Nghiên cứu nồng độ adiponectin huyết thanh trên bệnh nhân đái tháo đường thai kỳ tại bệnh viện phụ sản trung ương - Pdf 42

1

ĐẶT VẤN ĐỀ
Đái tháo đường là bệnh rối loạn chuyển hóa, có nguy cơ cao và có tốc độ
phát triển rất nhanh. Bệnh được đặc trưng bởi sự tăng glucose trong máu do
hậu quả của sự thiếu hụt bài tiết insulin hoặc hoạt động kém hiệu quả của
insulin hoặc phối hợp cả hai. Đái tháo đường thai kỳ là một thể đặc biệt của
đái tháo đường. Tỷ lệ đái tháo đường thai kỳ đang có chiều hướng ngày càng
gia tăng nhất là ở khu vực châu Á – Thái Bình Dương trong đó có Việt Nam.
Đái tháo đường thai kỳ thường xuất hiện vào khoảng tuần thai thứ 24 –
28 của thai kỳ [1], [2], [3], khi nhau thai sản xuất ra một lượng lớn các
hormone gây kháng insulin. Đái tháo đường thai kỳ nếu không được chẩn
đoán sớm và điều trị kịp thời sẽ gây ra nhiều tai biến cho cả mẹ và thai nhi
như tiền sản giật, thai chết lưu, sảy thai sớm, thai to và tăng tỷ lệ tử vong chu
sinh…[4], [5]. Vì vậy trên thế giới bệnh đái tháo đường trong thời gian mang
thai đã và đang là vấn đề được nhiều tác giả đi sâu nghiên cứu.
Những nghiên cứu gần đây đã chứng minh được rằng mô mỡ không chỉ
có vai trò dự trữ năng lượng, mà nó còn có chức năng như một cơ quan nội
tiết tiết ra các phân tử có hoạt tính sinh học khác nhau, được gọi các
Adipokines [6], [7]. Adipokines tham gia vào một loạt các quá trình như cầm
máu, chuyển hóa lipid, xơ vữa động mạch, điều chỉnh huyết áp, độ nhạy cảm
insulin và chúng được biết là có vai trò quan trọng trong bệnh sinh của các
bệnh liên quan đến rối loạn chuyển hóa và bệnh đái tháo đường. Trong số các
Adipokines thì Adiponectin là một protein được phát hiện vào nhưng năm
1990 [8], nó làm tăng tính nhạy cảm insulin, chống viêm, kích thích sự hấp
thu glucose trong cơ xương, giảm sản xuất glucose ở gan…[9]. Chính vì thế
nồng độ adiponectin có liên quan đáng kể với đái tháo đường thai kỳ, béo phì,
tăng huyết áp.


2


TỔNG QUAN TÀI LIỆU
1.1.

Định nghĩa, chẩn đoán và phân loại đái tháo đường
1.1.1. Định nghĩa
Đái tháo đường là tình trạng rối loạn chuyển hóa glucid, gây tăng đường

huyết mạn tính do hậu quả của sự thiếu hụt bài tiết insulin hoặc hoạt động
kém hiệu quả của insulin hoặc phối hợi cả hai. Kèm theo có rối loạn chuyển
hóa protid và lipid.
Sự tăng đường huyết mạn tính của bệnh đái tháo đường sẽ gây ra những
biến chứng cho các cơ quan đặc biệt là tim mạch, mắt, thận và hệ thần kinh.
1.1.2. Tiêu chuẩn chẩn đoán bệnh đái tháo đường


Khuyến cáo tiêu chuẩn chẩn đoán đái tháo đường của Tổ chức y tế thế giới



(1998) [12].
Chẩn đoán ĐTĐ căn cứ vào 1 trong 3 tiêu chuẩn sau:
Glucose máu lúc đói ( sau khi nhịn ăn ít nhất là 8 giờ ) ≥ 7.0 mmol/l




(126mg/dl), làm xét nghiệm 2 lần liên tiếp hoặc:
Glucose máu 2 giờ sau khi uống 75g glucose ≥ 11.1 mmol/l (200mg/dl) hoặc:
Glucose máu bất kỳ ≥ 11.1 mmol/l (200mg/dl) kèm theo các triệu chứng của

như một công cụ để chẩn đoán và sàng lọc đái tháo đường cùng với xét
nghiệm glucose máu. Chỉ có các xét nghiệm HbA1c được thực hiện từ phòng
xét nghiệm đạt tiêu chuẩn mới được sử dụng cho mục đích chẩn đoán và sàng
lọc bệnh ĐTĐ [13].
1.1.3. Phân loại đái tháo đường


Phân loại đái tháo đường theo Hội đái tháo đường Hoa kỳ (ADA) 2004 [14].
Đái tháo đường type 1 (đái tháo đường phụ thuộc insulin).
Đái tháo đường type 1 chiếm khoảng 5-10%, phần lớn xảy ra ở trẻ em và
người trẻ tuổi tuy vậy vẫn có thể gặp ở lứa tuổi 80-90. Đây là kết quả của sự
phá hủy tế bào bêta của tuyến tụy (do tự miễn hoặc vô căn ) dẫn đến sự thiếu



hụt gần như tuyệt đối insulin.
Đái tháo đường type 2 (đái tháo đường không phụ thuộc insulin).
Đái tháo đường type 2 chiếm khoảng 90-95% số bệnh nhân bị đái tháo
đường. Bệnh được đặc trưng bởi rối loạn hoạt động hay tiết insulin. Nồng độ
insulin máu bình thường hoặc cao trong trường hợp kháng insulin chiếm ưu
thế; hoặc nồng độ insulin máu giảm trong trường hợp có khiếm khuyết khả
năng tiết insulin.




Các týp đặc biệt khác: bao gồm
Giảm chức năng tế bào bêta do khiếm khuyết gen: từ MODY 1 đến MODY.
ĐTĐ thể MODY do khiếm khuyết 1 gen làm giảm chức năng tế bào bêta gây




chứng Klinefelter, hội chứng turner, loạn dưỡng trương lực cơ…
Đái tháo đường thai kỳ.
1.2.

Tổng quan về đái tháo đường thai kỳ
1.2.1. Định nghĩa
Đái tháo đường thai kỳ (ĐTĐTK) là tình trạng rối loạn dung nạp glucose

ở bất kỳ mức độ nào, khởi phát hoặc phát hiện lần đầu tiên trong lúc mang
thai. Định nghĩa này được áp dụng dù người bệnh có cần phải điều trị bằng
insulin hay chỉ cần điều chỉnh chế độ ăn và dù cho diễn biến sau đẻ còn tồn
tại hay không. Định nghĩa này không loại trừ trường hợp bệnh nhân đã có rối
loạn dung nạp glucose từ trước (nhưng chưa được phát hiện) hay xảy ra đồng
thời với quá trình mang thai [1].

1.2.2. Lịch sử phát hiện, nghiên cứu chẩn đoán đái tháo đường thai kỳ [1],
[2]
Vào đầu thế kỷ XIX, năm 1828, Bennwitz lần đầu tiên công bố một
trường hợp đái tháo đường phát hiện trong thời gian mang thai. Đó là một thai
phụ 22 tuổi, mang thai lần thứ 4, có triệu chứng đa niệu vào tháng thứ 5 cùng
với các triệu chứng khác như khát nước, da khô… Tiền sử 3 lần mang thai
trước sinh đẻ hoàn toàn bình thường. Bệnh nhân được chẩn đoán là đái tháo
đường và được điều trị bằng chế độ ăn kiêng. Thai phụ đẻ đủ tháng nhưng
thai nhi chết trong cuộc đẻ và cân năng của thai > 4.0kg.
Năm 1882, Matthews Ducan lần đầu tiên công bố nghiên cứu bệnh đái
tháo đường ở phụ nữ có thai tại hội nghị sản khoa Anh Quốc. Nghiên cứu
cho thấy rằng trong 22 lần mang thai ở 15 thai phụ có biểu hiện đái nhiều


Bảng 1.1: Tỷ lệ đái tháo đường thai kỳ của một số quốc gia trên thế giới [1], [2].


7

Quốc gia

Năm

Tỷ lệ ĐTĐTK (%)

Đan Mạch

1975

1–7

Bắc Ailen

1980

0.2 – 3

Mỹ

1980

12.3

Thụy Điển

Ngô Thị Kim Phụng

1999

Quận 4 TP Hồ Chí Minh

3.9

Ng.T.Kim Chi và CS

2000

BV Phụ Sản Hà Nội

3.6

Tạ Văn Bình và CS

2002-2004

BV Phụ Sản TW và BV
Phụ Sản Hà Nội

5.7

Vũ Bích Nga và CS

2006-2008

BV Phụ Sản TW và Khoa

khác nhau. Estrogen có thể làm tăng đáp ứng của cơ đối với tác dụng của
insulin trong khi progesterone thì lại là chất đối kháng nhẹ tác dụng của
insulin, làm giảm sự nhạy cảm của mô với insulin, vì vậy hai hormone này có
thể trung hòa tác dụng của nhau. Nếu người bình thường sử dụng cả hai
hormone này sẽ làm tăng nồng độ ceton, tăng triglyceride và tăng acid béo tự


do mà không làm thay đổi nồng độ đường máu.
Vai trò của cortisol với sự kháng insulin.
Nồng độ cortisol tăng khi mang thai, vào giai đoạn cuối của thai kỳ,
nồng độ cortisol tăng gấp 3 lần ở người không mang thai. Rizza và cộng sự sử
dụng kỹ thuật kẹp clamp trong nghiên cứu ở những người được truyền liều
cao cortisol, các tác giả nhận thấy có sự tăng sản xuất glucose ở gan và giảm



nhạy cảm với insulin [19].
Vai trò của prolactin với sự kháng insulin.
Trong thời gian mang thai, nồng độ prolactin tăng cao gấp 7-10 lần [20].
Skouby thăm dò mối liên quan giữa nồng độ prolactin và tình trạng dung nạp
glucose ở thai phụ bình thường và thai phụ đái tháo đường thai kỳ bằng cách


9

tiến hành làm nghiệm pháp dung nạp glucose vào nửa sau của thai kỳ và sau
đẻ. Kết quả nghiên cứu cho thấy rằng: vào nửa sau của giai đoạn mang thai,
nồng độ đường máu lúc đói của thai phụ đái tháo đường thai kỳ cao hơn một
cách có ý nghĩa so với nhóm chứng, còn sau khi uống đường thì đáp ứng tiết
insulin ở nhóm đái tháo đường thai kỳ lại giảm hơn một cách có ý nghĩa so

10

cao nhất ở nhóm đái tháo đường thai kỳ, thấp nhất ở người không có thai và
sự khác nhau có ý nghĩa thống kê [22].
1.2.4.2. Các giai đoạn thai kỳ và ảnh hưởng của tăng đường máu lên sự
phát triển của thai nhi
Mỗi thai kỳ bình thường kéo dài khoảng 9 tháng (40 tuần). Thai kỳ được


chia thành ba giai đoạn, mỗi giai đoạn kéo dài 3 tháng [1], [17], [23].
Ba tháng đầu thai kỳ
Giai đoạn nang trứng gồm 5 tuần đầu của thai kỳ. Trong giai đoạn này,
trứng được thụ tinh hình thành những mầm mống của rau thai và gắn vào
thành tử cung của người mẹ. Cũng trong giai đoạn này tim của thai được hình
thành và bắt đầu bơm máu, hệ tiêu hóa, xương sống, tủy sống và não cũng bắt
đầu được hình thành. Khi được khoảng 8 tuần, thai nhi sẽ có mắt, mũi, mồm
và lưỡi. Cánh tay, cẳng tay, bàn tay, đầu gối, cẳng chân và bàn chân bắt đầu
hình thành. Kể từ sau tuần thứ 9 của thai kỳ được gọi là giai đoạn bào thai,
giai đoạn này các cơ quan trong cơ thể thai nhi dần phát triển và trưởng thành.
Sự điều hòa glucose trong giai đoạn đầu thai kỳ có ý nghĩa to lớn đối với
sự hình thành và đóng của ống thần kinh. Tăng đường máu nặng có thể gây
các dị tật như: ống thần kinh hở, sọ nhỏ, phù màng ngoài tim. Ngoài ra tăng
đường máu cùng với tăng ceton máu còn gây ra nhiều dị tật bẩm sinh khác
trong 3 tháng đầu thai kỳ. Tóm lại, các rối loạn chuyển hóa trong giai đoạn
hình thành tổ chức dễ dẫn đến các khuyết tật cho thai nhi. Vì vậy, cần kiểm
tra đường máu cho những thai phụ có nguy cơ cao bị đái tháo đường thai kỳ



ngay từ lần khám thai đầu tiên trong giai đoạn này [1].

nhạy cảm với insulin ở những thai to của bà mẹ bị đái tháo đường thai kỳ đã
chứng minh giả thiết tăng đường máu gây tăng tiết insulin của Perdersen.
1.2.5. Yếu tố nguy cơ và phân loại nguy cơ của đái tháo đường thai
kỳ
1.2.5.1. Yếu tố nguy cơ




Tuổi mẹ ≥ 25: được coi là yếu tố nguy cơ của đái tháo đường thai kỳ [24]
Béo phì hoặc thừa cân trước khi có thai: Hầu hết các nghiên cứu đều nhận
thấy tỷ lệ đái tháo đường thai kỳ ở nhóm phụ nữ béo phì trước mang thai cao
hơn nhóm có BMI bình thường [25], [26], [27]. Theo khuyến cáo của tổ chức
Y tế thế giới đề nghị cho khu vực Châu Á – Thái Bình Dương tháng 2/2000,
BMI ≥ 23 được gọi là thừa cân và béo phì [28].


12



Tiền sử gia đình có người mắc bệnh đái tháo đường, đặc biệt là có người đái
tháo đường thế hệ thứ nhất. Phụ nữ có thai ở gia đình có người bị đái tháo
đường thì nguy cơ bị đái tháo đường thai kỳ chiếm 50-60% so với nhóm



không có tiền sử gia đình đái tháo đường [5].
Có tiền sử bị rối loạn dung nạp glucose hoặc rối loạn đường huyết khi đói
hoặc đã được chẩn đoán đái tháo đường thai kỳz trong lần mang thai trước.

Nhóm người có nguy cơ cao là người Trung và Nam Mỹ, người Mỹ gốc châu
Á, người Mỹ gốc Ấn Độ. Đáng chú ý là rất nhiều nghiên cứu khẳng định phụ
nữ châu Á trong đó có Việt Nam tỷ lệ mắc đái tháo đường thai kỳ cao [30],
[31].
1.2.5.2. Phân loại yếu tố nguy cơ.


13

Phân loại nguy cơ theo khuyến cáo sàng lọc của Hội nghị quốc tế lần thử
















IV về đái tháo đường thai kỳ (1998) [30].
Nhóm nguy cơ cao
Khi có một hoặc nhiều hơn các yếu tố sau:
Thừa cân, béo phì trước khi mang thai.

nghiên cứu của Vũ Bích Nga và cộng sự cao hơn hẳn.


14

Bảng 1.3: So sánh một số yếu tố nguy cơ cao bị đái tháo đường thai kỳ qua các
nghiên cứu ở Việt Nam
Tác giả
N.T.K Chi,
T.Đ.Thọ,
Đ.T.Quân
T.V.Bình, N.Đ.Vy,
P.T.Lan
V.B.Nga,
T.V.Bình

Tỷ lệ tiền sử gia
đình bị ĐTĐ
thế hệ thứ nhất
(%)

Tỷ lệ thừa cân và
béo phì trước khi
mang thai (%)

BMI
trung bình
19.72.3

3.6

Tiền sản giật và sản giật: tiền sản giật là hội chứng xảy ra trong thời
kỳ mang thai, gồm các triệu chứng: tăng huyết áp, có protein niệu,
acid uric máu tăng > 6mg/dl. Tỷ lệ các phụ nữ đái tháo đường thai kỳ bị
tiền sản giật khoảng 12% cao hơn các phụ nữ không bị đái tháo đường thai
kỳ (8%) [1], [34].


15



Sảy thai và thai chết lưu: ĐTĐTK tăng nguy cơ bị sảy thai tự nhiên nếu
glucose máu kiểm soát không tốt ở 3 tháng đầu. Ngược lại các thai phụ hay
bị sảy thai liên tiếp không rõ nguyên nhân thì cần phải kiểm tra đường máu
cho họ xem có phải họ bị đái tháo đường không.
Thai chết lưu ở thai phụ bị đái tháo đường gặp với tần suất cao hơn so
với nhóm chứng. Phần lớn các trường hợp thai chết lưu ở người ĐTĐTK xảy
ra đột ngột mặc dù tỷ lệ tử vong chu sinh giảm đi một cách có ý nghĩa so với
trước đây nhưng tỷ lệ thai chết lưu vẫn còn: tỷ lệ thai chết lưu/ tử vong chu



sinh là 2/1 [1].
Nhiễm trùng tiết niệu: phụ nữ đái tháo đường thai kỳ dễ bị nhiễm trùng tiết
niệu. Nhiễm trùng tiết niệu có thế không có triệu chứng lâm sàng nhưng làm
cho đường máu của người mẹ mất cân bằng và cần phải được điều trị. Nếu không
được điều trị sẽ dễ dàng dẫn tới viêm đài bể thận cấp, từ đó gây ra nhiều các tai




mắc đái tháo đường type 2 càng lớn nếu bệnh nhân có tình trạng kháng
insulin nhiều. Tóm tắt của 28 nghiên cứu cho thấy, tỷ lệ bị đái tháo đường
type 2 của các phụ nữ có tiền sử đái tháo đường thai kỳ từ 2.6% tới > 70% với
thời gian theo dõi từ 6 tuần tới 28 năm [35]. Nghiên cứu của Bian và cộng sự
trong 11 năm theo dõi, các tác giả nhận thấy tỷ lệ mắc đái tháo đường type 2
ở nhóm phụ nữ có tiền sử đái tháo đường thai kỳ là 33% cao hơn hẳn nhóm


chứng chỉ là 2.6%, sự khác biệt có ý nghĩa thống kê với p< 0.05 [36].
Tăng nguy cơ bị đái tháo đường thai kỳ ở những lần mang thai sau.
Bên cạnh nguy cơ bị đái tháo đường type 2, phụ nữ có tiền sử đái tháo
đường thai kỳ còn tăng nguy cơ bị đái tháo đường thai kỳ trong những lần có
thai sau đó. Họ cũng dễ bị béo phì, tăng cân quá mức sau đẻ nếu không có chế
độ ăn và luyện tập thích hợp.
1.2.6.2. Hậu quả đối với thai nhi và trẻ sơ sinh



Thai to (macrosomia): theo Thomas R.Moore, tỷ lệ thai to ở các bà mẹ bị
ĐTDDTK từ 15 – 45%, cao gấp 3 lần so với những bà mẹ có đường máu bình
thường [37]. Thai to với phân bố mỡ chủ yếu ở vùng ngực làm tăng nguy cơ
đẻ khó và có các sang chấn tổn thương sau đẻ như liệt đám rối thần kinh cánh
tay, gẫy xương đòn, trật khớp vai, ngạt. Thai to làm tăng nguy cơ phải mổ đẻ.
Tỷ lệ mổ đẻ với các thai to là 47% ,[32]. Pedersen cho rằng thai to là do tăng
đường máu mẹ đi qua rau thai làm đường máu thai tăng sẽ kích thích tụy thai
tăng sản xuất insulin gây cường insulin ở thai [38]. Mà insulin có tác dụng
đồng hóa kích thích tăng trưởng một cách trực tiếp hoặc gián tiếp thông qua
các yếu tố tăng trưởng. Điều này được chứng minh trong nghiên cứu của
Simmons, tác giả lấy máu cuống rốn định lượng insulin ở trẻ lúc được sinh ra


lúc sinh sẽ tương quan với nồng độ glucose máu và nồng độ insulin trong
nước ối và máu cuống rốn. Thứ hai do thay đổi phân bố dòng máu giữa nhau



và thai nhi.
Vàng da do tăng bilirubin máu: do nhiều yếu tố như tăng khối lượng tế bào
máu, tan máu, chấn thương, chậm sản xuất các men của gan… Nhưng nguyên



nhân chủ yếu là đa hồng cầu và đẻ non.
Hội chứng suy hô hấp cấp chu sinh: con của các bà mẹ bị đái tháo đường
thường có xu hướng to hơn bình thường và tăng nguy cơ đẻ non. Do đẻ non
mà phổi của thai nhi chưa trưởng thành nên dễ bị suy hô hấp lúc được sinh ra.


18

Ngoài ra nếu kiểm soát glucose máu cho các bà mẹ ĐTĐTK không tốt sẽ dẫn


đến bất thường sản xuất chất surfactant ở phổi gây bệnh màng trong.
Tử vong chu sinh: tử vong chu sinh là hậu quả nghiêm trọng và thường xảy ra
ở những trẻ có mẹ bị ĐTĐTK không được điều trị. Tỷ lệ chết chu sinh của
các trẻ em sinh ra từ những bà mẹ ĐTĐ đã giảm 30 lần kể từ khi phát hiện ra
insulin vào năm 1922 và nhất là khi có sự chăm sóc tích cực sau những năm
1970. Tuy nhiên, người ta nhận thấy rằng tỷ lệ tử vong chu sinh của các trẻ
sinh ra từ các thai phụ đái tháo đường thai kỳ vẫn cao hơn các thai phụ không
bị đái tháo đường. Nghiên cứu của Langer và cộng sự tiến hành ở Mỹ từ 1990

19

Tóm lại ĐTĐTK nếu không được chẩn đoán và điều trị có thể gây ra rất
nhiều các biến chứng cho cả mẹ và con, đặc biệt là có thể có những biến
chứng nguy hiểm tới tính mạng của mẹ và thai nhi. Tuy nhiên qua các nghiên
cứu đều thấy rằng hầu hết các biến chứng này đều có thể dự phòng được nếu
kiểm soát đường máu của mẹ tốt. Vì vậy, chẩn đoán và điều trị kịp thời đái
tháo đường thai kỳ là hết sức quan trọng giúp cho dự phòng các biến chứng
một cách có hiệu quả.
1.2.7. Tiêu chuẩn chẩn đoán đái tháo đường thai kỳ
Cho tới nay vẫn chưa có tiêu chuẩn chẩn đoán đái tháo đường thai kỳ
thống nhất trên toàn thế giới như là tiêu chuẩn chẩn đoán đái tháo đường cho
người không mang thai. Tiêu chuẩn của Nhóm nghiên cứu của Hiệp hội đái
tháo đường và thai nghén quốc tế (IADPSG) 2010 là [42], [43].
Các thai phụ được làm nghiệm pháp dung nạp glucose với 75g glucose.
Chẩn đoán ĐTĐTK khi thai phụ có một hoặc nhiều hơn các giá trị bằng hoặc lớn
hơn dưới đây:
Thời điểm lấy mẫu
Lúc đói
1 giờ
2 giờ
1.3.

Ngưỡng giá trị chẩn đoán
≥ 5.1mmol/l
≥ 10.0mmol/l
≥ 8.5mmol/l

Các adipokines trong thai kỳ
Mô mỡ không chỉ liên quan đến việc dự trữ năng lượng mà còn có

Resistin là một loại protein, có TLPT 12.5kDa, được phát hiện
vào năm 2001 [47]. Nó được gọi là “resistin” vì quan sát thấy có sự
kháng insulin trong con chuột được tiêm resistin [47]. Resistin được
tiết ra từ các mô mỡ ở các loài gặm nhấm, còn ở người nó có thể được
sản xuất ở cơ, đảo tụy, tế bào đơn nhân và nhau thai [48], [49], [50].
Những nghiên cứu gần đây cho rằng resistin có vai trò trong sự đề
kháng insulin và adipokine này có thể là mối liên hệ giữa béo phì và
kháng insulin [47]. Nồng độ resistin ở phụ nữ mang thai tăng đáng kể
so với những phụ nữ không mang thai, hơn nữa nó cũng tăng lên trong
quá trình thai nghén [51]. Trong một số báo cáo cho rằng nồng độ
resistin ở bệnh nhân ĐTĐTK không thay đổi so với những phụ nữ


21

mang thai khỏe mạnh [52]. Lappas và cộng sự [50] không thấy sự khác
biệt trong việc bài tiết resistin từ các mô mỡ dưới da ở phụ nữ mang
thai bình thường và phụ nữ bị ĐTĐTK.
1.3.3. Visfatin
Visfatin là một loại protein, có TLPT 52kDa. Nó được sản xuất
bởi các mô mỡ nội tạng. Ngoài ra nó còn được sản xuất ở cơ, gan,
bạch cầu đơn nhân, tim và thận [53], [54]. Sự biểu hiện của visfatin
tăng lên trong sự phát triển của bệnh béo phì và ĐTĐ type 2 [55]. Ở
những phụ nữ mang thai bình thường có cân nặng bình thường thì
nồng độ visfatin trong huyết thanh của mẹ cao nhất từ 19 – 26 tuần
thai và có một điểm thấp nhất từ 27 – 34 tuần thai [56]. Ở phụ nữ bị
ĐTĐTK, theo nghiên cứu của Lewandowski và cộng sự [57] thì nồng
độ visfatin được tăng lên trong điều kiện kháng insulin, tuy nhiên mối
quan hệ giữa visfatin và kháng insulin trong thai kỳ vẫn chưa rõ ràng.
Nhưng theo nghiên cứu của Chan và cộng sự [58] thì có sự giảm nồng

cứu độc lập, vì thế Adiponectin được biết đến với những tên gọi khác nhau




xuất phát từ các nghiên cứu trên [8].
Acrp30 (adipocytes complement-related protein of 30 kDa )
AdipoQ, GBP28 (gelatin binding protein of 28 kDa )
apM1 (adipose most abundant gen transcript 1 )
Adiponectin là một protein giống collagen, được cấu tạo bởi 224aa,
trọng lượng phân tử là 30kDa, nó được tổng hợp gần như hoàn toàn từ các tế
bào mỡ. Trong máu Adiponectin tồn tại ở 3 dạng khác nhau là trimer,
hexamer và trọng lượng phân tử cao (HMW: high molercular weight) là các
adiponectin có từ 12-mer đến 18-mer [64].
Adiponectin có tác dụng làm tăng nhạy cảm insulin, chống viêm và
chống xơ vữa. Nó kích thích sự hấp thu glucose trong cơ xương và làm giảm
sản xuất glucose ở gan qua AMPK (AMP-activated protein kinase) [65]. Hơn
nữa nồng độ adiponectin tương quan nghịch với nồng độ triglycerid huyết
tương và tích cực liên quan đến nồng độ HDL cholesterol [66]. Masubara và
cộng sự [67] đã chứng minh rằng nồng độ adiponectin huyết thanh không chỉ
tỉ lệ nghịch với nồng độ chất béo trung tính, chỉ số xơ vữa , apolipoprotein B
và E mà còn tích cực liên quan đến cholesterol HDL và apo A1 trong đái tháo
đường ở bệnh nhân nữ. Nồng độ adiponectin trong huyết tương cũng bị ảnh


23

hưởng bởi nhiều yếu tố như: giới tính, tuổi tác, phong cách sống. Nồng độ
adiponectin ở nam giới giảm hơn ở nữ giới, và điều này có thể gây ra bởi nội
tiết tố androgen [68]. Nồng độ adiponectin giảm có liên quan chặt chẽ với

kháng leptin [75] . Ngoài ra sự tương tác của protein điều biến APPL1 với
adipoR1 có vai trò quan trọng đối với dòng tín hiệu adiponectin [78]. Sau khi
gắn với adipoR1, adiponectin có tác dụng làm tăng nhạy cảm insulin và tăng
tiêu thụ mỡ làm phục hồi lại tác dụng của leptin. Trong khi đó lại có khả năng
chống lại quá trình xơ vữa động mạch, chống viêm và chống oxy hóa, vì vậy
adiponectin ngăn cản được sự phát triển của béo phì [52].
1.4.3. Adiponectin và kháng insulin
Có một sự tương quan mạnh mẽ giữa adiponectin và sự nhạy cảm insulin
trong các nghiên cứu ở chuột, động vật có vú khác và con người.
Trong các thí nghiệm được tiến hành bởi Berg và cộng sự [79], tiêm
adiponectin vào trong phúc mạc của những con chuột hoang dại bị đái tháo
đường type 1 và đái tháo đường type 2, nhận thấy rằng lượng đường trong
những con chuột này giảm đáng kể, nhưng nồng độ insulin ở những con chuột
bị ĐTĐ type 1 không tăng trong khi đó nồng độ insulin tăng ở những con
chuột bị ĐTĐ type 2. Các nghiên cứu của Yamauchi và cộng sự [80], cũng đã
cho thấy tác dụng tương tự, cụ thể là cải thiện độ nhạy cảm insulin và cải
thiện đường huyết ở những con chuột bị béo phì, đái tháo đường.
Nồng độ adiponectin đã được chứng minh là giảm song song với sự tiến
triển của kháng insulin trong quá trình phát triển của bệnh ĐTĐ type 2 ở khỉ
nâu [81]. Một nghiên cứu của Bogan và Lodish [82], đã chỉ ra rằng sự chế tiết
adiponectin bởi các tế bào mỡ 3T3-L1 đòi hỏi phosphatidylinositol 3-kinase
(PI-3K), một trung gian chính của hoạt động truyền tín hiệu insulin. Insulin
kích thích nền thụ thể insulin 1 (IRS-1) liên quan đến hoạt động PI-3K đã
được chứng minh là giảm trong các tế bào mỡ ở bệnh nhân ĐTĐ type 2 [83].
Do đó nó làm giảm hoạt động của PI-3K adipocyte ở bệnh nhân ĐTĐ type 2
gây giảm nồng độ adiponectin.


25



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status