Sự sụp đổ của hệ thống Vecxai-Oa sinh
tơn và con đường dẫn đến chiến tranh thế
giới II (1929-1939) Những nét khái quát về tình hình quốc tế những năm cuối thập niên 20, đầu
thập niên 30:
Cuộc đại khủng hoảng kinh tế thế giới (1929 - 1933) bùng nổ đã chấm dứt thời kì
ổn định của chủ nghĩa tư bản cùng với ảo tưởng về một kỷ nguyên hoà bình của
thế giới. Cuộc khủng hoảng bắt đầu từ nước Mĩ ngày 24 - 10 - 1929, đã nhanh
chóng tràn sang châu Âu, bao trùm toàn bộ thế giới tư bản chủ nghĩa, để lại những
hậu quả nghiêm trọng về kinh tế, chính trị, xã h ội. Hàng trăm triệu người (công
nhân, nông dân và gia đình của họ) bị rơi vào vũng lầy đói khổ. Hàng ngàn cuộc
biểu tình lôi cuốn trên 17 triệu công nhân ở các nước tư bản tham gia trong những
năm 1929 - 1933. ở các nước thuộc địa và phụ thuộc, cuộc đấu tranh giành độc lập
dân tộc cũng bùng lên mạnh mẽ. Những mâu thuẫn của chủ nghĩa tư bản trở nên
cực kì gay gắt. Trong bối cảnh đó đã hình thành những xu hướng khác biệt nhau
trong việc tìm kiếm con đường phát triển giữa các nước tư bản chủ nghĩa. Các
nước không có hoặc có ít thuộc địa gặp nhiều khó khăn về vốn, nguyên liệu và thị
trường đã đi theo con đường phát xít hoá chế độ chính trị, thiết lập nền chuyên
chính khủng bố công khai nhằm cứu vãn tình trạng khủng hoảng nghiêm trọng của
mình. Các nước Italia, Đức, Nhật Bản là điển hình cho xu hướng này. Trong
những năm 1929 - 1936, giới cầm quyền các nước nói trên đã từng bước phá vỡ
những điều khoản chính yếu của hệ thống Vécxai - Oasinhtơn và tích cực chuẩn bị
cuộc chiến tranh để phân chia lại thế giới. Trong khi đó các nước Mỹ, Anh, Pháp
đã tìm cách thoát ra khỏi khủng hoảng bằng những cải cách kinh tế - xã hội , duy
trì nền dân chủ tư sản đại nghị, đồng thời chủ trương duy trì nguyên trạng hệ thống
Vécxai - Oasinhtơn. Quan hệ giữa các cường quốc tư bản trong thập niên 30
chuyển biến ngày càng phức tạp. Sự hình thành hai khối đối lập - một bên là Đức,
Italia, Nhật Bản với một bên là Mĩ, Anh, Pháp và cuộc chạy đua vũ trang giữa hai
Như vậy, Hội Quốc liên đã không công khai tuyên bố “hành động của Nhật là xâm
lược và không quyết định một hình phạt nào đối với Nhật. Trước sức mạnh quân
sự, Hội Quốc liên đã sử dụng sức mạnh tinh thần. Phương pháp đó không đem lại
kết quả nào”(1). Nhật Bản tiếp tục mở rộng xâm lược Trung Quốc, chiếm đóng hai
tỉnh Nhiệt Hà và Hà Bắc. Để có thể tự do hành động, ngày 24 - 3 - 1933 Nhật Bản
tuyên bố rút khỏi Hội Quốc liên. Hành động của Nhật đã phá tan nguyên trạng ở
Đông á do Hiệp ước Oasinhtơn năm 1922 qui định, đánh dấu sự tan vỡ bước đầu
của Hệ thống Vecxai - Oasinhtơn. Không dừng lại ở đó, năm 1937 Nhật bắt đầu
mở rộng chiến tranh trên toàn lãnh thổ Trung Quốc.
b) Sự hình thành lò lửa chiến tranh nguy hiểm nhất ở châu Âu
Trong lúc đó, lò lửa chiến tranh thế giới nguy hiểm nhất đã xuất hiện ở châu Âu
với việc Hitle lên cầm quyền ở Đức tháng 1 - 1933. Có thể nói, lực lượng quân
phiệt Đức đã nuôi chí phục thù ngay từ sau khi nước Đức bại trận và phải chấp
nhận hoà ước Vécxai. Bước vào thập niên 30, sự sụp đổ của chính phủ Muylơ
(Muler) - chính phủ cuối cùng của nền Cộng hoà Vaima (Weimar) - và việc
Bơruyninh (Bruning) lên nắm chính quyền đầu năm 1930 đánh dấu một thời kì
chuyển biến mới trong chính sách đối nội cũng như đối ngoại của Đức. Xu hướng
thành lập một chính quyền ''mạnh'', một nền chuyên chính dân tộc chủ nghĩa cực
đoan đã trở thành nhu cầu cấp thiết của giới quân phiệt ở Đức. Đảng Quốc xã
được coi là lực lượng thực tế có thể đáp ứng được nhu cầu đó và Hítle được coi là
“người hùng” có thể ngăn chặn được “tình trạng hỗn loạn và chủ nghĩa bônsêvích”.
Ngày 30-1-1933 Tổng thống Hinđenbua (Hindenburg) đã cử Hitle, lãnh tụ của
Đảng Quốc xã làm Thủ tướng, mở đầu một thời kỳ đen tối trong lịch sử nước Đức.
Việc Hitle lên cầm quyền không chỉ là một sự kiện thuần tuý của nước Đức, mà
còn “đánh dấu một bước ngoặt quyết định trong lịch sử quan hệ quốc tế”. Bởi lẽ,
“đối mặt với Hítle, chủ nghĩa “xoa dịu” của Anh, sự trì trệ của Pháp và chủ nghĩa
trung lập của Mỹ là những hiện tượng tiêu biểu nhất của thời kỳ tiếp theo”(1). Từ
Trung Hải Để thoát ra khỏi cuộc đại khủng hoảng kinh tế 1929-1933 và xem xét
lại Hệ thống Vecxai - Oasinhtơn có lợi cho mình, giới cầm quyền phát xít ở Italia
chủ trương quân sự hoá nền kinh tế, tăng cường chạy đua vũ trang và thực hiện
chính sách bành trướng xâm lược ra bên n goài. Thất bại trong việc ký kết Hiệp
ước tay tư (Italia - Anh - Đức - Pháp) nhằm xem xét lại đường biên giới đã qui
định ở châu Âu trong khuôn khổ Hệ thống hoà ước Vecxai tháng 6 - 1933, từ năm
1934 Mutxôlini ráo riết chuẩn bị kế hoạch xâm lược, thi hành đạo luật quân sự hoá
đất nước. Lúc này quan hệ giữa Italia với Đức còn căng thẳng do mâu thuẫn về
quyền lợi ở vùng Ban căng. Khi Đức đưa ra đạo luật cưỡng bách tòng quân (3 -
1935), Italia đã kí kết với Anh, Pháp Hiệp ước Xt rêxa (Stresa) tháng 4 - 1935
nhằm thiết lập liên minh chống Đức. Nhưng liên minh này đã nhanh chóng tan vỡ
bằng việc Anh kí với Đức một hiệp ước riêng rẽ về hạn chế lực lượng hải quân (6 -
1935) và sự kiện Italia chính thức xâm lược Êtiôpia ngày 3 - 10 - 1935. Bốn ngày
sau sự kiện này, ngày 7 - 10 - 1935 Hội Quốc Liên ra tuyên bố lên án Italia và
thông qua nghị quyết trừng phạt bằng những biện pháp kinh tế - tài chính. Tuy
nhiên, “lệnh trừng phạt chỉ làm Italia bực mình chứ không thực sự ngăn cản họ
tiếp tục các chiến dịch”(1). Nh ững sự kiện trên đây đã khiến Mútxôlini rời bỏ liên
minh Anh, Pháp, xích lại gần hơn với nước Đức phát xít. Trong khi đó, sự bất lực
của Hội Quốc liên cùng với thái độ và hành động thoả hiệp của các nước Anh,
Pháp, Mỹ đã khuyến khích hành động xâm lược của phát xít Italia. Sau khi chiếm
được Êtiôpia, Italia đã ký với Đức Nghị định thư tháng 10 - 1936, đánh dấu sự
hình thành trục Beclin - Rôma. Bắt đầu từ đây, Đức và Italia tìm cách phối hợp và
củng cố liên minh trong cuộc đối đầu với Liên Xô cũng như các đối thủ khác ở
châu Âu. Cả hai nước đều đưa quân đội can thiệp trực tiếp và công nhận chính
quyền phát xí t Phrancô trong cuộc nội chiến ở Tây Ban Nha (1936 - 1939).
Hai lò lửa chiến tranh hình thành ở châu Âu bắt đầu có mối liên hệ với lò lửa chiến
tranh ở Viễn Đông. Ngày 25 - 11 - 1936, Đức và Nhật đã kí kết Hiệp ước chống
Quốc tế cộng sản với những cam kết phối hợp các hoạt động chính trị đối ngoại và
các biện pháp cần thiết để chống Liên Xô và Quốc tế cộng sản, đồng thời còn
thiệp, đứng về phía phát xít Phrancô chống lại Chính phủ Cộng hoà với mưu đồ
biến Tây Ban Nha thành một bàn đạp chiến lược cho kế hoạch bành trướng của
mình ở châu Âu, châu Phi, châu á và Đại Tây Dương. Trong bối cảnh đó, các
chính phủ Anh, Pháp đã thi hành chính sách “không can thiệp” tuyên bố cấm xuất
khẩu vũ khí và vật liệu chiến tranh sang Tây Ban Nha. Ngày 9 - 9 - 1936, “Uỷ ban
về vấn đề không can thiệp” được thành lập. Mĩ không chính thức tham gia vào Uỷ
ban này nhưng trên thực tế cũng duy trì lệnh cấm vận vũ khí đối với Tây Ban Nha.
Trong khi không áp dụng một biện pháp cần thiết nào để ngăn chặn sự can thiệp
trực tiếp của Đức và Italia ở Tây Ban Nha, chính sác h “không can thiệp” của Anh,
Pháp, Mĩ về thực chất là hành động thoả hiệp với các lực lượng phát xít chống
nước Cộng hoà Tây Ban Nha. Hơn nữa, các công ti độc quyền của Anh, Pháp, Mĩ
vẫn tiếp tục có quan hệ thương mại và tài chính với lực lượng phát xít Phrancô.
Cuối cùng, các chính phủ Anh, Pháp đã công khai ủng hộ quân phiến loạn Phrancô,
lực lượng đã chiếm ưu thế rõ rệt ở Tây Ban Nha vào năm 1939.
Ngày 10 - 2 - 1939, hải quân Anh đã hỗ trợ cho lực lượng phiến loạn chiếm đảo
Minôca (Minorca) nằm trong quần đảo Balêric (Balearic). Ngay sau đó, chính phủ
Pháp đã gửi tối hậu thư cho Chính phủ Cộng hoà Tây Ban Nha với yêu cầu giao
nộp Mađrít và các vùng lãnh thổ khác cho lực lượng Phrancô. Ngày 27 - 2 - 1939,
Anh và Pháp đồng thời cắt đứt quan hệ ngoại giao với Chính phủ cộng hoà Tây
Ban Nha và tuyên bố công nhận chính quyền Phrancô. Liên Xô là nước đứng về
phía nước Cộng hoà Tây Ban Nha trong cuộc đấu tranh chống phát xít. Mặc dù lúc
đầu Liên Xô đã tham gia Uỷ ban về các vấn đề không can thiệp, nhưng sự can
thiệp quân sự của Đức và Italia đã khiến Liên Xô phải hành động. Cả đất nước Xô
viết tham gia phong trào ủng hộ nước Cộng hoà Tây Ban Nha: số tiền quyên góp
đã lên tới 47 triệu rúp. Đồng thời, Liên Xô còn tham gia trong lực lượng tình
nguyện quốc tế chiến đấu bảo vệ nước Cộng hoà đến từ 53 nước trên thế giới. Tuy
vậy, do so s ánh lực lượng quá chênh lệch, cuộc chiến tranh Tây Ban Nha kết thúc
với thất bại của Chính phủ Cộng hoà. Ngày 28 - 3 - 1939, lực lượng Phrancô với
sự hỗ trợ của quân đội Italia đã chiếm thủ đô Mađrít. Sự sụp đổ của nền Cộng hoà
biểu Tiệp Khắc không được mời tham dự, chỉ được triệu tập đến để nghe kết quả.
Hiệp ước Muyních qui định Tiệp Khắc phải cắt toàn bộ vùng Xuyđét (trong vòng
10 ngày) cho Đức và phải cắt cho Ba Lan, Hunggari những vùng lãnh thổ đã được
xác định trước đó (trong thời hạn 3 tháng). Trước áp lực của Anh và Pháp, chính
phủ Tiệp Khắc chấp nhận Hiệp ước Mu yních, theo đó, Tiệp Khắc mất đi khoảng
1/4 dân số, 1/5 lãnh thổ với nhiều công trình quân sự quan trọng. Để đổi lại, Hítle
đã kí với Anh bản Tuyên bố không xâm lược lẫn nhau giữa Đức và Anh. Sau đó,
ngày 6 - 12 - 1938, Hiệp định không xâm lược Pháp - Đức cũng được kí kết tại
Pari. Hiệp ước Muyních là đỉnh cao nhất của chính sách thoả hiệp mà các cường
quốc tư bản phương Tây thi hành trong nhiều năm nhằm tránh một cuộc chiến
tranh với nước Đức phát xít và chĩa mũi nhọn chiến tranh về phía Liên Xô. “C
hính sách Muyních” đã dẫn đến những hậu quả rất nặng nề đối với chính bản thân
hai nước Anh và Pháp. Sự thoả hiệp đầu hàng của các nước này chỉ càng làm cho
nước Đức phát xít đi xa hơn nữa trong chính sách mở rộng chiến tranh. Ngày 15 -
3 - 1939, Hítle công khai xé bỏ Hiệp ước Muyních chiếm đóng toàn bộ lãnh thổ
Tiệp Khắc. Sau đó một tuần, ngày 21 - 3 Hítle đưa ra yêu sách đòi Ba Lan phải
trao thành phố cảng Đăng dích cho Đức. Một ngày sau quân đội Đức tràn vào
chiếm vùng lãnh thổ Mêmen của Litva. Đồ ng thời, kế hoạch xâm lược Ba Lan
cũng được chuẩn bị ráo riết.
Trong lúc này phát xít Italia cũng tăng cường hành động. Tháng 4 - 1939
Mutxôlini cho quân xâm lược Anbani. Liên minh phát xít Đức - Italia được mở
rộng tới mức tối đa với việc kí kết hiệp ước mới Đức - Italia (thường được gọi là
Hiệp ước Thép) theo đó nếu một bên có chiến tranh với một nước hoặc một nhóm
nước khác thì bên kia sẽ tiến hành giúp đỡ ngay lập tức bằng các lực lượng hải, lục
và không quân. Nguy cơ bùng nổ chiến tranh thế giới chỉ còn là gang tấc, tuy
nhiên các cường quốc phương Tây vẫn tìm mọi cách để hướng cuộc chiến tranh về
phía Liên Xô.
3.Quan hệ quốc tế của Liên Xô trong thập niên 30
Apganixtan. Tham gia vào Hội nghị giải trừ quân bị ở Giênôvơ khai mạc ngày 2 -
2 - 1932 (với sự có mặt của đại diện 63 quốc gia), Liên Xô đã đưa ra một chương
trình giải trừ quân bị và nêu rõ quan điểm của mình về định nghĩa khái niệm xâm
lược trong quan hệ quốc tế. Hội nghị Giênôvơ không đi đến một kết quả đáng kể
nào do mâu thuẫn giữa các cường q uốc tư bản phương Tây, đồng thời những đề
nghị của Liên Xô cũng không được thông qua. Tuy vậy, năm 1933, Liên Xô đã
tiến hành đàm phán và kí kết ba công ước về xác định khái niệm xâm lược với các
nước Extônia, Látvia, Ba Lan, Rumani, Thổ Nhĩ Kì, Iran, Apganixtan, Rumani,
Tiệp Khắc, Nam Tư và Lítva.
Tháng 9 - 1934 Liên Xô tham gia Hội Quốc Liên và trở thành Uỷ viên thường trực
Hội đồng Hội Quốc Liên. Điều đó cho thấy vị thế ngày càng được khẳng định của
Liên Xô trong các vấn đề quốc tế. Tuy nhiên khi gia nhập tổ chức này Liên Xô nêu
rõ quan điểm của mình trong việc không đồng ý với những quyết định trước đây
cũng như một số điều khoản vi phạm chủ quyền các dân tộc của Hội Quốc Liên.
Đồng thời Liên Xô đã tranh thủ điều kiện để đấu tranh cho hoà bình và nền an
ninh toàn thể, ngăn ngừa nguy cơ chi ến tranh thế giới. Tháng 5 - 1935, Hiệp ước
tương trợ song phương Xô - Pháp và Xô-Tiệp đã được kí kết, thể hiện những cố
gắng quan trọng của Liên Xô trong việc xây nền an ninh toàn thể ở châu âu. ở khu
vực châu á, Hiệp ước tương trợ lẫn nhau với Mông cổ (1936) và Hiệp ước không
xâm lược với Trung Quốc (1937) cũng được Liên Xô kí kết nhằm tạo dựng mối
quan hệ cùng tồn tại hoà bình giữa các quốc gia, đảm bảo an ninh cho vùng Viễn
Đông. Khi Nhật mở rộng chiến tranh ra toàn lãnh thổ Trung Quốc (1937), Liên Xô
đứng về phía Đảng cộng sản và nhân dân Trung Quốc, giúp đỡ về tinh thần và vật
chất cho Trung Quốc trong cuộc kháng chiến chống Nhật (cho Trung Quốc vay
100 triệu USD năm 1938, 150 triệu USD năm 1939, nhiều phi công Liên Xô tình
nguyện tham gia chiến đấu chống Nhật ở Trung Quốc). Trong thập niên 30, Liên
Xô cũng giành được thắng lợi trong việc bình thường hoá quan hệ Xô - Mĩ. Gần
một thập kỉ sau khi bình thường hoá quan hệ với hầu hết các nước tư bản chủ yếu,
tháng 11 - 1933 Liên Xô đã đạt được thoả thuận về việc bình thường hoá quan hệ
cuộc đấu tranh chống sự xâm lược của chủ nghĩa phát xít đều thất bại. Trong bối
cảnh đó, Liên Xô buộc phải có những giải pháp kiên quyết để tự bảo vệ nền an
ninh quốc gia. Ngay từ tháng 5 - 1939 với ý đồ kéo dài thời gian để xâm lược châu
Âu trước, Chính quyền Đức đã thăm dò Liên Xô về khả năng kí kết một hiệp ước
không xâm lược nhau Xô - Đức. Lúc đầ u Liên Xô đã bác bỏ đề nghị đó, nhưng sự
tan vỡ không thể cứu vãn nổi của cuộc đàm phán Xô - Anh - Pháp đã khiến Liên
Xô thay đổi ý định và tiếp nhận đề nghị của Đức. Ngày 23 - 8 - 1939, Hiệp ước
không xâm lược nhau Xô - Đức đã được kí kết, theo đó Liên Xô và Đức cam kết
không tấn công nhau, không gia nhập một liên minh nào thù địch với một trong
hai nước kí hiệp ước, không giúp đỡ một nước thứ ba nào chống lại nước kia
Sau đó một ngày, Liên Xô và Đức còn kí thêm một Nghị định thư bí mật phân chia
ph ạm vi ảnh hưởng ở Đông Âu.
Việc kí kết Hiệp ước Xô - Đức không xâm lược nhau đã làm thất bại chính sách
hai mặt của các nước phương Tây, phá tan âm mưu thành lập mặt trận thống nhất
chống Liên Xô do các nước đế quốc dựng lên ở Muyních. Đồng thời sự kiện này
cũng phá vỡ âm mưu của Nhật muốn dựa vào sự ủng hộ của Đức để xâm lược
Liên Xô.
Một tuần sau đó, đêm 30 rạng ngày 31 - 8 - 1939, Đức gửi tới Ba Lan một bản tối
hậu thư về vấn đề Đăng dích và hành lang Ba Lan. Chính phủ Ba Lan bác bỏ
những yêu sách của Đức. Rạng sáng ngày 1 - 9 - 1939, phát xít Đức tấn công Ba
Lan. Chiến tranh thế giới thứ hai bùng nổ. Từ những sự kiện đã nêu ở trên, có thể đi đến những tổng kết sau đây:
• Chiến tranh thế giới thứ hai bùng nổ trước hết là do những mâu thuẫn về quyền
lợi, về lãnh thổ hết sức gay gắt giữa các nước đế quốc với nhau. Sự phân chia thế
giới theo Hệ thống Vécxai - Oasinhtơn chứa đựng những mâu thuẫn không thể
dung hoà được giữa các nước đế quốc. Những mâu thuẫn đó đã dẫn tới một cuộc