ĐẶT VẤN ĐỀ
Đái tháo đường là bệnh rối loạn chuyển hóa, có nguy cơ cao và có tốc độ
phát triển rất nhanh. Bệnh được đặc trưng bởi sự tăng glucose trong máu do
hậu quả của sự thiếu hụt bài tiết insulin hoặc hoạt động kém hiệu quả của
insulin hoặc phối hợp cả hai. Đái tháo đường thai kỳ là một thể đặc biệt của
đái tháo đường. Tỷ lệ đái tháo đường thai kỳ đang có chiều hướng ngày càng
gia tăng nhất là ở khu vực châu Á – Thái Bình Dương trong đó có Việt Nam.
Đái tháo đường thai kỳ thường xuất hiện vào khoảng tuần thai thứ 24 –
28 của thai kỳ [1], [2], [3], khi nhau thai sản xuất ra một lượng lớn các
hormone gây kháng insulin. Đái tháo đường thai kỳ nếu không được chẩn
đoán sớm và điều trị kịp thời sẽ gây ra nhiều tai biến cho cả mẹ và thai nhi
như tiền sản giật, thai chết lưu, sảy thai sớm, thai to và tăng tỷ lệ tử vong chu
sinh…[4], [5]. Vì vậy trên thế giới bệnh đái tháo đường trong thời gian mang
thai đã và đang là vấn đề được nhiều tác giả đi sâu nghiên cứu.
Những nghiên cứu gần đây đã chứng minh được rằng mô mỡ không chỉ
có vai trò dự trữ năng lượng, mà nó còn có chức năng như một cơ quan nội
tiết tiết ra các phân tử có hoạt tính sinh học khác nhau, được gọi các
Adipokines [6], [7]. Adipokines tham gia vào một loạt các quá trình như cầm
máu, chuyển hóa lipid, xơ vữa động mạch, điều chỉnh huyết áp, độ nhạy cảm
insulin và chúng được biết là có vai trò quan trọng trong bệnh sinh của các
bệnh liên quan đến rối loạn chuyển hóa và bệnh đái tháo đường. Trong số các
Adipokines thì Adiponectin là một protein được phát hiện vào nhưng năm
1990 [8], nó làm tăng tính nhạy cảm insulin, chống viêm, kích thích sự hấp
thu glucose trong cơ xương, giảm sản xuất glucose ở gan…[9]. Chính vì thế
nồng độ adiponectin có liên quan đáng kể với đái tháo đường thai kỳ, béo phì,
tăng huyết áp.
Trong thai kỳ bình thường, sự tiết adiponectin của mẹ giảm dần và giảm
nhiều hơn ở những phụ nữ bị đái tháo đường thai nghén [10]. Hơn nữa nồng
độ adiponectin cũng giảm sau khi sinh ở những phụ nữ có tiền sử đái tháo
Chẩn đoán ĐTĐ căn cứ vào 1 trong 3 tiêu chuẩn sau:
Glucose máu lúc đói ( sau khi nhịn ăn ít nhất là 8 giờ ) ≥ 7.0 mmol/l
(126mg/dl), làm xét nghiệm 2 lần liên tiếp hoặc:
Glucose máu 2 giờ sau khi uống 75g glucose ≥ 11.1 mmol/l (200mg/dl) hoặc:
Glucose máu bất kỳ ≥ 11.1 mmol/l (200mg/dl) kèm theo các triệu chứng của
tăng glucose máu.
• Tiêu chuẩn chẩn đoán đái tháo đường theo khuyến cáo của Hội đái tháo
đường Hoa Kỳ ( 2010 ) [13].
Chẩn đoán ĐTĐ dựa vào 1 trong 4 tiêu chuẩn sau:
HbA1c ≥ 6.5%. Xét nghiệm được làm tại phòng xét nghiệm sử dụng phương
pháp chuẩn.
Glucose máu lúc đói ≥ 7.0mmol/l ( 126mg/dl ). Glucose máu lúc đói được
đinh nghĩa là glucose máu định lượng ở thời điểm nhịn đói ít nhất 8 giờ, xét
nghiệm làm ít nhất 2 lần.
Glucose máu 2 giờ sau khi uống 75g glucose ≥ 11.1mmol/l (200mg/dl).
Bệnh nhân có các triệu chứng cổ điển của tăng glucose huyết kèm theo xét
nghiệm glucose máu ngẫu nhiên ≥ 11.1mmol/l (200mg/dl).
Từ năm 2010, Hiệp hội ĐTĐ Mỹ đã chấp nhận xét nghiệm chỉ số HbA1c
như một công cụ để chẩn đoán và sàng lọc đái tháo đường cùng với xét
nghiệm glucose máu. Chỉ có các xét nghiệm HbA1c được thực hiện từ phòng
xét nghiệm đạt tiêu chuẩn mới được sử dụng cho mục đích chẩn đoán và sàng
lọc bệnh ĐTĐ [13].
1.1.3. Phân loại đái tháo đường
Phân loại đái tháo đường theo Hội đái tháo đường Hoa kỳ (ADA) 2004 [14].
• Đái tháo đường type 1 (đái tháo đường phụ thuộc insulin).
Đái tháo đường type 1 chiếm khoảng 5-10%, phần lớn xảy ra ở trẻ em và
người trẻ tuổi tuy vậy vẫn có thể gặp ở lứa tuổi 80-90. Đây là kết quả của sự
phá hủy tế bào bêta của tuyến tụy (do tự miễn hoặc vô căn ) dẫn đến sự thiếu
hụt gần như tuyệt đối insulin.
1.2.1. Định nghĩa
Đái tháo đường thai kỳ (ĐTĐTK) là tình trạng rối loạn dung nạp glucose
ở bất kỳ mức độ nào, khởi phát hoặc phát hiện lần đầu tiên trong lúc mang
thai. Định nghĩa này được áp dụng dù người bệnh có cần phải điều trị bằng
insulin hay chỉ cần điều chỉnh chế độ ăn và dù cho diễn biến sau đẻ còn tồn
tại hay không. Định nghĩa này không loại trừ trường hợp bệnh nhân đã có rối
loạn dung nạp glucose từ trước (nhưng chưa được phát hiện) hay xảy ra đồng
thời với quá trình mang thai [1].
1.2.2. Lịch sử phát hiện, nghiên cứu chẩn đoán đái tháo đường thai kỳ [1],
[2]
Vào đầu thế kỷ XIX, năm 1828, Bennwitz lần đầu tiên công bố một
trường hợp đái tháo đường phát hiện trong thời gian mang thai. Đó là một thai
phụ 22 tuổi, mang thai lần thứ 4, có triệu chứng đa niệu vào tháng thứ 5 cùng
với các triệu chứng khác như khát nước, da khô… Tiền sử 3 lần mang thai
trước sinh đẻ hoàn toàn bình thường. Bệnh nhân được chẩn đoán là đái tháo
đường và được điều trị bằng chế độ ăn kiêng. Thai phụ đẻ đủ tháng nhưng
thai nhi chết trong cuộc đẻ và cân năng của thai > 4.0kg.
Năm 1882, Matthews Ducan lần đầu tiên công bố nghiên cứu bệnh đái
tháo đường ở phụ nữ có thai tại hội nghị sản khoa Anh Quốc. Nghiên cứu
cho thấy rằng trong 22 lần mang thai ở 15 thai phụ có biểu hiện đái nhiều
thì kết quả là có 13 thai nhi tử vong, và một phụ nữ chết sau đó 1 năm do đái
tháo đường.
Tới những năm 1940-1950, các nghiên cứu tại Mỹ và Scotland đã khẳng
định: tăng đường máu người mẹ làm tăng tỷ lệ tử vong ở trẻ sơ sinh. Ngoài ra,
các tác giả cũng chỉ ra rằng trong thời kỳ mang thai có sự thay đổi tính nhạy
cảm với insulin.
Năm 1954 nghiên cứu đầu tiên về bất thường chuyển hóa carbonhydrat ở
thai phụ được tiến hành tại Boston. Nghiệm pháp sàng lọc với 50g glucose lần
đầu tiên được sử dụng.
thấy tỷ lệ đái tháo đường thai kỳ của các thai phụ không hề thấp và có chiều
hướng gia tăng.
Bảng 1.2: Tỷ lệ đái tháo đường thai kỳ qua các nghiên cứu trong nước [1], [17], [18].
Tác giả Năm Địa điểm Tỷ lệ (%)
Ngô Thị Kim Phụng 1999 Quận 4 TP Hồ Chí Minh 3.9
Ng.T.Kim Chi và CS 2000 BV Phụ Sản Hà Nội 3.6
Tạ Văn Bình và CS 2002-2004
BV Phụ Sản TW và BV
Phụ Sản Hà Nội
5.7
Vũ Bích Nga và CS 2006-2008
BV Phụ Sản TW và Khoa
sản BV Bạch Mai
7.8
1.2.4. Sinh lý bệnh của đái tháo đường thai kỳ [1], [2].
Mang thai là yếu tố thuận lợi thúc đẩy sự xuất hiện các rối loạn điều hòa
đường máu do tăng tình trạng kháng insulin. Đái tháo đường thai kỳ có thể
xảy ra khi tình trạng kháng insulin sinh lý này tăng kịch phát và cùng xuất
hiện song song với sự thiếu hụt insulin tương đối.
Sinh lý bệnh đái tháo đường thai kỳ tương tự như sinh lý bệnh của đái
tháo đường type 2, bao gồm kháng insulin và bất thường về tiết insulin.
1.2.4.1. Bài tiết các hormone trong thời gian mang thai
Sản xuất các hormone có khuynh hướng tăng trong thời gian mang thai
và phần lớn các hormon này đều góp phần kháng insulin và gây rối loạn chức
năng tế bào beeta của tụy. Nửa đầu thai kỳ có sự tăng nhạy cảm với insulin
tạo điều kiện cho sự tích trữ mỡ của cơ thể mẹ. Vào nửa sau của thai kỳ có
hiện tượng kháng insulin, đồng thời nhu cầu insulin của các thai phụ cũng tăng
khi thai càng phát triển gây thiếu hụt insulin tương đối. Sự kết hợp của hai yếu tố
trên làm thai phụ có xu hướng dẫn tới đái tháo đường ở nửa sau của thai kỳ. Đái
không bị rối loạn trong thời gian làm nghiệm pháp dung nạp glucose. Tác giả
đi đến kết luận rằng không có mối liên quan giữa tình trạng dung nạp glucose
và nồng độ prolactin [21]. Như vậy prolactin không giữ vai trò quan trọng
trong cơ chế bệnh sinh đái tháo đường thai kỳ.
• Vai trò của lactogen (HPL: human placental lactogen) với sự kháng insulin.
Lactogen (HPL) có cấu trúc hóa học và chức năng miễn dịch giống như
GH. Nồng độ HPL vào thời điểm cuối của thai kỳ gấp 1000 lần nồng độ của
GH. Ngoài tác dụng đồng hóa protein và ly giải mỡ, HPL còn có tác dụng lên
tuyến vú và hoàng thể. Dùng một liều HPL duy nhất có thể gây tình trạng rối
loạn dung nạp glucose nhẹ từ 5 – 12 giờ.
• Vai trò của leptin với sự kháng insulin.
Leptin là một protein, TLPT 16kDa, được mô mỡ bài tiết. Nó đóng một
vai trò quan trọng trong việc điều tiết tiêu thụ năng lượng, hơn nữa leptin còn
tham gia vào chức năng nội tiết, viêm, phản ứng miễn dịch, sinh sản. Do đó
nó làm tăng độ nhạy cảm insulin qua ảnh hưởng đến bài tiết insulin, sử dụng
glucose, tổng hợp glycogen và chuyển hóa acid béo. Nồng độ leptin ở phụ nữ
có thai cao hơn người không mang thai, nhất là vào ba tháng giữa và ba tháng
cuối của thai kỳ. Kautzky và cộng sự tiến hành nghiên cứu đo nồng độ leptin
ở ba nhóm: các thai phụ bị đái tháo đường thai kỳ, các thai phụ không đái
tháo đường thai kỳ và phụ nữ không có thai. Các tác giả thấy nồng độ leptin
cao nhất ở nhóm đái tháo đường thai kỳ, thấp nhất ở người không có thai và
sự khác nhau có ý nghĩa thống kê [22].
1.2.4.2. Các giai đoạn thai kỳ và ảnh hưởng của tăng đường máu lên sự
phát triển của thai nhi
Mỗi thai kỳ bình thường kéo dài khoảng 9 tháng (40 tuần). Thai kỳ được
chia thành ba giai đoạn, mỗi giai đoạn kéo dài 3 tháng [1], [17], [23].
• Ba tháng đầu thai kỳ
Giai đoạn nang trứng gồm 5 tuần đầu của thai kỳ. Trong giai đoạn này,
trứng được thụ tinh hình thành những mầm mống của rau thai và gắn vào
• Ba tháng cuối thai kỳ.
Tất cả các hệ thống cơ quan đều đã được hình thành đầy đủ, các xương
sọ của thai nhi mềm và dễ di chuyển. Đây là thời kỳ phát triển nhanh chóng
của các tế bào mỡ, cơ và tế bào beta của đảo tụy. Lúc này thai bắt đầu tăng
cân và lớn rất nhanh.
Tăng đường máu vào giai đoạn này không gây các dị tật bẩm sinh cho
thai nhưng lại gây thai to. Vì tăng đường máu mẹ làm đường máu thai tăng, kích
thích tụy của thai sản xuất insulin làm phát triển nhanh các tế bào mỡ, cơ. Việc
phát hiện ra hiện tượng quá sản của tiểu đảo tụy, tăng khối lượng của các tổ chức
nhạy cảm với insulin ở những thai to của bà mẹ bị đái tháo đường thai kỳ đã
chứng minh giả thiết tăng đường máu gây tăng tiết insulin của Perdersen.
1.2.5. Yếu tố nguy cơ và phân loại nguy cơ của đái tháo đường thai
kỳ
1.2.5.1. Yếu tố nguy cơ
• Tuổi mẹ ≥ 25: được coi là yếu tố nguy cơ của đái tháo đường thai kỳ [24]
• Béo phì hoặc thừa cân trước khi có thai: Hầu hết các nghiên cứu đều nhận
thấy tỷ lệ đái tháo đường thai kỳ ở nhóm phụ nữ béo phì trước mang thai cao
hơn nhóm có BMI bình thường [25], [26], [27]. Theo khuyến cáo của tổ chức
Y tế thế giới đề nghị cho khu vực Châu Á – Thái Bình Dương tháng 2/2000,
BMI ≥ 23 được gọi là thừa cân và béo phì [28].
• Tiền sử gia đình có người mắc bệnh đái tháo đường, đặc biệt là có người đái
tháo đường thế hệ thứ nhất. Phụ nữ có thai ở gia đình có người bị đái tháo
đường thì nguy cơ bị đái tháo đường thai kỳ chiếm 50-60% so với nhóm
không có tiền sử gia đình đái tháo đường [5].
• Có tiền sử bị rối loạn dung nạp glucose hoặc rối loạn đường huyết khi đói
hoặc đã được chẩn đoán đái tháo đường thai kỳz trong lần mang thai trước.
Đây là yếu tố nguy cơ rất cao của đái tháo đường thai kỳ.
• Có tiền sử sản khoa bất thường trong lần mang thai trước: thai chết lưu, sảy
thai không rõ nguyên nhân, nhiễm độc thai nghén, đẻ non… Các yếu tố này
• Nguy cơ trung bình
Là những thai phụ không có các đặc điểm của nhóm nguy cơ cao và
nguy cơ thấp.
• Nguy cơ thấp
Có tất cả các đặc điểm sau:
Tuổi < 25.
Thuộc chủng tộc mà tỷ lệ đái tháo đường thai kỳ rất thấp.
Trong gia đình không có ai bị đái tháo đường.
Cân nặng trước mang thai và trong quá trình mang thai bình thường.
Không có tiền sử đái tháo đường thai kỳ.
Không có tiền sử sản khoa xấu.
Năm 2005 hội nghị quốc tế về đái tháo đường tại Bỉ cũng khuyến cáo
sàng lọc cho các thai phụ có nguy cơ cao ngay từ lần khám thai đầu của thai
kỳ vì nếu nhóm nguy cơ thấp không được sàng lọc có thể sẽ bỏ sót khoảng
10% đái tháo đường [32].
1.2.5.3. Yếu tố nguy cơ cao đái tháo đường thai kỳ của các thai phụ Việt Nam.
Năm 2006-2008, Vũ Bích Nga và cộng sự [1] nghiên cứu trên 1327 thai
phụ quản lý thai tại hai bệnh viện lớn của Hà Nội thấy rằng, có 223 thai phụ
có yếu tố nguy cơ cao, chiếm tỷ lệ 16.8%. Yếu tố nguy cơ cao hay gặp nhất là
tiền sử gia đình đái tháo đường thế hệ thứ nhất (13.2%) và thừa cân béo phì
trước khi mang thai (9.9%). So sánh với nghiên cứu của Nguyễn Thị Kim Chi
cùng cộng sự cách đây khoảng 10 năm [29] và nghiên cứu của Tạ Văn Bình
cùng cộng sự cách đây khoảng 5 năm [17] thì tỷ lệ 2 yếu tố nguy cơ này trong
nghiên cứu của Vũ Bích Nga và cộng sự cao hơn hẳn.
Bảng 1.3: So sánh một số yếu tố nguy cơ cao bị đái tháo đường thai kỳ qua các
nghiên cứu ở Việt Nam
Tác giả
Tỷ lệ tiền sử gia
đình bị ĐTĐ
thai chậm phát triển trong tử cung, đẻ non và chết chu sinh. Vì vậy đo huyết
áp thường xuyên, theo dõi cân nặng, tìm protein niệu cho các thai phụ đái
tháo đường thai kỳ là việc làm rất cần thiết, nhất là vào nửa sau của thai kỳ.
Tiền sản giật và sản giật: tiền sản giật là hội chứng xảy ra trong thời
kỳ mang thai, gồm các triệu chứng: tăng huyết áp, có protein niệu,
acid uric máu tăng > 6mg/dl. Tỷ lệ các phụ nữ đái tháo đường thai kỳ bị
tiền sản giật khoảng 12% cao hơn các phụ nữ không bị đái tháo đường thai
kỳ (8%) [1], [34
].
Sảy thai và thai chết lưu: ĐTĐTK tăng nguy cơ bị sảy thai tự nhiên nếu
glucose máu kiểm soát không tốt ở 3 tháng đầu. Ngược lại các thai phụ hay
bị sảy thai liên tiếp không rõ nguyên nhân thì cần phải kiểm tra đường máu
cho họ xem có phải họ bị đái tháo đường không.
Thai chết lưu ở thai phụ bị đái tháo đường gặp với tần suất cao hơn so
với nhóm chứng. Phần lớn các trường hợp thai chết lưu ở người ĐTĐTK xảy
ra đột ngột mặc dù tỷ lệ tử vong chu sinh giảm đi một cách có ý nghĩa so với
trước đây nhưng tỷ lệ thai chết lưu vẫn còn: tỷ lệ thai chết lưu/ tử vong chu
sinh là 2/1 [1].
Nhiễm trùng tiết niệu: phụ nữ đái tháo đường thai kỳ dễ bị nhiễm trùng tiết
niệu. Nhiễm trùng tiết niệu có thế không có triệu chứng lâm sàng nhưng làm
cho đường máu của người mẹ mất cân bằng và cần phải được điều trị. Nếu không
được điều trị sẽ dễ dàng dẫn tới viêm đài bể thận cấp, từ đó gây ra nhiều các tai
biến khác như nhiễm toan ceton, đẻ non, nhiễm trùng ối [1].
Đẻ non: người bị đái tháo đường thai kỳ tăng nguy cơ đẻ non so với thai phụ
không bị đái tháo đường. Tỷ lệ đẻ non ở phụ nữ đái tháo đường thai kỳ là
26% trong khi ở quần thể thường chỉ là 9.7%. Các nguyên nhân dẫn đến đẻ
non là kiểm soát đường máu kém, nhiễm trùng tiết niệu, đa ối, tiền sản giật,
tăng huyết áp…[1].
đẻ khó và có các sang chấn tổn thương sau đẻ như liệt đám rối thần kinh cánh
tay, gẫy xương đòn, trật khớp vai, ngạt. Thai to làm tăng nguy cơ phải mổ đẻ.
Tỷ lệ mổ đẻ với các thai to là 47% ,[32]. Pedersen cho rằng thai to là do tăng
đường máu mẹ đi qua rau thai làm đường máu thai tăng sẽ kích thích tụy thai
tăng sản xuất insulin gây cường insulin ở thai [38]. Mà insulin có tác dụng
đồng hóa kích thích tăng trưởng một cách trực tiếp hoặc gián tiếp thông qua
các yếu tố tăng trưởng. Điều này được chứng minh trong nghiên cứu của
Simmons, tác giả lấy máu cuống rốn định lượng insulin ở trẻ lúc được sinh ra
và nhận thấy rằng trẻ to béo của nhóm mẹ bị ĐTĐ có tình trạng cường insulin
so với trẻ của nhóm mẹ không bị ĐTĐ [39].
• Hạ đường máu sau sinh trong những ngày đầu sau đẻ: khi glucose máu mẹ
tăng và 3 tháng cuối thai kỳ và đặc biệt là vào giai đoạn chuyển dạ thì glucose
máu của thai cũng sẽ tăng sẽ kích thích tụy thai nhi tăng sản xuất insulin. Sau
khi sinh, nguồn glucose máu từ mẹ cung cấp cho thai ngừng đột ngột nhưng
nồng độ insulin trong máu con vẫn cao. Insulin cao làm cho các mô bắt giữ
glucose nhiều hơn trong gan khi gan trẻ sơ sinh vẫn chưa sản xuất được đủ
glucose dẫn đến hạ glucose máu. Gặp khoảng 20 – 40% số trẻ sinh ra từ các
bà mẹ bị đái tháo đường. Nguyên nhân do giảm sản xuất glucose từ gan. Đáp
ứng kém của tiết glucagon .
• Hạ canxi máu sơ sinh: trong 3 ngày đầu tỷ lệ hạ canxi máu có thể đạt tới 50%
nếu kiểm soát glucose máu mẹ không tốt. Khi glucose máu của mẹ không
kiểm soát tốt, mẹ sẽ bị mất ion Mg qua nước tiểu làm nồng độ Mg máu mẹ
giảm dẫn đến nồng độ Mg máu con giảm. Mất Mg sẽ ảnh hưởng tới sự bài tiết
hormone PTH của thai nhi gây hạ canxi máu.
• Đa hồng cầu: tỷ lệ đa hồng cầu gặp từ 12 – 40% tùy theo nghiên cứu. Hiện
tượng đa hồng cầu ở trẻ sơ sinh của các bà mẹ bị ĐTĐ là: thứ nhất do thiếu
oxy máu làm tăng sản xuất erythropoietin, nồng độ erythropoietin của trẻ vào
lúc sinh sẽ tương quan với nồng độ glucose máu và nồng độ insulin trong
nước ối và máu cuống rốn. Thứ hai do thay đổi phân bố dòng máu giữa nhau
này tác giả chỉ ra rằng, nếu đường máu lúc đói càng cao thì càng có dị tật bẩm
sinh ở nhiều cơ quan [41].
• Một số nguy cơ khác như: thai chậm phát triển trong tử cung, phì đại cơ tim,
tăng độ nhớt máu, huyết khối tĩnh mạch thận…
• Hậu quả lâu dài: trẻ sinh ra từ những bà mẹ đái tháo đường thai kỳ nói riêng
và những bà mẹ đái tháo đường nói chung trong tương lai dẽ bị béo phì và
tăng nguy cơ bị ĐTĐ type 2.
Tóm lại ĐTĐTK nếu không được chẩn đoán và điều trị có thể gây ra rất
nhiều các biến chứng cho cả mẹ và con, đặc biệt là có thể có những biến
chứng nguy hiểm tới tính mạng của mẹ và thai nhi. Tuy nhiên qua các nghiên
cứu đều thấy rằng hầu hết các biến chứng này đều có thể dự phòng được nếu
kiểm soát đường máu của mẹ tốt. Vì vậy, chẩn đoán và điều trị kịp thời đái
tháo đường thai kỳ là hết sức quan trọng giúp cho dự phòng các biến chứng
một cách có hiệu quả.
1.2.7. Tiêu chuẩn chẩn đoán đái tháo đường thai kỳ
Cho tới nay vẫn chưa có tiêu chuẩn chẩn đoán đái tháo đường thai kỳ
thống nhất trên toàn thế giới như là tiêu chuẩn chẩn đoán đái tháo đường cho
người không mang thai. Tiêu chuẩn được các nhà nghiên cứu về đái tháo
đường thai kỳ chấp nhận trong Hội nghị quốc tế chuyên đề về đái tháo đường
thai kỳ lần thứ 4 là:
Tiêu chuẩn của hội nghị quốc tế lần thứ 4 về ĐTĐTK tại Hoa Kỳ 1998
[1], [30], [42].
Các thai phụ được làm nghiệm pháp dung nạp glucose với 75g glucose.
Chẩn đoán ĐTĐTK khi thai phụ có ít nhất hai giá trị lớn hơn hoặc bằng dưới đây:
Thời điểm lấy mẫu Ngưỡng giá trị chẩn đoán
Lúc đói 5.3mmol/l
1 giờ 10.0mmol/l
2 giờ 8.6mmol/l
Đây là tiêu chuẩn được nhiều tác giả sử dụng, nhất là các nước châu Âu.
cũng đóng một vai trò trong sự thay đổi nồng độ adiponectin, trong một
nghiên cứu cho thấy nồng độ cao hơn đáng kể của adiponectin ở người da
trắng so với người Ấn Độ - Châu Á với chỉ số BMI phù hợp [49]. Hơn nữa
biểu hiện gen adiponectin bị ức chế bởi β – adrenergic, glucocorticoids và
TNFα [50], [51]. Các stress oxy hóa cũng ức chế biểu hiện của các
adiponectin [52]. Nồng độ adiponectin thấp có lên quan đến đái tháo đường
type 2, kháng insulin, béo phì, tăng huyết áp và phì đại thất trái [45].
1.3.2. Gen mã hóa và thụ thể của adiponectin
Gen adiponectin nằm trên nhiễm sắc thể 3q26, thuộc khu vực có liên quan
với sự phát sinh hội chứng chuyển hóa và đái tháo đường type 2 [53]. Sự biểu lộ
mRNA adiponectin phụ thuộc vào vị trí của mô mỡ ở cơ xương hay ở gan.
Có hai gen mã hóa thụ thể của adiponectin là adipoR1 và adipoR2 theo thứ
tự nằm trên nhiễm sắc thể 1q32 và 12p13 với sự biểu lộ tương ứng của mRNA
adiponectin ở cơ xương và gan [54]. Tuy nhiên con đường truyền tín hiệu trong
các thụ thể adipoR1 và adipoR2 đến nay vẫn chưa hoàn toàn sáng tỏ.
Thụ thể adipoR1 có liên quan chặt chẽ với sự hoạt hóa thông qua con
đường tín hiệu AMPK (AMP-activated protein kinase ) có vai trò điều hòa ức
chế chuyển hóa tân tạo glucose và phối hợp với tăng oxy hóa mỡ [54].
Thụ thể adipoR2 có liên quan mạnh mẽ với sự hoạt hóa con đường tín
hiệu PPAR-γ (peroxisome proliferator-activated receptor-γ), con đường tín
hiệu này kích thích quá trình tiêu thụ năng lượng bằng tăng cường oxy hóa
mỡ, ức chế viêm và stress oxy hóa [55], [56].
Vai trò của PPAR-γ là làm tăng tổng hợp và bài tiết adiponectin, ngược
lại khi dư thừa năng lượng adiponectin giảm xuống hoặc thiếu hụt hay đề
kháng leptin [54] . Ngoài ra sự tương tác của protein điều biến APPL1 với
adipoR1 có vai trò quan trọng đối với dòng tín hiệu adiponectin [57]. Sau khi
gắn với adipoR1, adiponectin có tác dụng làm tăng nhạy cảm insulin và tăng
tiêu thụ mỡ làm phục hồi lại tác dụng của leptin. Trong khi đó lại có khả năng
chống lại quá trình xơ vữa động mạch, chống viêm và chống oxy hóa, vì vậy
điều trị với TZDs [60].
Vai trò của adiponectin trong việc giảm sự đề kháng insulin đã được
chứng minh bởi các nghiên cứu xa hơn ở người và chuột với lipodystrophies
[59], [65], [66]. Lipodystrophies được đặc trưng bởi sự mất mát những mô
mỡ trong cơ thể và đề kháng insulin. Nồng độ adiponectin huyết thanh thấp ở
những bệnh nhân có lipodystrphies và có thể liên quan đến sự vắng mặt của
các mô mỡ và liên quan đến tình trạng kháng insulin. Yamauchi và cộng sự
[59] cho thấy điều trị chuột lipoatrophic với liều adiponectin sinh lý thì thấy
tình trạng tăng đường huyết được cải thiện và tăng insulin.
Nghiên cứu của Bauche và cs (2007); Dietze-Schroeder và cs (2005) cho
thấy thông qua cơ chế ức chế biểu hiện TNF-α và ức chế viêm ở mô mỡ,
adiponectin có tác dụng làm tăng cường và cải thiện sự nhạy cảm của insulin
[67] . Các nghiên cứu khác gần đây trên người đều chứng minh tăng nồng độ
adiponectin huyết tương có liên quan chặt chẽ và độc lập với giảm nguy cơ
mắc bệnh ĐTĐ type 2 ở những người khỏe mạnh [68], [69].
1.3.4. Adiponectin trong thai kỳ bình thường
Trong quá trình mang thai có sự trao đổi chất dinh dưỡng giữa mẹ và
thai nhi để duy trì sự tăng trưởng của thai nhi. Sự đề kháng insulin phát triển
trong nửa cuối thai kỳ, đồng thời với sự tăng trọng lượng của mẹ cũng như
của thai nhi. Như vậy sự thay đổi của người mẹ trong quá trình mang thai có
thể ảnh hưởng đến nồng độ adiponectin. Những nghiên cứu gần đây đã kiểm
tra nồng độ adiponectin huyết thanh ở phụ nữ mang thai trong những thời
điểm cố định của thai kỳ [70], [71]. Cseh và cộng sự đẫ cho thấy nồng độ thấp
hơn của adiponectin trong 30 phụ nữ mang thai bị đái tháo đường so với 40
phụ nữ mang thai bình thường [68]. Kết quả tương tự được quan sát bởi
Worda và cộng sự ở 20 phụ nữ bị đái tháo đường thai kỳ với 21 phụ nữ mang
thai không bị đái tháo đường [69].
Trong quá trình mang thai sự tiết adiponectin của mẹ giảm dần [72]. Sự
giảm này có liên quan đến giảm 60% nồng độ adiponectin mARN trong mô
Thời gian nghiên cứu: Từ 01/2014 – 09/2014.
2.1.A. Tiêu chuẩn lựa chọn
• Nhóm bệnh:
- Các thai phụ có tuổi thai từ 24-28 tuần, được chẩn đoán là đái tháo
đường thai kỳ theo tiêu chuẩn hội nghị Quốc tế lần thứ 4 về ĐTĐ thai kỳ tại
Hoa Kỳ năm 1998.
Tiêu chuẩn của hội nghị quốc tế lần thứ 4 về ĐTĐTK tại Hoa Kỳ 1998 [1],
[30], [42].
Các thai phụ được làm nghiệm pháp dung nạp glucose với 75g glucose,
chẩn đoán ĐTĐTK khi thai phụ có ít nhất hai giá trị lớn hơn hoặc bằng dưới đây:
Thời điểm lấy mẫu Ngưỡng giá trị chẩn đoán
Lúc đói 5.3mmol/l
1 giờ 10.0mmol/l
2 giờ 8.6mmol/l
- Đồng ý tham gia nghiên cứu.
• Nhóm chứng:
- Các thai phụ có tuổi thai từ 24-28 tuần, làm NPDNĐH âm tính, hoàn toàn
khỏe mạnh, tương ứng với tuổi tác, không có yếu tố nguy cơ gây bệnh ĐTĐ,
không có các bệnh mạn tính nào khác.
- Đồng ý tham gia nghiên cứu.
2.1.B. Tiêu chuẩn loại trừ