn
Thí nghiệm được thực hiện trong vụ xuân năm 2005. Giống
đậu tương ĐT22 có năng suất cao và ổn định nhất trong số các giống
tham gia thí nghiệm trong hai vụ xuân 2003 và 2004 được sử dụng là
vật liệu nghiên cứu. Năm thời vụ gieo được nghiên cứu đó là: thời vụ
1 (TV1): gieo ngày 25/2; thời vụ
2 (TV2): gieo ngày 7/3; thời vụ 3
(TV3): gieo ngày 17/3; thời vụ 4 (TV4): gieo ngày 27/3 và thời vụ 5
(TV5): gieo ngày 6/4. Mỗi thời vụ cách nhau là 10 ngày. Thí nghiệm
được bố trí theo kiểu khối ngẫu nhiên hoàn toàn (RCB) với 3 lần
nhắc lại, với diện tích ô thí nghiệm là 20 m
2
(5m x 4m). Cây đậu
tương được gieo trồng, chăm sóc và theo dõi như thí nghiệm 1.
Thí nghiệm 3
: Xác định mật độ gieo đậu tương xuân thích hợp trên đất
dốc tại Bắc Kạn
Thí nghiệm được triển khai trong vụ xuân năm 2005. Giống đậu
tương ĐT22 được sử dụng là vật liệu trong thí nghiệm nghiên cứu mật độ.

17
NSTT biến động từ 11,46 tạ/ha ở công thức CT1 (không bón
phân) đến 25,77 tạ/ha ở công thức CT4. Bảng 3.30 cho thấy khi

O
5
+ 0 K
2
O + 0 vôi (đối chứng); CT2: 10 N + 30 P
2
O
5
+ 15 K
2
O + 300 kg vôi;
CT3: 20 N + 60 P
2
O
5
+ 30 K
2
O + 300 kg vôi; CT4: 30 N + 90 P
2
O
5
+ 45 K
2
O + 300 kg vôi;
CT5: 40 N + 120 P
2
O
5
+ 60 K
2

(quả/cây)
Số
hạt/quả
(hạt)
P1000
hạt
(g)
NSLT
(tạ/ha)
NSTT
(tạ/ha)
20 42,0 2,04 158 27,20 19,42
30 40,6 2,00 157 38,31 25,50
40 28,6 1,98 152 34,61 23,25
50 23,4 1,91 144 32,33 21,63
60 18,1 1,85 145 29,15 18,74
CV(%) 6,9 1,0 1,8 5,8 7,3
LSD(0,05) 3,94 0,035 5,15 3,52 2,97
P1000 hạt: Khối lượng 1000 hạt; NSLT: Năng suất lý thuyết; NSTT:
Năng suất thực thu;
Kết quả nghiên cứu thu được từ thí nghiệm cho thấy trên đất
đồi dốc, giống đậu tương ĐT22 gieo trồng với mật độ 30 cây/m
2
cho
năng suất cao nhất trong vụ xuân.
3.3.3. Xác định tổ hợp phân bón thích hợp cho đậu tương xuân
gieo trồng trên đất dốc tại Bắc Kạn
Ảnh hưởng phân bón đến các yếu tố cấu thành năng suất và năng suất
Năng suất của giống đậu tương ĐT22 khác nhau có ý nghĩa
giữa các tổ hợp phân bón với độ tin cậy 99% (Bảng 3.30).

+ 0 K
2
O + 0 vôi (đối chứng);CT2: 10 N + 30 P
2
O
5
+ 15 K
2
O +
300 kg vôi;
CT3: 20 N + 60 P
2
O
5
+ 30 K
2
O + 300 kg vôi;CT4: 30 N + 90 P
2
O
5
+ 45 K
2
O + 300 kg vôi;
CT5: 40 N + 120 P
2
O
5
+ 60 K
2
O + 300 kg vôi.

2
O
5
+ 30 K
2
O + 300 kg vôi;
Công thức 4 (CT4): 30 N + 90 P
2
O
5
+ 45 K
2
O + 300 kg vôi;
Công thức 5 (CT5): 40 N + 120 P
2
O
5
+ 60 K
2
O + 300 kg vôi.
Thí nghiệm được bố trí theo khối ngẫu nhiên hoàn toàn (RCB) với 3
lần nhắc lại và với diện tích ô thí nghiệm là 20 m
2
(5m x 4m). Cây đậu tương
được gieo ở thời vụ như kết luận ở thí nghiệm 2 và mật độ tối ưu đã xác định
ở thí nghiệm 3. Các biện pháp kỹ thuật khác áp dụng như thí nghiệm 1. Các
chỉ tiêu nghiên cứu và phương pháp theo dõi tương tự như thí nghiệm 1,
nhưng theo dõi thêm hiệu quả kinh tế của các công thức phân bón.
Thí nghiệm 5:
Nghiên cứu phương thức trồng xen ngô thích hợp với

quy đổi theo đậu tương và hiệu quả kinh tế của các công thức.

10
Thí nghiệm 6: Nghiên cứu một số biện pháp giữ ẩm và hạn chế xói mòn
cho đậu tương gieo trồng trong vụ xuân trên đất dốc tại Bắc Kạn
Thí nghiệm được triển khai trong vụ xuân năm 2006. Giống đậu
tương ĐT22 được sử dụng là vật liệu trong thí nghiệm nghiên cứu biện
pháp kỹ thuật giữ ẩm và hạn chế xói mòn. Thí nghiệm bao gồm 2 nhân tố,
các công thức nghiên cứu được trình bày trong Bả
ng 2.2. Thí nghiệm
được bố trí theo kiểu ô chính ô phụ (Split-Plot Design) với 3 lần nhắc lại.
Diện tích ô chính (biện pháp che phủ) là 20 m
2
và diện tích ô phụ (Băng
cỏ tự nhiên) là 80m
2
. Cây đậu tương được gieo ở thời vụ như kết luận ở thí
nghiệm 2 và mật độ tối ưu đã xác định ở thí nghiệm 3, lượng phân bón
được áp dụng như kết luận của thí nghiệm 4. Các biện pháp kỹ thuật khác
áp dụng như thí nghiệm 1. Các chỉ tiêu nghiên cứu ở cây đậu tương tương
tự như thí nghiệm 1, nhưng theo dõi thêm chỉ tiêu mức độ xói mòn đất, độ

m đất tương đối và hiệu quả kinh tế.
Bảng 2.3. Các công thức trong thí nghiệm nghiên cứu biện pháp
giữ ẩm và hạn chế xói mòn
Công thức Nhân tố phụ
(Biện pháp hạn chế
xói mòn)
Nhân tố chính
(Biện pháp giữ ẩm)

tạ/ha, trong khi đó thấp nhất ở thời vụ TV1 (25/2) chỉ đạt 7,54 tạ/ha.
Tuy nhiên ở thời vụ gieo muộn TV5 (6/4), NSTT lại thấp hơn ở mức
có ý nghĩa so với thời vụ gieo TV3 (17/3) và TV4 (27/3).
Bảng 3.22. Ảnh hưởng của thời vụ gieo đến các yếu tố cấu thành
năng suất và năng suất của giống đậu tương Đ
T22 trong vụ xuân
2005 trên đất dốc ở Bắc Kạn
Thời vụ
Tổng số quả
chắc
(quả/cây)
Số
hạt/quả
(hạt)
P1000
hạt
(g)
NSLT
(tạ/ha)
NSTT
(tạ/ha)
TV1 14,8 1,94 146 12,61 7,54
TV2 20,1 1,96 156 18,39 12,55
TV3 34,7 1,96 163 32,81 23,67
TV4 30,8 1,98 162 29,83 21,61
TV5 27,7 1,97 158 26,09 17,88
CV(%) 6,7 1,4 3,0 7,0 8,4
LSD(0,05) 3,23 - 8,9 3,15 2,63
P1000 hạt: Khối lượng 1000 hạt; NSLT: Năng suất lý thuyết; NSTT:
Năng suất thực thu

) cũng có
năng suất thấp hơn có ý nghĩa so với công thức trồng với 30 và 40 cây/ m
2
.

14
Bảng 3.17 cho thấy tổng số quả chắc/cây, số quả 1 hạt, 2 hạt và 3
hạt, khối lượng 1000 hạt sai khác có ý nghĩa giữa các giống đậu tương
nghiên cứu. Cả năng suất lý thuyết và năng suất thực thu của các giống
khác nhau có ý nghĩa ở mức P<0,01. Chỉ có 2 giống có năng suất cao vượt
được đối chứng Vàng Cao Bằng là ĐT22 (20,98 tạ/ha) và DT96 (18,1
tạ/ha). Năng suất của các giống c
ũng khác nhau có ý nghĩa giữa các năm
nghiên cứu ở mức P<0,01. Sự khác nhau về điều kiện thời thiết khí hậu
đặc biệt là lượng mưa và sự phân bố mưa trong vụ xuân là nguyên nhân
chính cho sự biến động về năng suất của các giống giữa các năm.
3.2.2. Khả năng duy trì tỷ lệ nảy mầm trong quá trình bảo quản
Nhằm xác định khả năng duy trì chất lượng hạt giố
ng trong quá
trình bảo quản, hạt đậu tương của các giống sau bảo quản 1 năm được
kiểm tra tỷ lệ nảy mầm kết quả được thể hiện qua số liệu Bảng 3.18.
Bảng 3.18. Khả năng duy trì tỷ lệ nảy mầm của các giống đậu
tương tham gia thí nghiệm sau 1 năm bảo quản
Tỷ lệ nảy mầm (%)
Tên giống
Sau thu hoạch Sau bảo quản 1 năm
ĐT22 98,3 90,3
DT84 98,3 62,3
DT96 96,0 52,7
ĐVN5 98,0 68,7

KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN
3.1. Kết quả điều tra tình hình sản xuất đậu tương xuân trên đất
dốc ở Bắc Kạn
3.1.1. Quy mô và tỷ lệ số hộ trồng đậu tương trên đất dốc
Số liệu điều tra cho thấy, ở Bắc Kạn tỷ lệ số hộ và diện tích trồng đậu
t
ương trên đất dốc trong vụ xuân là không lớn chỉ có 13,3% số hộ trồng với
quy mô dưới 1000 m
2
, 5% số hộ trồng với quy mô 1000-2000 m
2
, và còn
đến 81,7% số hộ không trồng đậu tương trong vụ xuân (Bảng 3.5).
Bảng 3.5. Quy mô và tỷ lệ số hộ trồng đậu tương trên đất dốc của
nông dân tỉnh Bắc Kạn
Tỷ lệ số hộ trồng đậu tương (%) Quy mô trồng đậu tương cấp hộ
(m
2
/hộ)
Vụ xuân Vụ hè
Không trồng (0 m
2
) 81,7 48,3
Trồng với diện tích < 1000 m
2
13,3 27,5
Trồng với diện tích 1000-2000 m
2
5,0 20,0
Trồng với diện tích >2000 m

VX93 9,1 10,1
Giống mới khác 4,5 1,2
3.1.4. Những thuận lợi và khó khăn chính trong trồng đậu tương
vụ xuân trên đất dốc ở tỉnh Bắc Kạn
Kết quả điều tra cho thấy các thuận lợi chính khi trồng đậu tương
trên đất dốc đó là sản phẩm hạt đậu tương rất dễ tiêu thụ (100% số hộ),
không bị sức ép tăng vụ (87,5%), tận dụng được lao động nhàn rỗi trong
vụ xuân (79,2), quỹ
đất rộng (66,7%). Chính vì vậy 100% số hộ có đất
dốc đều có mong muốn trồng đậu tương trong vụ xuân trên đất dốc. Khó
khăn lớn nhất là thiếu hướng dẫn kỹ thuật trồng đậu tương xuân trên đất
dốc (93,3%), khô hạn đầu vụ xuân là khó khăn thứ hai (92,5%), mưa
cuối vụ cũng là một trở ngại đáng kể gây thối hạt ở ngoài đồng ruộng
(73,3%), tiế
p theo là không có giống phù hợp cho vụ xuân (72,5%), trâu
bò phá (61,7%) và rét đầu vụ (Bảng 3.11).
Bảng 3.11. Những thuận lợi và khó khăn chính trong sản xuất
đậu tương vụ xuân trên đất dốc ở Bắc Kạn
Những thuận lợi và khó khăn
Tỷ lệ số hộ (%)
THUẬN LỢI

- Không bị sức ép tăng vụ 87,5
- Tận dụng được lao động nhàn rỗi trong vụ xuân 79,2
- Diện tích đất có thể trồng đậu tương lớn 66,7
- Sản phẩm hạt đậu tương dễ tiêu thụ 100
KHÓ KHĂN

- Thiếu hướng dẫn kỹ thuật 93,3
- Khô hạn đầu vụ 92,5

NSLT
(tạ/ha)
NSTT
(tạ/ha)
Vụ xuân năm 2003
ĐT22 29,1 5,2 19,6 4,9 1,99 158 27,45 18,72
DT84 17,1 4,8 9,1 3,3 1,91 181 17,83 13,45
DT96 21,6 4,2 13,6 3,9 1,99 189 24,40 17,41
ĐVN5 22,4 5,3 12,7 4,4 1,97 156 20,53 14,80
VX93 20,9 5,3 11,0 4,6 1,96 150 18,52 13,96
VCB(ĐC) 26,1 6,7 13,9 5,6 1,96 142 21,87 15,88
Vụ xuân năm 2004
ĐT22 30,7 7,6 17,0 6,0 1,94 164 29,41 22,29
DT84 18,6 5,6 9,5 3,5 1,90 174 18,41 14,37
DT96 24,0 6,3 13,8 4,1 1,92 178 24,69 18,57
ĐVN5 20,6 5,4 11,6 3,5 1,91 156 18,45 14,34
VX93 20,6 5,9 11,0 3,7 1,90 154 18,03 13,38
VCB (ĐC) 26,4 6,8 13,8 5,8 1,95 144 22,36 16,37
Vụ xuân năm 2005
ĐT22 37,0 9,0 20,5 7,5 1,96 161 35,13 21,92
DT84 21,0 5,8 10,9 4,3 1,93 182 22,13 13,71
DT96 26,5 7,4 14,1 5,0 1,92 184 28,21 18,33
ĐVN5 25,2 6,3 13,7 5,1 1,95 155 22,91 15,56
VX93 23,2 7,4 10,4 5,4 1,91 159 21,20 15,43
VCB (ĐC) 26,7 8,1 12,3 6,3 1,95 144 22,49 14,93
Trung bình 3 vụ nghiên cứu
ĐT22 32,3 7,3 19,1 6,2 1,96 161 30,66 20,98
DT84 18,9 5,4 9,8 3,7 1,91 179 19,46 13,84
DT96 24,1 6,0 13,8 4,3 1,94 184 25,77 18,10
ĐVN5 22,7 5,7 12,7 4,4 1,94 155 20,63 14,90


Luận án được bảo vệ trước Hội đồng chấm luận án cấp Nhà nước
họp tại: Trường Đại học Nông Lâm - Đại học Thái Nguyên

Vào hồi 8 giờ 30' ngày 31 tháng 12 năm 2010
Thái Nguyên, 2010

CÁC CÔNG TRÌNH NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN
ĐẾN LUẬN ÁN ĐÃ ĐƯỢC CÔNG BỐ
1. Trần Văn Điền, Luân Thị Đẹp, Trần Đình Long (2005),
“Nghiên cứu quan hệ tương quan giữa một số đặc trưng đặc
tính với năng suất của một số giống đậu tương gieo trồng tại
tỉnh Bắc Kạn”, Tạp chí NN & PTNT, (Đặc san 35 năm thành
lập Trường ĐH Nông lâm), 10-13.
2. Tr
ần Văn Điền, Luân Thị Đẹp (2008), "Nghiên cứu thời vụ gieo
trồng đậu tương xuân trên đất dốc tại tỉnh Bắc Kạn", Tạp chí
Khoa học và Công nghệ - ĐH Thái Nguyên (47), 19-23.
3. Luân Thị Đẹp, Trần Văn Điền, Trần Đình Long, (2008),

"
Nghiên cứu phương thức trồng xen ngô với đậu tương xuân
trên đất dốc tại tỉnh Bắc Kạn", Tạp chí Khoa học và Công nghệ
- ĐH Thái Nguyên (47), 24-28.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status