ẢNH HƯỞNG CỦA CÁC NHÂN TỐ SINH
THÁI LÊN CƠ THỂ SINH VẬT A. Ảnh hưởng của các nhân tố vô sinh
1. Nhiệt độ
Nhiệt độ ảnh hưởng thường xuyên tới các hoạt động sống của sinh vật.
Thực vật và các động vật biến nhiệt như ếch nhái, bò sát phụ thuộc trực
tiếp vào nhiệt độ môi trường. Nhiệt độ môi trường tăng hay giảm thì nhiệt
độ cơ thể của chúng cũng tăng, giảm theo.
Động vật đẳng nhiệt như chim và thú do có khả năng điều hòa và giữ
được thân nhiệt ổn định nên có thể phát tán và sinh sống khắp nơi. Ví dụ, ở
vùng băng giá Cực Bắc (lạnh tới - 40
o
C) vẫn có loài cáo cực (thân nhiệt
38
o
C) và gà gô trắng (thân nhiệt 43
o
C) sinh sống.
Các loài sinh vật phản ứng khác nhau với nhiệt độ.
Ví dụ, cá rô phi ở nước ta chết ở nhiệt độ dưới 5,6
o
C và trên 42
o
C và phát
triển thuận lợi nhất ở 30
o
C. Nhiệt độ 5,6
o
C gọi là giới hạn dưới, 42
2. Độ ẩm và nước
Nước là thành phần quan trọng của cơ thể sinh vật : chiếm từ 50% đến
98% khối lượng của cây, từ 50% (ở Thú) đến 99% (ở Ruột khoang) khối
lượng cơ thể động vật.
Mỗi động vật và thực vật ở cạn đều có một giới hạn chịu đựng về độ ẩm.
Loại châu chấu di cư có tốc độ phát triển nhanh nhất ở độ ẩm 70%. Có sinh
vật ưa ẩm (thài lài, ráy, muỗi, ếch nhái ), có sinh vật ưa khô (cỏ lạc đa`,
xương rồng, nhiều loại thằn lằn, chuột thảo nguyên). Nước ảnh hưởng lớn
tới sự phân bố của sinh vật. Trên sa mạc có rất ít sinh vật, còn ở vùng nhiệt
đới ẩm và nhiều nước thì sinh vật rất đông đúc.
3. Ánh sáng
Ánh sáng Mặt Trời là nguồn năng lượng cơ bản của mọi hoạt động sống
của sinh vật. Cây xanh sử dụng năng lượng ánh sáng Mặt Trời khi quang
hợp. Động vật ăn thực vật lá đã sử dụng gián tiếp năng lượng ánh sáng Mặt
Trời. Ánh sáng tác động rõ rệt lên sự sinh trưởng, phát triển của sinh vật.
Cây đậu xanh đặt trong ánh sáng liên tục thì lớn nhanh nhưng ra hoa muộn
tới 60 ngày.
Tăng cường độ chiếu sáng cho cá hồi và chim thì chúng phát triển nhanh
hơn nhưng nếu chiếu sáng quá dài lại làm cho chúng sinh trưởng kém đi.
Các vùng của quang phổ đều có tác động đặc trưng lên cơ thể sinh vật
Các tia sáng nhìn thấy được (bước sóng từ 4000 Å đến 8000 Å) chứa
đựng phần lớn năng lượng của bức xạ Măt Trời toả xuống mặt đất, có tầm
quan trọng lớn đối với cơ thể sinh vật. Cây xanh tổng hợp chất hữu cơ nhờ
năng lượng của các tia sáng này.
Các tia tử ngoại có bước sóng cực ngắn, gây chết cho sinh vật còn tia có
cước sóng 3000 Å - 4000 Å lại cần để tổng hợp vitamin D. Chiếu tia tử
ngoại vào sinh vật một liều lượng lớn sẽ gây đột biến.
Các tia hồng ngoại có bước sóng dài hơn 8000 Å là một nguồn nhiệt quan
trọng, sưởi nóng cây cối và cơ thể động vật biến nhiệt (thằn lằn, rắn, sâu bọ)
lãnh thổ riêng của mình.
2. Quan hệ khác loài
Quan hệ sinh thái giữa các cá thể khác loài chủ yếu là quan hệ dinh dưỡng
và nơi ở. Tính chất của quan hệ này là hỗ trợ hoặc đối địch.
a. Quan hệ hỗ trợ
Trong thiên nhiên có nhiều trường hợp sống chung giữa các cá thể khác
loài. Vi khuẩn lam cộng sinh với nấm thành địa y; vi khuẩn cố định đạm sống trong nốt sần rễ cây họ đậu; trùng roi
Trichomonas sống trong ruột mối giúp mối tiêu hoá xenlulô; hải quì bám
trên vỏ ốc của tôm kí cư. Đây là quan hệ cộng sinh, cần thiết, có lợi cho hai bên cả về dinh dưỡng
lẫn nơi ở.
Nhạn bể và cò làm tổ tập đoàn. Quan hệ sống chung này cũng có lợi cho
cả hai bên, tuy nhiên không nhất thiết cần cho sự tồn tại của chúng. Đây chỉ
là quan hệ hợp tác.
Hiện tượng ở gửi của nhiều loài động vật không xương sống, nhất là sâu
bọ sống nhờ trong tổ kiến và tổ mối, cũng là một dạng quan hệ hỗ trợ nhưng
chỉ có lợi cho một bên gọi là quan hệ hội sinh.
b. Quan hệ đối địch
Quan hệ đối địch giữa các cá thể khác loài cũng phổ biến trong thiên
nhiên. Ví dụ, thú có túi sống phổ biến khắp châu Úc. Thỏ và cừu được nhập
vào châu Úc, thích ứng với môi trường sống mới dễ dàng và phát triển
mạnh, giành lấy những nơi ở tốt, làm cho nơi ở của thú có túi phải co hẹp
lại. Thỏ và cừu đã cạnh tranh nơi ở, làm ảnh hưởng tới sự phân bố của thú có
trồng, chăm sóc, chặt tỉa, săn bắn, đốt rẫy, phá rừng. Bất kỳ hoạt động nào
của con người như khai thác rừng, mỏ, xây đập chắn nước, khai hoang, làm
đường, ngăn sông, lấp biển, trồng cây gây rừng đều làm biến đổi mạnh mẽ
môi trường sống của nhiều sinh vật và do đó ảnh hưởng tới sự sống của
chúng.
Do vậy, mỗi người chúng ta phải có ý thức bảo vệ sinh vật, bảo vệ môi
trường sống của sinh vật (trong đó có cả con người) và tạo lại cân bằng sinh
thái cho các môi trường đã bị huỷ hoại ngay tại trường, làng xóm, phường,
xã, quê hương mình.