TĂNG HUYẾT ÁP TRÊN BỆNH NHÂN ÐÁI THÁO ÐƯỜNG
TÓM TẮT
Tăng huyết áp và bệnh nhân đái tháo đường thường kết hợp với nhau. Tăng
huyết áp góp phần quan trọng làm thay đổi độ tàn phế và tử vong của bệnh
nhân đái tháo đường. Trên bệnh nhân đái tháo đường típ 1 tăng huyết áp
thường đi kèm bệnh lý thận. Trên bệnh nhân đái tháo đường típ 2, tăng huyết
áp có thể cùng xuất hiện với các yếu tô nguy cơ của bệnh lý tim mạch, các
yếu tố này đều có cùng một rối loạn tiềm ẩn là đề kháng insulin và tăng
insulin máu. Nền tảng điều trị của tăng huyết áp vá đái tháo đường đều bao
gồm thay đổi nếp sống, điều trị bằng ding dưỡng đặc biệt chú ý đến khẩu
phần giảm muối, ngưng hút thuốc. Có thể dùng nhiều loại thuốc khác
nhauđể điều trị tăng huyết áp trên bệnh nhân đái tháo đường nhưng thuốc ức
chế men chuyển được chỉ định hàng đầu trên bệnh nhân đái tháo đường có
albumin niệu và tăng huyết áp. Hiện nay huyết áp mục tiêu được khuyến cáo
cho người bệnh đái tháo đường > 18 tuổi không có thai là 130/85mmHg.
SUMMARY
HYPERTENSION ON DIABETIC PATIENT
Nguyen Thy Khue * Y Hoc TP. Ho Chi Minh * Special issue of
Endocrinology - Vol. 3 - Supplement of No 4 - 1999: 2-9
Hypertension and diabetes mellitus are commonly associated. Hypertension
contributes substantially to morbidity and mortality in diabetic patients. In
type 1 diabetics, hypertension usually accompanies nephropathy. In type 2,
hypertension may coexist with another cardiovascular risk factors having
common underlying disorders such as insulin resistance and
hyperinsulinemia. For both hypertension and diabetes, basic
nonpharmacologic therapy consist of lifestyle changes, medical nutrition
therapy especially exercise, low salt diet and stop smoking. Many kinds of
medication may be used to treat hypertension in diabetes but ACEI is the
first choice therapy in diabetic patients with microalbuminuria and
hypertension. The target blood pressure recommended so far for non
.
Trong nghiên cứu UKPDS trong số 5102 bệnh nhân được đưa vào nghiên
cứu, nếu lấy tiêu chí là huyết áp tâm thu lớn hơn 160 mmHg, huyết áp tâm
trương lớn hơn 90 mmHg hoặc đang dùng thuốc hạ huyết áp, số nam giới bị
tăng huyết áp là 37% và số nữ giới là 52%
(6)
.
Một đánh giá gần đây của Tổ Chức Sức Khỏe Thế Giới (WHO) so sánh một
số nghiên cứu có phương pháp tương tự cho thấy tỉ lệ tăng huyết áp ở một số
nước vào khoảng 37% ở Nigeria, 28% ở Ðài Loan, 24% ở Pháp và 38% ở
Hà Lan
(17)
.
Nguyên nhân gây tàn phế và tử vong hàng đầu trên bệnh nhân bị cùng lúc
đái tháo đường và tăng huyết áp là bệnh mạch vành, tai biến mạch máu não,
đoạn chi dưới, suy thận giai đoạn cuối. Bệnh đái tháo đường là yếu tố nguy
cơ độc lập của bệnh mạch vành, nguy cơ sẽ tăng gấp 2 nếu có thêm tăng
huyết áp. Các yếu tố nguy cơ cộng thêm của bệnh mạch vành là mập phì, rối
loạn chuyển hóa lipid và hút thuốc. Tăng huyết áp làm tăng nguy cơ bị dày
thất trái và suy tim; cả 2 tình huống này đều thường gặp hơn trên bệnh nhân
đái tháo đường. Bệnh nhân bị đái tháo đường cùng với tăng huyết áp có
khuynh hướng bị nhồi máu cơ tim thể yên lặng. Tăng huyết áp trên bệnh
nhân đái tháo đường cũng làm bệnh võng mạc và bệnh lý thận đái tháo
đường tiến triển nhanh hơn.
YếU Tố BệNH SINH
Nếu không có bệnh tăng huyết áp đi kèm, bệnh nhân đái tháo đường type 1
có huyết áp bình thường cho đến khi đạm niệu xuất hiện trong nước tiểu
(albumin niệu > 300-500 mg/ 24 giờ) và có bệnh thận lâm sàng. Có thể có
ảnh hưởng di truyền vì bệnh thận xảy ra trên anh chị em có cha mẹ bị tăng
huyết áp nhiều hơn trên anh chị em đái tháo đường không có cha mẹ bị tăng
khi ăn khẩu phần có nhiều Natri. Tuy nhiên sự liên hệ giữa tăng trao đổi
Natri và duy trì huyết áp không rõ ràng vì một số bệnh nhân đái tháo đường
có huyết áp bình thường cũng có gia tăng trao đổi Natri. Nếu có thêm suy
thận, sự thải nước và các chất hòa tan sẽ giảm, càng làm cho khuynh hướng
tăng thể tích dịch do tăng đường huyết và ứ đọng Natri kéo dài hơn. Sau hết
cũng có thể có sự thay đổi trong sự tiết hoặc hoạt tính của các hormon điều
hòa Natri như peptid lợi niệu Natri từ tâm nhĩ, prostaglandin.
Hoạt tính renin ở bệnh nhân đái tháo đường bình thường hoặc giảm. Sự giảm
hoạt tính renin có thể do :
1/ tăng thể tích dịch ngoại bào,
2/ giảm sự tổng hợp và phóng thích renin từ hệ thống cận quản cầu,
3/ giảm sự chuyển prorenin thành renin.
Các rối loạn này có thể gây nên do sự thay đổi trong thể tích dịch, tình trạng
tăng đường huyết và các rối loạn chuyển hóa khác, hoặc rối loạn hệ thống
thần kinh tự chủ