LỜI CẢM ƠN
Để hoàn thành khóa luận này, ngoài sự nỗ lực, cố gắng của bản thân, em đã
nhận được rất nhiều sự động viên, hướng dẫn, giúp đỡ và hướng dẫn, đóng góp ý
kiến của các thầy cô giáo, bạn bè và gia đình.
Đặc biệt em xin gửi lời cảm ơn sâu sắc đến GS.TS. Nguyễn Thị Mơ, người đã
trực tiếp hướng dẫn em trong suốt thời gian làm khóa luận này. Với sự quan tâm
hướng dẫn của cô, em đã bước đầu làm quen với việc nghiên cứu một đề tài khoa
học, đặc biệt là trong lĩnh vực Luật. Trong suốt thời gian được cô hướng dẫn, em đã
học được rất nhiều điều từ cô về kiến thức chuyên môn, cách tư duy học Luật cũng
như phương pháp nghiên cứu. Chính nhờ đó em mới có thể hoàn thành khóa luận
tốt nghiệp này.
Em xin chân thành cảm ơn các thầy cô giáo trong Khoa quản trị kinh doanh,
trường Đại học Ngoại Thương đã có những bài giảng hữu ích, nhiệt tình hướng dẫn
em, tạo điều kiện thuận lợi cho em trong quá trình học tập.
Cuối cùng em xin cảm ơn sự khuyến khích, động viên và góp ý của bạn bè và
gia đình đã giúp em hoàn thành khóa luận này.
MỤC LỤC
LỜI CẢM ƠN 1
DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT 10
LỜI NÓI ĐẦU 1
CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ DOANH NGHIỆP, THÀNH LẬP
DOANH NGHIỆP VÀ GÓP VỐN THÀNH LẬP DOANH NGHIỆP 3
1.1. Khái niệm và đặc điểm của doanh nghiệp 3
1.1.1. Khái niệm về doanh nghiệp 3
1.1.2. Đặc điểm của doanh nghiệp 4
1.1.3. Phân loại doanh nghiệp. 5
1.2.Thành lập doanh nghiệp 7
Thành lập doanh nghiệp theo quy định của pháp luật là quyền của tổ
chức, cá nhân và được Nhà nước bảo hộ. Doanh nghiệp phải được
thành lập theo đúng quy định của pháp luật. Luật doanh nghiệp năm
2005 đã đưa ra những quy định rất chi tiết về việc thành lập doanh
những quy định chi tiết và chặt chẽ về việc góp vốn thành lập doanh
nghiệp. Theo Điều 4 Khoản 14 LDN 2005 thì “Góp vốn là việc đưa tài
sản vào công ty để trở thành chủ sở hữu hoặc các chủ sở hữu chung
của công ty” Các hình thức góp vốn cũng được Luật quy định khá linh
hoạt khi cho phép tài sản góp vốn có thể là “ tiền Việt Nam, ngoại tệ tự
do chuyển đổi, vàng, giá trị quyền sử dụng đất, giá trị quyền sở hữu trí
tuệ, công nghệ, bí quyết kỹ thuật, các tài sản khác ghi trong Điều lệ
công ty do thành viên góp để tạo thành vốn của công ty” theo Điều 4
Khoản 4 LDN. Ngoài ra, do sự quan trọng của việc góp vốn thành lập
doanh nghiệp mà hoạt động góp vốn cần phải thỏa mãn những điều
kiện nhất định về chủ thể, vốn pháp định, vốn điều lệ…LDN 2005 cũng
có những quy định về các thủ tục góp vốn thành lập doanh nghiệp như
thủ tục chuyển quyền sở hữu để có thể hướng dẫn cụ thể các chủ thể
tham gia góp vốn thành lập doanh nghiệp. Những quy định của Luật,
mặc dù vẫn còn tồn tại những bất cập nhưng đã góp phần đáng kể vào
việc xây dựng một môi trường kinh doanh bình đẳng, thúc đầy phát
triển kinh tế 19
1.3.1. Điều kiện góp vốn thành lập doanh nghiệp 20
1.3.2. Tỷ lệ góp vốn thành lập doanh nghiệp 23
1.3.3. Hình thức góp vốn thành lập doanh nghiệp 24
1.3.4.Nguyên tắc và thủ tục góp vốn 25
Khi góp vốn để thành lập doanh nghiệp, điều quan trọng là phải xác
định phần vốn góp của từng thành viên. Để xác định được chính xác
phần vốn góp, tỷ lệ góp vốn của mỗi thành viên trong doanh nghiệp, về
nguyên tắc pháp luật cần phải có sự định giá tài sản góp vốn. Như vậy,
định giá tài sản góp vốn đóng vai trò quan trọng trong việc xác định
phần đóng góp của từng thành viên 25
1.3.4.1. Định giá tài sản góp vốn 25
1.3.4.2. Chuyển quyền sở hữu tài sản giữa chủ sở hữu là thành viên
góp vốn và doanh nghiệp 27
năm 2005 nhằm loại bỏ bất cập trong các quy định về góp vốn thành
lập doanh nghiệp 59
LDN 2005 và các văn bản hướng dẫn thi hành đã có những quy định
chi tiết và phù hợp hơn với môi trường kinh doanh so với LDN 1999.
Tuy nhiên, trên thực tế vẫn còn tồn tại những bất cập trong các quy
định về góp vốn thành lập doanh nghiệp trong LDN 2005 và các văn
bản hướng dẫn thi hành, gây khó khăn trong việc thực thi. Trong khi
đó, hoạt động góp vốn thành lập doanh nghiệp là một trong những vấn
đề rất quan trọng trong việc thành lập doanh nghiệp và những vấn đề
về quản lý và điều hành hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp sau
này. Chính vì thế mà việc sửa đổi, bổ sung để hoàn thiện LDN 2005 là
rất cần thiết để tạo ra một hành lang pháp luật hoàn thiện cho các
doanh nghiệp. Những quy định chi tiết, rõ ràng và phù hợp hơn về hoạt
động góp vốn thành lập doanh nghiệp sẽ tạo điều kiện cho các doanh
nghiệp thuận lợi hơn trong việc thành lập doanh nghiệp cũng như điều
hành doanh nghiệp sau khi thành lập, đồng thời tránh xảy ra những
tranh chấp trong nội bộ doanh nghiệp và giữa các doanh nghiệp với
nhau. Khung pháp luật về góp vốn thành lập doanh nghiệp hoàn thiện
hơn sẽ góp phần xây dựng một môi trường kinh doanh minh bạch, tạo
nên một sân chơi công bằng và phù hợp với điều kiện kinh tế hơn cho
các doanh nghiệp trong nước và nước ngoài, thúc đầy nền kinh tế đất
nước phát triển hơn. Dưới đây là một số giải pháp tháo gỡ để loại bỏ
những bất cập trong các quy định về góp vốn thành lập doanh nghiệp
trong LDN 2005 và các văn bản hướng dẫn thi hành. 59
3.2.1.1. LDN cần bổ sung quy định hướng dẫn các thành viên khi thỏa
thuận góp vốn thành lập công ty 60
Ngoài công ty TNHH MTV, các thành viên khi thành lập doanh nghiệp
đều cần đạt được một bản thỏa thuận về mức góp vốn, loại tài sản góp
vốn, thời hạn góp vốn, tổng số góp vốn, thời hạn góp vốn… Bản thỏa
thuận này có thể coi là một hợp đồng phục góp vốn thành lập doanh
khi bắt đầu tiến hành đăng ký kinh doanh và ở giai đoạn doanh nghiệp
mới thành lập, xử lý trường hợp doanh nghiệp không thể thành lập
được. Căn cứ vào quy mô vốn đầu tư hoặc tính chất ngành nghề lĩnh
vực kinh doanh mà hợp đồng góp vốn bắt buộc phải được lập thành
văn bản 61
3.2.1.2. LDN 2005 cần phải quy định về nghĩa vụ của các doanh nghiệp
trong việc phải công khai tiến độ góp vốn trên mạng thông tin doanh
nghiệp 61
Trên thực tiễn hiện nay, như đã đề cập, có rất nhiều trường hợp các
doanh nghiệp đăng ký vốn điều lệ “ảo” khiến cho các khách hàng lẫn
đối tác của doanh nghiệp khi xảy ra tranh chấp gặp rất nhiều khó
khăn. Từ đó có thể thấy được tầm quan trọng của việc công khai minh
bạch hóa các thông tin về doanh nghiệp, đặc biệt là những thông tin về
vốn điều lệ. Khách hàng chỉ có thể biết được vốn điều lệ, quy mô của
doanh nghiệp dựa trên Giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh hoặc do
chính các doanh nghiệp tự công bố trên cổng thông tin của doanh
nghiệp. LDN 2005 hiện nay có quy định về công bố nội dung đăng ký
kinh doanh của doanh nghiệp tại Điều 28. Một trong những nội dung
đăng ký kinh doanh phải được công khai đó là vốn điều lệ của doanh
nghiệp tại Khoản d Điều 28 “Vốn điều lệ đối với công ty trách nhiệm
hữu hạn, công ty hợp danh, số cổ phần và giá trị vốn cổ phần đã góp và
số cổ phần được quyền phát hành đối với CTCP, vốn đầu tư ban đầu
đối với doanh nghiệp tư nhân, vốn pháp định đối với doanh nghiệp
kinh doanh ngành, nghề đòi hỏi phải có vốn pháp định” Các doanh
nghiệp phải đăng những nội dung cần thiết, trong đo có vốn điều lệ
trên mạng thông tin doanh nghiệp của cơ quan đăng ký kinh doanh
hoặc một trong các loại tờ báo viết hoặc báo điện tử trong ba số liên
tiếp trong thời hạn 30 ngày kể từ ngày được cấp Giấy chứng nhận đăng
ký kinh doanh. Quy định này là cần thiết để có thể công khai minh
bạch hóa thông tin về doanh nghiệp cho các khách hàng, đối tác tìm
ty hợp danh nói riêng và cho các loại hình công ty khác nói chung là
cần hoàn thiện các văn bản về hình thức góp vốn, đặc biệt là khi góp
vón thành lập công ty. Mục tiêu của việc hoàn thiện là làm cho chế định
pháp luật này phù hợp với nhu cầu đầu tư của thị trường, hài hòa lợi
ích của nhà nước và nhà đầu tư làm thúc đẩy phát tiển nền kinh tế.
Theo đó, LDN nên bổ sung quy định về hình thức góp vốn chi tiết hơn,
xác định rõ mọi tài sản có khả năng định giá thành tiền thì đều có thể
dùng để góp vốn chỉ cần các thành viên đồng ý. 62
Song song với LDN, những văn bản hướng dẫn có liên quan cũng cần
được sửa đổi sao cho tương thich, đồng bộ với LDN. Do trên thực tế
hiện nay, định giá các tài sản vô hình vẫn còn là một vấn đề gây nhiều
tranh cãi. Trong khi đó, tài sản vô hình như tri thức, việc làm rất khó
để định giá. Vì thế, ngoài LDN, Nhà nước cũng cần ban hành và sửa
đổi những văn bản pháp luật để có thể hướng dẫn chi tiết các chủ thể
tham gia góp vốn như việc: hạch toán tài sản góp vốn vào đâu, định giá
những tài sản vô hình đó như thế nào và việc lập hợp đồng góp vốn một
cách chi tiết để tạo dựng một khung pháp luật thuận lợi cho nhà đầu tư
đồng thời tăng cường quản lý Nhà nước 63
3.2.1.4. Hoàn thiện và ban hành thông tư hướng dẫn thực hiện góp vốn
và nhận góp vốn bằng giá trị quyền sử dụng nhãn hiệu 63
Do không có quy định cụ thể về vấn đề góp vốn bằng quyền sử dụng
nhãn hiệu khiến cho các doanh nghiệp tự ý góp vốn theo cách riêng
của mình cộng với thực trạng các doanh nghiệp mang quyền sử dụng
nhãn hiệu tham gia góp vốn ngày càng gia tăng, Bộ tài chính đã đưa ra
dự thảo Thông tư hướng dẫn góp vốn và nhận góp vốn bằng quyền sử
dụng nhãn hiệu vào ngày 02/07/2010. Theo đó, các tập đoàn, tổng công
ty, doanh nghiệp, tổ chức kinh tế, cá nhân và các chủ thể khác có giấy
chứng nhận đăng ký nhãn hiệu được tham gia góp vốn và nhận vốn
góp bằng giá trị quyền sử dụng nhãn hiệu. Theo đó, căn cứ vào từng
trường hợp cụ thể, các bên góp vốn có thể lựa chọn phương pháp định
cân đối kế toán khi hết hạn hợp đồng góp vốn. Điều này sẽ đặt ra một
số bất lợi cho những cổ đông góp vốn bằng giá trị quyền sử dụng nhãn
hiệu, vì vốn chủ sở hữu của mình sẽ không thể chuyển nhượng trong
công ty nhận đầu tư 64
Thứ hai, dự thảo có hướng dẫn việc định giá giá trị quyền sử dụng
nhãn hiệu đem góp vốn căn cứ vào Thông tư số 146/2007/TT-BTC ngày
6/12/2007 của Bộ Tài chính hướng dẫn thực hiện một số vấn đề về tài
chính khi thực hiện chuyển doanh nghiệp 100% vốn nhà nước thành
CTCP. Mặc dù thông tư này có quy định về cách xác định lợi thế kinh
doanh, giá trị thương hiệu, nhưng rất chung chung và chỉ có ý nghĩa
đối với việc cổ phần hoá các doanh nghiệp nhà nước 65
Nhìn chung, có lẽ cơ quan có thẩm quyền cũng xem xét và thấy được
những quy định bất hợp lý trong dự thảo trên nên đã không đưa dự
thảo ban hành chính thức trong thực tiễn. Tuy nhiên, đã hơn 2 năm kể
từ khi đưa dự thảo ra lấy ý kiến thì đến nay vẫn chưa thấy Bộ tài chính
có những sửa đổi, hoản thiện dự thảo để ban hành thành thông tư
chính thức hướng dẫn các doanh nghiệp khi tham gia góp vốn bằng
quyền sử dụng nhãn hiệu. Do vậy, việc góp vốn bằng giá trị quyền sử
dụng nhãn hiệu đến nay vẫn còn một Khoản trống pháp lý cần được
hoàn thiện. Vì thế, Bộ tài chính cần nhanh chóng hoàn thiện dự thảo và
ban hành chính thức để tạo cơ sở pháp lý cho việc góp vốn và nhận góp
vốn bằng giá trị quyền sử dụng nhãn hiệu.Nhìn chung, cõ lẽ cơ quan có
thẩm quyền cũng xem xét và thấy được những quy định bất hợp lý
trong dự thảo trên nên đã không đưa dự thảo ban hành chính thức
trong thực tiễn. Tuy nhiên, đã hơn 2 năm kể từ khi đưa dự thảo ra lấy
ý kiến thì đến nay vẫn chưa thấy Bộ tài chính có những sửa đổi, hoản
thiện dự thảo để ban hành thành thông tư chính thức hướng dẫn các
doanh nghiệp khi tham gia góp vốn bằng quyền sử dụng nhãn hiệu. Do
vậy, việc góp vốn bằng giá trị quyền sử dụng nhãn hiệu đến nay vẫn
còn một Khoản trống pháp lý cần được hoàn thiện. Vì thế, Bộ tài chính
ngày 15 tháng 04 năm 2010 về đăng ký doanh nghiệp.
Nghị định 102 Nghị định 102/NĐ-CP của Chính phủ ban hành ngày 01
tháng 10 năm 2010 hướng dẫn chi tiết thi hành một số
Điều của LDN
LỜI NÓI ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Đất nước ta đang trong quá trình hiện đại hóa đất nước, phát triển nền kinh tế
thị trường theo định hướng xã hội chủ nghĩa. Kể từ khi Nhà nước cho phép hình
thành chế độ sở hữu tư nhân thì đã xuất hiện thêm rất nhiều các loại hình doanh
nghiệp mới. Việc Luật doanh nghiệp 2005 ra đời thay thế cho Luật doanh nghiệp
1999 đã quy định chi tiết hơn về các loại hình doanh nghiệp cũng như về việc thành
lập doanh nghiệp. Điều này tạo ra một khung pháp luật phù hợp hơn, hoàn thiện
hơn nhằm khuyến khích các tổ chức, cá nhân tham gia thành lập doanh nghiệp và
góp phần thúc đẩy sự phát triển kinh tế đất nước.
Tuy nhiên, trong thời gian qua, việc thành lập doanh nghiệp nói chung, đặc biệt
là việc góp vốn thành lập doanh nghiệp đã có không ít những vấn đề thực tiễn phát
sinh. Một doanh nghiệp để được thành lập và hoạt động cần phải có tài sản và các tài
sản này là do các thành viên của doanh nghiệp góp vào. Do đó, việc góp vốn có thể
coi là một trong những bước đầu tiên và quan trọng nhất để thành lập doanh nghiệp
và là cơ sở cho những hoạt động sau này của doanh nghiệp. Chính vì lý do trên mà
pháp luật Việt Nam cũng đã rất chú trọng vấn đề này và đưa ra những quy định chi
tiết nhằm hướng dẫn các chủ thể góp vốn thành lập doanh nghiệp cũng như quy định
về tài sản góp vốn. Nhưng trên thực tế, rất nhiều tranh chấp phát sinh do Luật không
quy định rõ, lợi dụng kẽ hở của luật hoặc do sự thiếu hiểu biết về luật của chủ thể
tham gia góp vốn. Làm thế nào để giải quyết vấn đề này? Để trả lời câu hỏi đặt ra cần
có sự nghiên cứu cụ thể về vấn đề góp vốn thành lập doanh nghiệp.
Đó là lý do mà vấn đề “Góp vốn thành lập doanh nghiệp theo quy định của
Luật doanh nghiệp Việt Nam năm 2005: Những vấn đề đặt ra và giải pháp tháo
gỡ” được chọn làm đề tài cho Khóa luận tốt nghiệp này.
2. Mục đích nghiên cứu
Nam năm 2005 liên quan đến góp vốn thành lập doanh nghiệp và giải pháp tháo gỡ.
2
CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ DOANH NGHIỆP, THÀNH LẬP DOANH
NGHIỆP VÀ GÓP VỐN THÀNH LẬP DOANH NGHIỆP
1.1. Khái niệm và đặc điểm của doanh nghiệp
1.1.1. Khái niệm về doanh nghiệp
Doanh nghiệp là một bộ phận quan trọng của nền kinh tế quốc dân, có vị trí
quan trọng trong quá trình hình thành và phát triển kinh tế ở bất kì quốc gia nào trên
thế giới. Bằng cách kết hợp có hiệu quả các nguồn lực, doanh nghiệp tạo ra của cải
vật chất cho xã hội, là nhân tố chủ yếu tạo ra tổng sản phẩm trong nước. Trong
những năm gần đây, hoạt động của các doanh nghiệp đã có những bước phát triển
mạnh, góp phần giải phóng và phát triển phương thức sản xuất, huy động và phát
huy nội lực vào phát triển kinh tế xã hội, góp phần phục hồi và tăng trưởng kinh tế,
tăng kim ngạch xuất khẩu, tăng thu ngân sách và tham gia giải quyết có hiệu quả
các vấn đề xã hội như: tạo việc làm, xóa đói giảm nghèo….
Chính vì nhận ra tầm quan trọng của doanh nghiệp trong nền kinh tế mà kể từ
khi chế độ sở hữu tư nhân được Nhà nước ta thừa nhận, khung pháp luật về doanh
nghiệp cũng bắt đầu được hình thành. Khái niệm về doanh nghiệp lần đầu tiên được
đề cập đến một cách chính thức trong Luật công ty của Việt Nam năm 1990. Theo
đó, doanh nghiệp được hiểu là “ đơn vị kinh doanh được thành lập nhằm mục đích
chủ yếu là thực hiện các hoạt động kinh doanh”
1
. Quy định này nhìn chung khá sơ
sài và đơn giản do pháp luật nước ta vẫn đang trong giai đoạn mới hình thành để
thích ứng với định hướng phát triển kinh tế tư nhân trong thời gian đó. Hơn nữa,
khái niệm doanh nghiệp dường như chỉ nói lên được mục đích của việc thành lập
doanh nghiệp là để thực hiện các hoạt động kinh doanh. Với tính chất tổng quát như
quy định này thì tất cả những đơn vị có hoạt động kinh doanh thì đều được gọi là
doanh nghiệp. Một thập kỷ sau, khi nền kinh tế Việt Nam đã phát triển hơn, các
doanh nghiệp cũng xuất hiện nhiều hơn và tồn tại dưới nhiều hình thức pháp lý đa
hiện ở chỗ: doanh nghiệp phải có “tên riêng” để không bị trùng lặp với các doanh
nghiệp khác, tránh gây nhầm lẫn khi kinh doanh, có “tài sản” để đảm bảo các hoạt
động kinh doanh và phải có trụ sở giao dịch ổn định. Đây chính là điểm giúp định
hình doanh nghiệp và là điểm hoàn thiện hơn, tạo sự khác biệt của khái niệm về
doanh nghiệp trong LDN 2005 với Luật công ty năm 1990.
Thứ hai, mục đích của doanh nghiệp là nhằm ‘thực hiện các hoạt động kinh
doanh” theo Điều 4 Khoản 1 LDN. Việc kinh doanh của doanh nghiệp sẽ dẫn tới mục
đích cuối cùng là nhằm mục đích sinh lợi theo định nghĩa kinh doanh tại Điều 4
2
Khoản 1, Điều 3 LDN 1999
4
Khoản 2 LDN 2005. Từ định nghĩa này có thể suy ra mục đích cuối cùng của doanh
nghiệp là nhằm mục đích sinh lợi, giúp phân biệt doanh nghiệp với các tổ chức khác.
Thứ ba, điều kiện đủ để được công nhận là doanh nghệp thì phải có đăng ký
kinh doanh. Theo Nghị định số 43/2010/NĐ- CP về đăng ký doanh nghiệp, việc
doanh nghiệp đăng ký kinh doanh được kết hợp với đăng ký thuế tạo thành một thủ
tục đăng ký hợp nhất là đăng ký doanh nghiệp. Theo Điều 3 Khoản 1 của Nghị định
43 thì “ Đăng ký doanh nghiệp quy định tại Nghị định này bao gồm nội dung về
đăng ký kinh doanh và đăng ký thuế đối với các loại hình doanh nghiệp thành lập
theo quy định của LDN. Đăng ký doanh nghiệp bao gồm đăng ký thành lập mới
doanh nghiệp và đăng ký thay đổi nội dung đăng ký doanh nghiệp.” Cũng theo Nghị
định 43 tại điều 5 Khoản 1 thì việc thành lập doanh nghiệp theo quy định của pháp
luật là “quyền của cá nhân, tổ chức và được Nhà nước bảo hộ” Đồng thời, “Người
thành lập doanh nghiệp có nghĩa vụ thực hiện việc đăng ký doanh nghiệp theo quy
định của Nghị định này và các văn bản quy phạm pháp luật có liên quan” theo Điều
5 Khoản 2 Nghị định 43. Như vậy, nếu doanh nghiệp vẫn hoạt động nhưng không
đăng ký kinh doanh thì chưa được pháp luật thừa nhận về mặt hành chính và khi
xảy ra tranh chấp thì không được pháp luật bảo vệ quyền lợi. Tuy nhiên, những
người tham gia thành lập, tổ chức hoạt động kinh doanh vẫn phải chịu trách nhiệm
về các hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp.
hợp danh trong công ty hợp danh chịu trách nhiệm vô hạn về tài sản trong kinh
doanh theo Điều 141 Khoản 1 và Điều 130 Khoản 1 Điểm b Luật doanh nghiệp.
1.1.3.2. Căn cứ theo hình thức pháp lý.
Căn cứ theo hình thức pháp lý, khi thành lập doanh nghiệp, các nhà sáng lập
có thể chọn nhiều hình thức pháp lý khác nhau và tự chịu trách nhiệm về việc lựa
chọn đó. Luật doanh nghiệp năm 2005 quy định doanh nghiệp ở Việt Nam có thể
tồn tại dưới các hình thức pháp lý như: công ty trách nhiệm hữu hạn (TNHH) hai
thành viên trở lên, công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên (TNHH MTV),
công ty cổ phần (CTCP), công ty hợp danh, doanh nghiệp tư nhân. Ngoài ra còn có
doanh nghiệp Nhà nước. Điều 4 Khoản 22 LDN 2005 quy định “Doanh nghiệp nhà
nước là doanh nghiệp trong đó Nhà nước sở hữu trên 50% vốn điều lệ”.
1.1.3.3. Căn cứ vào số lượng thành viên
Doanh nghiệp có 1 thành viên: Doanh nghiệp tư nhân và công ty TNHH MTV.
Trong đó, doanh nghiệp tư nhân do 1 cá nhân làm chủ còn công ty TNHH MTV do
6
1 cá nhân hoặc 1 tổ chức làm chủ sở hữu
3
.
Doanh nghiệp có từ hai thành viên trở lên: CTCP, công ty hợp danh và công ty
TNHH hai thành viên trở lên. Trong đó, số lượng thành viên công ty TNHH hai
thành viên trở lên tối thiểu là hai, tối đa là 50 theo Điều 38, Khoản 1 Điểm A LDN
2005. CTCP có số thành viên tối thiểu là ba và không giới hạn số thành viên tối đa
theo quy định tại Điều 77 Khoản 1 Điểm b LDN 2005.
1.2. Thành lập doanh nghiệp
Thành lập doanh nghiệp theo quy định của pháp luật là quyền của tổ chức, cá
nhân và được Nhà nước bảo hộ. Doanh nghiệp phải được thành lập theo đúng quy
định của pháp luật. Luật doanh nghiệp năm 2005 đã đưa ra những quy định rất chi
tiết về việc thành lập doanh nghiệp và đăng ký kinh doanh. Điều 13 LDN 2005 đã
nêu rõ những cá nhân, tổ chức được quyền thành lập doanh nghiệp đồng thời liệt kê
những đối tượng không được quyền thành lập doanh nghiệp tại Việt Nam. Theo quy
cấp tỉnh
1
1
2
1
Hệ thống thông tin đăng ký
doanh nghiệp quốc gia
Tổng cục Thuế Bộ Kế hoạch và Đầu tư
2
3
4
5
6
7
Bước 1: Người thành lập doanh nghiệp hoặc người đại diện theo ủy quyền nộp
hồ sơ đăng ký doanh nghiệp tại phòng đăng ký kinh doanh cấp tỉnh. Người thành
lập doanh nghiệp là chủ doanh nghiệp tư nhân, thành viên sáng lập của công ty hợp
danh, công ty TNHH hai thành viên trở lên, chủ sở hữu của công ty TNHH MTV,
cổ đông sáng lập của công ty cổ phần.
Bước 2: Phòng đăng ký kinh doanh kiểm tra tính hợp lệ của hồ sơ và nhập
đầy đủ, chính xác thông tin trong hồ sơ đăng ký doanh nghiệp vào Hệ thống thông
tin đăng ký doanh nghiệp quốc gia. Với các loại hình doanh nghiệp khác nhau thì hồ
sơ đăng ký doanh nghiệp bao gồm những giấy tờ cần thiết khác nhau. Nghị định 43
đã quy định chi tiết về hồ sơ đăng ký doanh nghiệp của mỗi loại hình doanh nghiệp.
Hồ sơ đăng ký doanh nghiệp bao gồm: Giấy đề nghị đăng ký doanh nghiệp, dự thảo
Điều lệ công ty( đối với công ty TNHH, công ty cổ phần, công ty hợp danh), danh
sách thành viên( đối với công ty TNHH hai thành viên trở lên, công ty hợp danh và
công ty cổ phần), Bản sao hợp lệ một trong các giấy tờ chứng thực cá nhân, Văn
bản xác nhận vốn pháp định của cơ quan, tổ chức có thẩm quyền đối với công ty
kinh doanh ngành, nghề mà theo quy định của pháp luật phải có vốn pháp định, Bản
nghiệp quốc gia. Nếu người thành lập doanh nghiệp chưa có chữ ký điện tử, việc
đăng ký doanh nghiệp qua mạng điện tử được thực hiện theo quy trình tại Khoản 3
Điều 27 Nghị định 43.
1.2.1.2. Nhiệm vụ, chức năng của cơ quan đăng ký kinh doanh
Cơ quan đăng ký kinh doanh bao gồm Phòng Đăng ký kinh doanh thuộc Sở Kế
hoạch và Đầu tư (sau đây gọi chung là Phòng Đăng ký kinh doanh cấp tỉnh), Phòng
Đăng ký kinh doanh tại các quận, huyện, thị xã, thành phố trực thuộc tỉnh có số lượng
hộ kinh doanh và hợp tác xã đăng ký thành lập mới hàng năm trung bình từ 500 trở
lên trong hai năm gần nhất hoặc Phòng Tài chính - Kế hoạch nếu không thành lập
Phòng đăng ký kinh doanh theo Điều 9 Nghị định 43. Đối với việc thành lập doanh
nghiệp, cơ quan đăng ký kinh doanh là Phòng Đăng ký kinh doanh cấp Tỉnh, có
nhiệm vụ và chức năng theo Điều 10 Nghị định 43 và Điều 163 LDN 2005 như sau:
- Trực tiếp nhận hồ sơ đăng ký doanh nghiệp; xem xét tính hợp lệ của hồ sơ đăng
ký doanh nghiệp và cấp hoặc từ chối cấp Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp.
10
- Phối hợp xây dựng, quản lý, vận hành Hệ thống thông tin đăng ký doanh
nghiệp quốc gia, cung cấp thông tin cho cơ quan nhà nước, tổ chức và cá nhân có
yêu cầu theo quy định của pháp luật;
- Yêu cầu doanh nghiệp báo cáo về tình hình kinh doanh của doanh nghiệp khi
xét thấy cần thiết cho việc thực hiện các quy định của LDN, đôn đốc việc thực hiện
chế độ báo cáo của doanh nghiệp.
- Yêu cầu doanh nghiệp tạm ngừng kinh doanh ngành, nghề kinh doanh có
điều kiện khi phát hiện doanh nghiệp không có đủ điều kiện theo quy định của pháp
luật, đồng thời thông báo cho cơ quan nhà nước có thẩm quyền để xử lý theo quy
định của pháp luật.
- Thu hồi Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp đối với doanh nghiệp trong
các trường hợp theo quy định của pháp luật.
1.2.1.3. Điều kiện để được cấp Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp.
Theo Điều 24 LDN và Điều 29 Nghị định 43 thì doanh nghiệp được cấp Giấy
chứng nhận đăng ký kinh doanh khi có đủ các điều kiện sau:
LDN năm 2005 ra đời cùng với các Nghị định hướng dẫn ban hành kèm theo, đặc
biệt gần đây nhất là Nghị định số 43/2010/NĐ-CP được ban hành thay thế cho Nghị
định 88/2006/NĐ-CP đã có những quy định mang tính đôt phá đến tiến trình cải cách
thủ tục hành chính ở nước ta hiện nay. Những điểm mới tích cực cơ bản như sau:
Đăng ký qua mạng điện tử: Nhà đầu tư không cần thiết phải tiến hành thủ tục
đăng ký doanh nghiệp trực tiếp bằng hồ sơ giấy như trước mà hiện tại, họ có thể
đăng ký trực tuyến qua Cổng thông tin đăng ký doanh nghiệp quốc gia
Hợp nhất quy trình đăng ký kinh doanh và đăng ký thuế: Thay vì phải tiến
hành thủ tục đăng ký kinh doanh tại cơ quan đăng ký kinh doanh rồi sau đó sang cơ
quan thuế để đăng ký mã số thuế như trước đây, thì từ ngày 01/06/2010, nhà đầu tư
chỉ cần làm một thủ tục tại cơ quan đầu mối là Sở Kế hoạch và Đầu tư
Điều chỉnh phạm vi những điều cấm trong đặt tên doanh nghiệp: Nghị định
quy định cụ thể là không được đặt tên trùng hoặc tên gây nhầm lẫn với tên của
doanh nghiệp khác đã đăng ký trên phạm vi toàn quốc.
Những thay đổi về cải cách thủ tục hành chính theo hướng đơn giản và hiệu
quả hơn là hết sức cần thiết nhằm mục đích giảm bớt các thủ tục rườm rà, không
cần thiết, góp phần tiết kiệm được cho doanh nghiệp thời gian, công sức, tiền bạc,
đồng thời tạo lập được một môi trường kinh doanh lành mạnh có đủ khả năng cạnh
tranh với các nền kinh tế khác trong khu vực và thế giới.
12
1.2.2. Những quy định về cơ cấu, tổ chức của các loại hình doanh nghiệp
Trong nền kinh tế thị trường hiện nay, các loại hình doanh nghiệp ngày càng
trở nên đa dạng. Trong đó, mỗi loại hình doanh nghiệp đều có những đặc điểm
riêng dẫn đến sự khác biệt về cơ cấu, tổ chức. LDN năm 2005 đã có những quy định
khá cụ thể về cơ cấu, tổ chức của các loại hình doanh nghiệp như sau:
1.2.2.1.Công ty TNHH hai thành viên trở lên
Công ty TNHH hai thành viên trở lên là doanh nghiệp, trong đó” thành viên
chịu trách nhiệm về các khoản nợ và nghĩa vụ tài sản khác của doanh nghiệp trong
phạm vi số vốn cam kết góp vào doanh nghiệp”. Công ty TNHH hai thành viên trở
lên không được có quá năm mươi thành viên, trong đó thành viên có thể là cá nhân
số người đại diện theo ủy quyền. Trường hợp có ít nhất hai người được bổ nhiệm
làm đại diện ủy quyền thì cơ cấu tổ chức của công ty giống với công ty TNHH hai
thành viên trở lên, bao gồm: Hội đồng thành viên, chủ tịch hội đồng thành viên,
Giám đốc/Tổng giám đốc, Kiểm soát viên. Hội đồng thành viên gồm tất cả thành
viên được ủy quyền. Trường hợp chỉ có một người được bổ nhiệm làm người đại
diện theo ủy quyền thì người đó làm Chủ tịch công ty. Cơ cấu tổ chức của công ty
bao gồm: Chủ tịch công ty, Giám đốc/Tổng giám đốc, Kiểm soát viên.
1.2.2.3. Công ty cổ phần
CTCP là doanh nghiệp mà vốn điều lệ được chia thành nhiều phần bằng nhau
gọi là cổ phần. Mỗi cổ đông chỉ chịu trách nhiệm về các khoản nợ và nghĩa vụ tài
sản khác của doanh nghiệp trong phạm vi số vốn đã góp vào doanh nghiệp. Do
CTCP không giới hạn số cổ đông nên loại hình này thích hợp cho các công ty có
quy mô hoạt đông lớn. Vì thế, cơ cấu tổ chức của CTCP thường phức tạp và hay
xảy ra tranh chấp trong việc quản lý trên thực tiễn. LDN Việt Nam năm 2005 đã
ban hành các quy định khá chi tiết về cơ cấu tổ chức của CTCP bao gồm:
Đại hội đồng cổ đông: “gồm tất cả các cổ đông có quyền biểu quyết, là cơ
quan quyết định cao nhất của CTCP” theo Điều 96 LDN năm 2005. Đại hội đồng cổ
đông thường được họp thường niên hoặc bất thường khi hội đồng quản trị hoặc một
nhóm cổ đông triệu tập khi xảy ra các trường hợp như quy định trong Luật. Đại hội
đồng cổ đông phải được triệu tập theo đúng trình tự, thủ tục và thường quyết định
những vấn đề có tính chiến lược đối với công ty như: quyết định sửa đổi, bổ sung
Điều lệ công ty, quyết định số cổ phần được quyền chào bán…Cuộc họp chỉ được
tiến hành khi số cổ đông dự họp thỏa mãn tối thiểu số phần trăm tổng số cổ phần có
quyền biểu quyết được quy định như trong Điều 102 LDN năm 2005.
Hội đồng quản trị: Là cơ quan quản lý công ty, có toàn quyền nhân danh công
ty để quyết định, thực hiện các quyền và nghĩa vụ của công ty không thuộc thầm
14
quyền của Đại hội đồng cổ đông. Thành viên hội đồng quản trị phải thỏa mãn
những tiêu chuẩn và điều kiện nhất định. Cuộc học hội đồng quản trị được tiến hành
khi có ba phần tư số thành viên dự họp trở lên.