BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
BỘ NÔNG NGHIỆP VÀ PTNT
TRƢỜNG ĐẠI HỌC LÂM NGHIỆP
NGUYỄN HỮU HIẾN
NGHIÊN CỨU SỰ THAM GIA CỦA NGƢỜI DÂN TRONG
CÁC HOẠT ĐỘNG QUẢN LÝ TÀI NGUYÊN RỪNG DỰA VÀO
CỘNG ĐỒNG TẠI XÃ LƢU KIỀN, HUYỆN TƢƠNG DƢƠNG,
TỈNH NGHỆ AN
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC LÂM NGHIỆP
Hà Nội, 2017
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
BỘ NÔNG NGHIỆP VÀ PTNT
TRƢỜNG ĐẠI HỌC LÂM NGHIỆP
NGUYỄN HỮU HIẾN
NGHIÊN CỨU SỰ THAM GIA CỦA NGƢỜI DÂN TRONG
CÁC HOẠT ĐỘNG QUẢN LÝ TÀI NGUYÊN RỪNG DỰA VÀO
CỘNG ĐỒNG TẠI XÃ LƢU KIỀN, HUYỆN TƢƠNG DƢƠNG,
TỈNH NGHỆ AN
tới các cơ quan, tổ chức và cá nhân:
Khoa Đào tạo sau đại học, Ban giám hiệu và toàn thể các thầy cô giáo
Trƣờng Đại học Lâm nghiệp đã giúp đỡ tôi hoàn thành khoá đào tạo.
Thầy giáo PGS. TS. Đồng Thanh Hải, ngƣời thầy đã hƣớng dẫn và
truyền đạt những kiến thức và kinh nghiệm quý báu cho tác giả trong suốt thời
gian học tập, nghiên cứu cũng nhƣ thực hiện luận văn.
Chi cục Kiểm lâm Nghệ An và Hạt kiểm lâm huyện Tƣơng Dƣơng đã
tạo điều kiện cho tôi tham gia học tập và nghiên cứu.
Lãnh đạo Huyện ủy, UBND huyện Tƣơng Dƣơng và các phòng ban,
đơn vị liên quan trên địa bàn huyện Tƣơng Dƣơng đã giúp đỡ và tạo mọi điều
kiện cho tôi trong quá trình tham khảo ý kiến, thu thập thông tin, tài liệu.
Uỷ ban nhân dân xã Lƣu Kiền, Ban quản lý 6 bản của xã Lƣu Kiền và
ngƣời dân tại 6 bản đã nhiệt tình giúp đỡ tôi trong suốt quá trình thu thập tài
liệu, số liệu và phỏng vấn cán bộ, ngƣời dân trên địa bàn xã.
Mặc dù bản thân đã rất nỗ lực nghiên cứu, nhƣng do kinh nghiệm của
bản còn hạn chế nên luận văn không thể tránh khỏi những thiếu sót. Kính
mong nhận đƣợc ý kiến tham gia góp ý của các nhà khoa học, các bạn đồng
nghiệp, các cơ quan, đơn vị liên quan để bản luận văn đƣợc hoàn thiện hơn.
Tôi xin chân thành cảm ơn!
Hà Nội, ngày 02 tháng 11 năm 2017
Ngƣời thực hiện
Nguyễn Hữu Hiến
iii
MỤC LỤC
Trang
Trang phụ bìa
2.4.3. Phƣơng pháp đánh giá nông thôn có sự tham gia (PRA - Participatory Rural
Appraisal) ........................................................................................................ 23
2.4.4. Phƣơng pháp xử lý số liệu..................................................................... 25
Chƣơng 3 ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN - KINH TẾ XÃ HỘI ............................. 26
3.1. Điều kiện tự nhiên .................................................................................... 26
3.1.1. Vị trí địa lý ............................................................................................ 26
3.1.2. Đặc điểm tài nguyên rừng và đất lâm nghiệp ....................................... 27
3.1.3. Thời tiết, khí hậu ................................................................................... 27
3.2. Tình hình dân sinh, kinh tế - xã hội ......................................................... 29
Chƣơng 4 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU ............................................................ 32
4.1. Hiện trạng tài nguyên rừng và sự tham gia quản lý TNR của cộng đồng
tại xã Lƣu Kiền ................................................................................................ 32
4.1.1. Hiện Trạng TNR .................................................................................... 32
4.1.2. Thực trạng công tác QLBVR tại xã Lƣu Kiền ...................................... 36
4.1.3. Hoạt động và mức độ tham gia quản lý rừng của cộng đồng ............... 42
4.2. Điểm mạnh, điểm yếu, cơ hội, thách thức và các nhân tố thúc đẩy, cản trở
cộng đồng trong công tác quản lý bảo vệ rừng tại khu vực nghiên cứu ......... 52
4.2.1. Điểm mạnh, điểm yếu, cơ hội, thách thức của cộng đồng trong công tác
quản lý bảo vệ rừng ......................................................................................... 52
4.2.2. Nhân tố thúc đẩy và cản trở sự tham gia của cộng đồng trong quản lý
tài nguyên rừng................................................................................................ 54
4.3. Đề xuất một số giải pháp thúc đẩy sự tham gia của ngƣời dân vào các
hoạt động quản lý rừng tại địa phƣơng ........................................................... 59
4.3.1. Giải pháp về thu hút sự tham gia của cộng đồng .................................. 59
4.3.2. Giải pháp nâng cao nhận thức cho cộng đồng ...................................... 60
v
4.3.3. Giải pháp về cải thiện sinh kế cho cộng đồng ...................................... 62
Khu bảo tồn thiên nhiên
LNCĐ
Lâm nghiệp cộng đồng
LNXH
Lâm nghiệp xã hội
LSNG
Lâm sản ngoài gỗ
PCCCR
Phòng cháy chữa cháy rừng
PTNT
Phát triển nông thôn
QĐ-TTg
Quyết định- Thủ tƣớng
QLBVR
Quản lý bảo vệ rừng
2.1
Sơ đồ phân tích SWOT
24
3.1
Số liệu khí hậu của khu vực nghiên cứu
28
4.1
Diện tích các loại rừng và đất rừng ở khu vực nghiên cứu
35
4.2
Thực trạng công tác giao khoán bảo vệ rừng tại xã Lƣu Kiền
37
4.3
Các vụ vi phạm lâm luật tại xã Lƣu Kiền năm 2012 - 2016
39
Cấp độ tham gia của cộng đồng
10
3.1
Vị trí khu vực nghiên cứu
26
4.1
Cơ cấu sử dụng đất tại xã Lƣu Kiền
32
4.2
Hiện trạng rừng tại xã Lƣu Kiền (Kết quả theo dõi DBR 2016)
33
4.3
Hiện trạng chủ quản lý rừng xã Lƣu Kiền (Kết quả DBR 2016)
34
4.4
Các loại diện tích rừng đƣợc giao khoán bảo vệ cho dân
47
4.10 Chi trả tiền nhận khoán BVR tại xã Lƣu Kiền
47
4.11 Xử lý thực bì để trồng rừng của nhân dân
48
4.12 Các mức độ tham gia quản lý rừng của cộng đồng
49
4.13 Mong muốn tham gia quản lý rừng của cộng đồng
50
4.14
Sơ đồ VENN trong quản lý tài nguyên rừng dựa vào CĐ
51
1
ĐẶT VẤN ĐỀ
đảm bảo phúc lợi và an ninh sinh kế cho ngƣời dân địa phƣơng sinh sống trong
và xung quanh các khu rừng.
Trong những năm gần đây, Chính phủ đã thực hiện các chính sách bằng
việc giao đất lâm nghiệp cho cộng đồng địa phƣơng để quản lý và sử dụng bền
vững tài nguyên rừng. Cộng đồng cũng tham gia bảo vệ rừng, xúc tiến tái sinh
rừng và trồng mới cho các tổ chức nhà nƣớc [11, 3, 15].
Cho đến nay, các nghiên cứu về rừng cộng đồng chủ yếu đƣợc đề cập
trong các khuyến nghị về khung pháp lý nhằm phát triển các phƣơng pháp
quản lý rừng cộng đồng hiệu quả. Ví dụ, biện minh khoa học về các chỉ tiêu
lâm sinh đơn giản cho hạn ngạch, tính khả thi của thủ tục hành chính đối với
khai thác gỗ và giám sát trong quá trình khai thác gỗ, và tầm quan trọng hàng
đầu trong việc sắp xếp chia sẻ lợi ích đơn giản [11,19].
Theo Bảo Huy (2009), cơ chế chia sẽ lợi ích đã đƣợc đƣa vào kế hoạch
phát triển lâm nghiệp cộng đồng ở Việt Nam nhƣng ngƣời dân địa phƣơng
thiếu động lực tham gia vì cơ chế hƣởng lợi từ việc nhận đất lâm nghiệp
không cao và chƣa rõ ràng. Mặc dù sự tham gia của địa phƣơng đã đƣợc
khuyến khích trong việc xây dựng kế hoạch quản lý lâm nghiệp nhƣng không
có nghiên cứu rõ ràng về cách thức ngƣời dân tham gia vào quá trình phát
triển lâm nghiệp cộng đồng khác nhau nhƣ thế nào và những yếu tố chính
đóng góp vào sự tham gia thụ động của họ là gì [1].
Xã Lƣu Kiền có diện tích tự nhiên 13.979,63 ha, diện tích đất lâm
nghiệp là 13.349,7 ha độ che phủ đạt 81,9%. Toàn xã có tổng dân số là: 4.103
khẩu; tổng số hộ là: 970 hộ, phân bố không đồng đều trên 06 bản. Xã có 3 dân
tộc, trong đó dân tộc Thái chiếm: 92,5%, Mông chiếm: 6%, dân tộc khác
chiếm: 1,5%, toàn xã có 434 hộ nghèo chiếm 46,5% [36, 35, 34]. Do vậy kinh
tế ngƣời dân còn nghèo, trình độ dân trí còn nhiều hạn chế, cuộc sống của một
phần lớn ngƣời dân còn phụ thuộc vào khai thác tài nguyên rừng và hoạt động
3
nghiên cứu những ai có quyền hƣởng lợi một vài tài nguyên công cộng và lợi
ích đƣợc phân bổ nhƣ thế nào [2].
Cộng đồng trong khái niệm quản lý rừng cộng đồng (QLRCĐ), đƣợc
giới hạn là tập hợp của các cá nhân trong một thôn bản gần rừng gắn bó chặt
chẽ với nhau qua hoạt động sản xuất, sinh hoạt và đời sống văn hoá xã hội
[23]. Cộng đồng bao gồm toàn thể những ngƣời sống trong một xã hội có
những đặc điểm tƣơng tự và có mối quan hệ gắn bó chặt chẽ với nhau [14].
Theo Case (1990), cộng đồng địa phƣơng là nhóm ngƣời cùng sống
trên một khu vực và thƣờng cùng nhau chia sẻ các mục tiêu chung, các luật
lệ xã hội chung hoặc có quan hệ gia đình với nhau. Theo Nguyễn Hồng Quân
và cộng sự (2001) cho rằng: “Cộng đồng bao gồm toàn thể những ngƣời
sống thành một xã hội có những điểm tƣơng đồng về mặt văn hoá truyền
thống, có mối quan hệ sản xuất, đời sống gắn bó với nhau và thƣờng có danh
giới không gian trong một làng bản”.
Theo điều 3 của Luật bảo vệ và phát triển rừng (BV&PTR) năm 2004
5
thì cộng đồng dân cƣ thôn là toàn bộ các hộ gia đình, cá nhân sống trong cùng
một thôn, làng, bản, ấp, buôn, phum, sóc hoặc đơn vị tƣơng đƣơng.
Ở Việt Nam, cộng đồng đƣợc hiểu là những ngƣời sống trong cùng
ranh giới hành chính nhƣ cộng đồng thôn, cộng đồng bản. Ranh giới hành
chính các thôn, bản đều đƣợc thành lập dựa trên lịch sử lâu đời, vì vậy, cộng
đồng tại các thôn, bản luôn có mối liên kết mật thiết, ngƣời đứng đầu (trƣởng
thôn, trƣởng bản) có hƣơng ƣớc, quy ƣớc xây dựng lâu đời và đƣợc ngƣời dân
rất tôn trọng, tuân thủ nghiêm ngặt.
Nhƣ vậy, cộng đồng có thể là cộng đồng dân cƣ thôn, làng bản, cộng
đồng các dòng họ, các nhóm ngƣời có những đặc điểm và lợi ích chung,…
trong phạm vi nghiên cứu này, cộng đồng đƣợc hiểu theo nghĩa cộng đồng địa
rừng tự nhiên đã đƣợc giao cho các hợp tác xã trƣớc đây sau khi chuyển đổi
hoặc giải thể, hợp tác xã đã giao lại cho các xã hoặc các thôn quản lý. Những
diện tích rừng này có thể Nhà nƣớc chƣa cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng
đất hoặc đã công nhận quyền sử dụng đất của cộng đồng, song trên thực tế,
cộng đồng đang tự tổ chức quản lý sử dụng và hƣởng lợi từ những khu rừng đó.
Nhƣ vậy, thực chất “quản lý rừng cộng đồng” là cộng đồng dân cƣ thôn
quản lý rừng thuộc quyền sở hữu hoặc thuộc quyền sử dụng chung của cộng
đồng, đƣợc hình thành chủ yếu thông qua chính sách giao đất, giao rừng cho
cộng đồng dân cƣ thôn [13].
Tóm lại hình thức quản lý này bao gồm các đối tƣợng chính sau: Cộng
đồng trực tiếp quản lý những diện tích rừng hoặc những đám cây gỗ của họ từ
lâu đời. Cộng đồng trực tiếp quản lý những khu rừng đƣợc Nhà nƣớc giao.
Các hoạt động mang tính chất lâm nghiệp khác do cộng đồng tổ chức phục vụ
lợi ích trực tiếp cho cộng đồng.
Cũng cần nói thêm rằng theo Luật Bảo vệ và Phát triển rừng năm 2004
quy định nếu cộng đồng đƣợc giao rừng tự nhiên cộng đồng chỉ có quyền sử
dụng chứ không có quyền sở hữu khu rừng đó và đƣợc thực hiện thông qua
7
chính sách hƣởng lợi từ rừng. Tuy nhiên, nếu cộng đồng quản lý rừng trồng
đƣợc hình thành bằng nguồn vốn tự có của mình thì cộng đồng có quyền sở
hữu khu rừng đó.
Thứ hai là quản lý rừng dựa vào cộng đồng
Đây là hình thức cộng đồng tham gia quản lý các khu rừng không thuộc
quyền quản lý, sử dụng, sở hữu chung của họ mà thuộc quyền quản lý, sử
dụng sở hữu của các tổ chức nhà nƣớc hoặc các thành phần kinh tế khác
nhƣng có quan hệ trực tiếp đến đời sống, đến việc làm, thu hoạch sản phẩm,
thu nhập hay các lợi ích khác của cộng đồng.
và chia sẻ những sáng kiến phát triển và cùng quyết định” (Theo WB).
- “Sự tham gia là sự thực hiện trồng và quản lý rừng của Nam và Nữ
trong cộng đồng với sự hỗ trợ bên ngoài cộng đồng” (Theo Hoskin,1994)
- “Sự tham gia của ngƣời dân nhƣ là một quá trình mà qua đó ngƣời
nghèo nông thôn có khả năng tự tổ chức và nhƣ các tổ chức của chính họ, có
khả năng nhận hết nhu cầu của chính mình và tham gia trong thiết kế thực
hiện và đánh giá các phƣơng án tại địa phƣơng” (FAO, 1982).
- “Sự tham gia của ngƣời dân nhƣ là sự hợp tác chặt chẽ của họ tới mức
ngƣời dân cảm thấy phải chịu trách nhiệm về thành công hay thất bại của dự
án phát triển lâm nghiệp” (FAO, 1983).
- Sự tham gia trong quản lý rừng và tài nguyên rừng đƣợc hiểu là sự
tham gia có hiệu quả trong việc ban hành và thực hiện các quyết định, hoặc
trực tiếp, hoặc thông qua các đại diện hợp pháp. Sự tham gia của các thành
phần khác nhau vào quá trình xây dựng và thực thi các chính sách liên quan
đến quản lý và bảo vệ rừng đƣợc khung pháp luật quốc tế ủng hộ và đƣợc luật
pháp của Việt Nam thừa nhận [14].
Hiểu một cách đơn giản và tổng quát về sự tham gia là: “Sự tham gia là
quá trình cùng chia sẻ trách nhiệm và quyền lợi trong các hoạt động LNXH
thông qua các chƣơng trình phát triển lâm nghiệp, trong đó trách nhiệm quyết
định là cao nhất”.
9
1.2. Mức độ tham gia của ngƣời dân trong quản lý tài nguyên rừng
Khía cạnh tham gia của cộng đồng đóng vai trò quan trọng trong hình
thành phƣơng thức quản lý rừng dựa vào cộng đồng. Trong hoạt động phát triển
nông thôn cộng đồng, ngƣời dân địa phƣơng có thể đƣợc thu hút tham gia vào
tiến trình quản lý tài nguyên, tuy nhiên cần phân biệt kiểu tham gia của họ và
trong phƣơng thức quản lý rừng cộng đồng yêu cầu ở mức độ tham gia nào?,
11
cần đạt đƣợc trong quá trình ra quyết định. Ở các Nấc 6 và 7, các cá nhân và
cộng đồng đƣợc trở thành đối tác và có đại diện tham gia vào ban quản lý, họ
ảnh hƣởng lớn đến quá trình ra quyết định. Nấc 8 là nấc cao nhất, khi các
nhóm yếu thế (ngoài nhà nƣớc) đƣợc nhà nƣớc trao quyền quyết định về các
vấn đề của họ. Thêm vào đó, các nhóm này phải đƣợc hỗ trợ cả về mặt tăng
cƣờng năng lực và tài chính để tự thực thi đƣợc các quyết định của họ.
1.3. Sự tham gia của ngƣời dân trong các hoạt động quản lý rừng cộng
đồng trên thế giới
Sự tham gia của ngƣời dân là chiến lƣợc cơ bản mà chƣơng trình lâm
nghiệp cộng đồng đã cam kết. Nó nhằm vào sự tham gia của ngƣời dân ở mọi
giai đoạn của các hoạt động quản lý rừng cộng đồng. Sự tham gia của các hộ
sử dụng trong mọi hoạt động quản lý rừng có thể kích thích quá trình học tập
liên tục bằng cách nâng cao nhận thức về trách nhiệm tập thể trong cộng đồng
(Agrawal, 2001).
Tuy nhiên, mặc dù có sự nỗ lực liên tục và có ý thức đối với sự tham
gia của tất cả ngƣời sử dụng, sự tham gia tích cực của ngƣời nghèo và ngƣời
bị gạt ra ngoài lề trong hoạt động quản lý rừng là khá thấp. Hơn nữa, chƣơng
trình đang gây ra một số hộ gia đình gặp khó khăn đáng kể trong việc đáp ứng
nhu cầu của họ (Springate- Baginski và cộng sự, 2003).
Khi quyết định có tham gia hay không tham gia vào hoạt động quản lý
rừng cộng đồng, một hộ gia đình sẽ đƣợc thúc đẩy bởi một số yếu tố. Các hộ
nghèo không đƣợc hƣởng lợi từ lâm nghiệp cộng đồng nhiều nhƣ các hộ khác
và không quan tâm đến sự tham gia của cộng đồng (Malla và cộng sự, 2003).
Các hộ nghèo cũng có cơ hội chi phí tham gia cao vì thời gian dành cho
việc tham gia có thể đƣợc sử dụng làm lao động để kiếm tiền (Adhikari và cộng
sự, 2004). Tiêu chí 'sự tham gia thực sự' và vai trò không thể thiếu trong việc
theo đuổi việc chia sẻ lợi ích công bằng vẫn còn đáng ngờ (Nightingale, 2002).
13
gồm quyền thu hoạch và bán cây. Vai trò của nhà nƣớc chỉ là quy định và
cộng đồng thực hiện vai trò trung tâm trong quản lý rừng. Lâm nghiệp cộng
đồng Mexico dựa vào cơ cấu quản trị địa phƣơng có đại diện hợp lý, dân chủ
và tự trị. Những điều kiện này đã dẫn đến doanh nghiệp rừng cộng đồng quản
lý cạnh tranh thành công tại các thị trƣờng quốc gia và quốc tế về gỗ và các
sản phẩm gỗ giá trị gia tăng. Cộng đồng Mexico giữ tất cả tiền thu đƣợc từ
khai thác gỗ thƣơng mại và các lâm sản có giá trị khác. Ở Lào, một ngôi làng
ở tỉnh Oudomxay, dân làng đã phải đối mặt với tình trạng thiếu gạo trong một
năm. Mặc dù các cá nhân kiếm đƣợc tiền từ việc thu mua măng, thu nhập
không đầy đủ. Nhóm dự án IUCN và LSNG đã hỗ trợ một loạt các cuộc họp
thôn, đƣa ra một thỏa thuận để "nhóm" và bán măng đã thu đƣợc với giá cố
định (theo trọng lƣợng hơn là số) và ở một nơi cố định. Trong khoảng thời
gian 5 tháng, thu nhập trung bình của mỗi gia đình là 130 đô la Mỹ. Đây là
khoản thu nhập gấp bốn lần so với những năm trƣớc". Ngoài ra, hàng trăm đô
la đã đƣợc kiếm đƣợc cho một quỹ phát triển thôn bản. Trong bối cảnh thu
nhập ở nông thôn ở Lào, số tiền này rất quan trọng đối với các hộ nghèo. Dự
án tƣơng tự cũng hỗ trợ phát triển các ngân hàng gạo cho các hộ nghèo để giải
quyết các vấn đề thâm hụt lƣơng thực có tác động tích cực đến công tác bảo
tồn rừng bằng cách giảm mức độ săn bắn trong thời kỳ thiếu lƣơng thực (động
vật hoang dã trƣớc đây đƣợc bán để mua gạo). Hơn nữa, các hộ nghèo đƣợc
tiếp cận rừng giao cho các cơ quan thôn bản để thu thập các sản phẩm tự cung
tự cấp (Soydara, 2001).
Fisher (2000) cho thấy ngƣời dân ở thôn Pred Nai ở phía đông Thái
Lan đã cố gắng cải tạo rừng ngập mặn bị phá hủy do nuôi tôm thƣơng phẩm.
Cho đến nay, kế hoạch này bao gồm các quy định để ngăn ngừa (hoặc giảm)
việc khai thác quá mức các khu rừng ngập mặn, là nguồn thu nhập chính cho
Theo Nguyễn Bá Ngãi (2009) có 10.006 cộng đồng địa phƣơng trong cả
nƣớc, chủ yếu là các cộng đồng dân tộc đang quản lý và sử dụng 2.792.946,3
15
ha rừng, đất trống và đồi trọc (nói chung là đất rừng) để thành lập và phát triển
rừng bao gồm: 1.916.169,2 ha đất có rừng (chiếm 68,6%) và 876.777,1 ha đất
trống, đồi trọc (chiếm 31,4%). Diện tích đất lâm nghiệp do cộng đồng địa
phƣơng quản lý chiếm 17,20% tổng diện tích quy hoạch cho mục đích lâm
nghiệp trên cả nƣớc (16,24 triệu ha); Đất rừng do cộng đồng quản lý chiếm
15% tổng diện tích rừng trên toàn quốc (12.873.815 ha). Trong vùng đất rừng
do cộng đồng quản lý và sử dụng, rừng tự nhiên chiếm phần lớn chiếm 96%,
còn lại 4% là diện tích rừng trồng. Rừng đang đƣợc quản lý bởi cộng đồng địa
phƣơng chủ yếu là rừng phòng hộ và rừng đặc dụng (chiếm 71%) và rừng sản
xuất 29%. Tác giả cũng thấy rằng cộng đồng quản lý và sử dụng diện tích đất
lâm nghiệp nhƣ sau:
- Thứ nhất là diện tích rừng và đất lâm nghiệp sử dụng vào mục đích
lâm nghiệp và đƣợc cấp có thẩm quyền sử dụng và quản lý lâu dài cho cộng
đồng địa phƣơng (có quyết định hoặc giấy chứng nhận sử dụng đất, sau đây
gọi là cấp phát).
- Thứ hai, diện tích rừng và đất lâm nghiệp tự quản và quản lý của cộng
đồng địa phƣơng từ lâu đã không có quyết định chính thức của nhà nƣớc
(không có giấy tờ pháp lý, sau đây gọi tắt là không phân bổ), bao gồm rừng
linh thiêng và rừng cung cấp các sản phẩm truyền thống cung cấp cho cộng
đồng địa phƣơng.
- Thứ ba, diện tích rừng và đất lâm nghiệp do các cơ quan nhà nƣớc
(lâm trƣờng quốc doanh, ban quản lý rừng đặc dụng, rừng phòng hộ ...) và
đƣợc nhà nƣớc giao khoán cho cộng đồng địa phƣơng để bảo vệ, phân vùng
cho phục hồi và trồng mới theo hợp đồng dài hạn [13].