tiểu luận thương mại điện tử đề tài electronic data interchange (edi) - Pdf 20

Trường Đại Học Hùng Vương Tp. Hồ Chí Minh
Khoa Quản Trị Kinh Doanh
Thương Mại Điện Tử
Giảng viên: Ths. Phạm Minh
Đề tài
EDI ( Electronic Data Interchange )
Thành viên Nhóm 5:
1. Dương Tú Mỹ
2. Dương Văn Chiến
3. Nguyễn Thị Thùy
Dương
4. Nguyễn Phú Thuận
( NT )
5. Phan Mạnh Cường
6. Phạm Lê Nghiêm
7. Nguyễn Duy Việt
1
MỤC LỤC
Trang
I. Khái niệm và những thông tin cơ bản về EDI
………………………………… ……… 3
(Electronic Data Interchange)
1. Khái niệm
…………………………………………………………………
…. 3
2. Những thông tin cơ bản về EDI …………………….
……………………… 3
• EDI internet …………………………………
………………………. 3
• EDI truyền thống ………………………………
……………………. 4

I. Khái niệm và những thông tin cơ bản về EDI (Electronic Data
Interchange)
1. Khái niệm
Theo Ủy ban liên hợp quốc về luật thương mại quốc tế (UNCITRAL),
việc trao đổi dữ liệu điện tử được định nghĩa như sau:
“Trao đổi dữ liệu điện tử (EDI) là việc chuyển giao thông tin từ máy tính
điện tử này sang máy tính điện tử khác bằng phương tiện điện tử, có sử
dụng một tiêu chuẩn đã được thỏa thuận để cấu trúc thông tin”.
Dưới góc độ là một sinh viên, tôi hiểu và định nghĩa về EDI như sau:
EDI là một quá trình trao đổi dữ liệu (văn bản, hóa đơn, chứng từ,
thanh toán tiền khám bệnh, trao đổi kết quả xét nghiệm…), từ máy tính này,
sang máy tính khác. Quy trình này có thể được diễn ra trong nội bộ hoặc
giữa các đối tác với nhau, tùy theo mục đích của những người tham gia sử
dụng, và được sự thỏa thuận, nhất trí của các bên tham gia về các điều
khoản quy định chung.
1. Những thông tin cơ bản về EDI:
• Qui trình hoạt động EDI
3
Tùy theo là hình thức EDI truyền thống hay EDI Internet, mà có những qui
trình khác nhau
EDI Internet:
Hệ thống máy tính của công ty bạn sẽ hoạt động như một kho dự trữ
các dữ liệu cần thiết để hỗ trợ các giao dịch đó. Khi được sử dụng, EDI rút
thông tin từ những ứng dụng của công ty và truyền tải các chứng từ giao dịch
phi giấy tờ dưới dạng máy tính đọc được qua đường dây điện thoại hoặc các
thiết bị viễn thông khác. Ở đầu nhận, dữ liệu có thể nhập trực tiếp vào hệ
thống máy tính của đối tác, được tự động xử lý với các ứng dụng nội bộ tại
nơi nhận. Toàn bộ quá trình này diễn ra trong vài phút mà không cần phải gõ
lại thông tin và tránh cho các bên những phiền toái về giấy tờ đi kèm với việc
xử lý văn bản bằng tay. Sử dụng EDI sẽ giúp tăng giá trị khoản đầu tư của

cho công ty hoặc cho ngành (còn gọi là chuẩn đơn dụng) trở nên ít phổ biến
so với chuẩn công cộng.
Đề có thêm nhiều thông tin và hiểu rõ về EDI, phần này sẽ được nhóm trình
bày với những đề mục phía sau
II. Tình hình phát triển EDI ở các nước trên thế giới
1. Quá trình phát triển và ứng dụng EDI ở các nước khác trên
thế giới:
Trao đổi dữ liệu điện tử đã được ứng dụng khá lâu và phổ biến ở các
nước Châu Âu, sau khi thu thập được một ít số liệu về sự phát triển của EDI,
nhóm 5 xin được vẽ lại biểu đồ phát triển khái quát về EDI như sau :
5
Ngoài ra, trong quá trình làm bài, nhóm 5 đã thu thập được số liệu sau
ở các nước thuộc khu vực Châu Á, về tình hình phát triển EDI trong những
năm đầu thế kỷ XXI.
Hàn Quốc: Ở Hàn Quốc tất cả các loại thông điệp điện tử (EDI, XML
và XML/EDI) đều được chuẩn hóa bởi Ủy ban EDIFACT Hàn Quốc – KEC.
Theo báo cáo tại AFACT 2008, tính đến tháng 8/2008 KEC đã phê chuẩn
610 thông điệp chuẩn (262 EDI, 53 XML/EDI, 295 XML)
cụ thể trong các ngành, lĩnh vực như thương mại, bảo hiểm, tài chính, hải
quan, điện tử, đóng tàu, vận tải biển, phân phối, ô tô-xe máy…
6
Nhật Bản: Hội đồng trao đổi dữ liệu điện tử (JEDIC) là tổ chức hoạt
động nhằm phổ biến và thúc đẩy EDIFACT, thúc đẩy quá trình chuẩn hóa
với cả người bán và người mua cho các giao dịch kinh doanh. Gần đây,
JEDIC đã đưa ra một bản khảo sát về hiện trạng sử dụng EDI cho 58 tổ chức
trong lĩnh vực công nghiệp tại Nhật Bản. Kết quả cho thấy 59,4% các tổ chức
hiện nay đang áp dụng EDI trong công tác hành chính và 53,9% đang áp
dụng EDI trong lĩnh vực Marketing.
Đài Loan: EDI được sử dụng chính nhằm mục đích phát triển ngành
Tài chính. Năm 2007, tổng lượng giao dịch giữa các ngân hàng dùng chuẩn

liệu quản lý container từ hệ thống thông tin quản lý MIS hiện tại của Cảng để tạo
lập các báo cáo điện tử theo mẫu chuẩn quốc tế gửi cho các hãng tàu.
Hệ thống EDI cảng HP bao gồm 2 phần chính:
- Phần khai thác bãi container (theo chuẩn quốc tế gọi là CODECO) bao gồm
các tác nghiệp, phương án dịch chuyển container: nhập bãi, xuất bãi, đóng hàng
và rút hàng.
9
- Phần khai thác tàu (theo chuẩn quốc tế gọi là COARRI) bao gồm các tác
nghiệp dỡ container, xếp container và vận chuyển.
Giao diện chương trình tạo báo cáo các tác nghiệp trên bãi
(CODECO) cho hãng tàu
10
Các thông tin về một dữ liệu hàng hóa theo tiêu chuẩn EDIFACT
11
- Hệ thống trao đổi dữ liệu điện tử Unilever Việt Nam và Metro & Carr
Sử dụng một hệ mã vạch (barcodemapping) và kết nối kỹthuật với
nhau thông qua các trung tâm (hub). Thông qua hệ thốngnày dữ liệu giữa
Metro và Unilever được đọc, hiểu và xử lý tự động.
12
III. Phân loại EDI:
1. EDI truyền thống:
Hình thức trao đổi dữ liệu qua máy tính, nhưng vẫn còn sử dụng đến
các hình thức vận chuyển vật lý giữa các chủ thể tham gia. Trước khi hình
thức cải tiến của nó: EDI Internet ra đời, thì nó vẫn là một phương thức cải
tiến đáng kể trong lĩnh vực thương mại, sản xuất.
Ví dụ: Việc lưu, chép dữ liệu qua USB, đĩa mềm, đĩa CD, VCD… từ
máy tính này qua máy tính khác.
Do EDI truyền thống tồn tại nhiều mặt hạn chế, EDI Internet ra đời
để khắc phục một số nhược điểm sau đây của nó: (Hạn chế của EDI truyền
thống)

tăng tính chính xác của thông tin.
• Có thể xác minh được dữ liệu, thông tin, văn bản gửi đi cho đối tác đã nhận
được hay chưa, và có thể xem xét, theo dõi, quản lý qui trình vận chuyển hàng
hóa trong từng giai đoạn.Thúc đẩy các nhà cung cấp tăng tính cạnh tranh của
công ty và của cả ngành công nghiệp, cải thiện mối quan hệ thương mại và
củng cố quan hệ giữa khách hàng và nhà cung cấp.
Trong EDI inernet có một thuật ngữ thường được sử dụng để nói về
dữ liệu được trao đổi thông qua mạng Internet, gọi là Dung liệu
14
Ví dụ: hàng hóa số là tin tức, nhạc, phim, các chương trình phát thanh, truyền
hình, chương trình phần mềm, ý kiến tư vấn, vé máy bay, vé xem phim, hợp
đồng bảo hiểm…
Trước đây, dung liệu được trao đổi dưới dạng hiện vật bằng cách đưa vào đĩa,
vào băng, in thành sách báo, văn bản, đóng gói bao bì chuyển đến tay người sử
dụng hoặc đến điểm phân phối… để người sử dụng mua và nhận trực tiếp.
Ngày nay, dung liệu được số hóa và truyền gửi theo mạng gọi là giao gửi số
hóa. Các tờ báo, tư liệu công ty, ca – ta – lô sản phẩm lần lượt đưa lên web gọi
là sách điện tử. Các chương trình phát thanh, truyền hình, giáo dục, ca nhạc, kể
chuyện… cũng được số hóa, truyền qua Internet, người sử dụng tải xuống và
sử dụng thông qua màn hình và thiết bị âm thanh của máy tính điện tử.
Trong EDI Internet, hình thức dữ liệu được truyền đi được phân
thành 2 loại:
+ Truyền file : Là phiên bản mở rộng của EDI kiểu truyền theo lô
hiện tại, trong đó thông điệp EDI được truyền và nhận trong dạng file. Giao
thức truyền thông chuẩn được sử dụng bao gồm giao thức FTP (giao thức
truyền file), SMTP/MIME (giao thức thư ) hoặc giao thức ZENGIN (Liên đoàn
các hiệp hội ngân hàng Nhật Bản), dựa trên TCP/IP… Giao thức ZENGIN chỉ
được dùng trong nội địa của Nhật.

+ Kiểu WWW : Bằng cách chuyển đổi thông điệp EDI sang định

cũng tạo ra những cản ngại nhất định. Do tồn tại nhiều loại tiêu chuẩn giữa
các quốc gia, khu vực nên hàng hóa khi nhập khẩu vào một nước có thể bị
bắt buộc phải theo những tiêu chuẩn của nước ấy. Vì vậy, hàng hóa có thể
không bán được vào thị trường nước có tiêu chuẩn khắt khe hoặc phải tốn
thêm chi phí để đáp ứng các tiêu chuẩn đó và mất thêm thời gian khi giao
hàng để kiểm tra xem hàng hóa có phù hợp với tiêu chuẩn của nước nhập
khẩu hay không.
Sự phức tạp nêu trên dẫn đến việc bài toán tích hợp các hệ thống ứng
dụng trong nội bộ doanh nghiệp như: kế toán, bán hàng, sản xuất, kiểm kho,
… Nếu giải quyết được những khó khăn đó thì mới có thể giải quyết một
cách tổng thể giải pháp ERP trong doanh nghiệp, vấn đề này vẫn còn là một
thách thức lớn cho ngành công nghiệp công nghệ thông tin tại Việt Nam. Tuy
nhiên, đã có những bước tiến trong việc phát triển hệ thống chuẩn hóa.
16
Để tránh tình trạng các giao dịch tự phát cũng như các doanh nghiệp
loay hoay tự tìm cho mình một tiêu chuẩn riêng thì cần có sự thống nhất giữa
các tổ chức, các đối tác tham gia vào hệ thống chung để có thể nói cùng một
tiếng nói đó là tiêu chuẩn.
Các doanh nghiệp thống nhất chung một chuẩn trao đổi dữ liệu
Hiện nay Việt Nam có 2 bộ tiêu chuẩn GS1 eCom bổ sung cho nhau:
- GS1 EANCOM - tiêu chuẩn của GS1 cho EDI truyền thống, là một phần đã
được đơn giản hóa của UN/EDIFACT
- GS1 XML - một bộ giản đồ XML mô tả cấu trúc và nội dung của tài liệu
kinh doanh.
Khi sử dụng EDI, GS1 khuyến cáo là nên dùng GS1 EANCOM, một
hướng dẫn áp dụng chi tiết của các gói tin tiêu chuẩn UN/EDIFACT sử dụng
các Ký hiệu nhận dạng của GS1 và để điều khiển có hiệu quả giản đồ GS1
XML thương mại điện tử dựa trên internet để cung cấp một ngôn ngữ gói tin
thương mại toàn cầu dành cho thương mại điện tử. Dịch vụ thông tin EPC
(EPCIS - EPC Information Service) xây dựng một giao diện cho việc chia sẻ

liệu bằng EDI.
Theo Hiệp hội Doanh nghiệp châu Âu (EuroCham), việc Chính phủ
ban hành Nghị định 51/2010/NĐ-CP về hóa đơn tự in và Thông tư
153/2010/TT-BTC (28/9/2010) hướng dẫn thực hiện Nghị định 51 là bước
cải tiến quan trọng về thủ tục hành chính thuế, qua đó khuyến khích giao dịch
điện tử để tạo ra môi trường kinh doanh hiệu quả hơn
Tuy nhiên, trước thực tế Thông tư 153 vẫn chưa cung cấp được các
hướng dẫn chi tiết về cách áp dụng các hóa đơn tự in và hóa đơn điện tử, và
18
Bộ Tài chính cho biết sẽ ban hành các thông tư riêng để hướng dẫn các vấn
đề còn tồn đọng, EuroCham e ngại việc có quá nhiều thông tư hướng dẫn về
quản lý hóa đơn sẽ dẫn tới hệ luỵ áp dụng chồng chéo và hiểu lầm không
mong muốn.

Cũng theo EuroCham, Chính phủ cần cho phép sử dụng dữ liệu điện
tử trong nhiều giao dịch thương mại chuẩn, quan trọng nhất là đơn đặt hàng
và hóa đơn. Dữ liệu điện tử được dùng làm chứng từ pháp lý cho thuế giá trị
gia tăng, công nhận doanh thu và chi phí, kế toán và tự kê khai, quyết toán
thuế.

Một vấn đề đáng lưu ý, đối với nhiều quốc gia trên thế giới, một trong
những yếu tố rất quan trọng trong việc triển khai hoá đơn điện tử là Trung
tâm Trao đổi Dữ liệu điện tử (EDI) Quốc gia, nơi sẽ cho phép tất cả các công
ty, bất kể quy mô và bí quyết công nghệ, trao đổi thông tin giao dịch theo
định dạng điện tử; và Chính phủ có thể quản lý một cách dễ dàng, hiệu quả.

Tuy nhiên, hiện ở Việt Nam vẫn chưa có Trung tâm EDI như vậy.

EuroCham khuyến nghị Chính phủ Việt Nam nên định hướng thành
lập hạ tầng cho Trung tâm Trao đổi Dữ liệu điện tử quốc gia bao gồm cả việc

6-9/2010 Tổng cục HQ Tổng cục
TCDLCL
(GS1 VN)
1.3 Xây dựng, hông qua và đưa
vào kế hoạch thực hiện Dự án
triển khai áp dụng thí điểm
10/2010 –
4/2011
Tổng cục HQ và
các đơn vị phối
hợp
Tổng cục
TCDLCL
(GS1 VN)
II Áp dụng thí điểm 5/2011 –
6/2012
2.1 Tổ chức đào tạo về hệ thống
GS1 và dự án triển khai thí
điểm
5 – 8/2011 GS1 VN và Tổng
cục HQ
Các đơn vị phối
hợp
2.2 Lập và in mã số; mua sắm
trang thiết bị và phần mềm
ứng dụng
7 – 10/2011 Các đơn vị áp
dụng
Tổng cục HQ và
GS1 VN

của Nhật thiết kế chế tạo. Do có nhiều ưu việt nên mã vạch QR đã được tiêu
chuẩn hóa thành tiêu chuẩn quốc tế (ISO/IEC 18004) để áp dụng chung trên
20
toàn thế giới. Việt Nam đã công nhận ISO/IEC 18004 thành tiêu chuẩn quốc
gia (TCVN 7322) về loại mã này.
Các đặc tính ưu việt của mã vạch QR là:
· Mã hóa được số lượng lớn thông tin và hình ảnh;
· Tiết kiệm diện tích;
· Mã hóa được tất cả các loại ký tự (tiếng Anh, Trung Quốc, Nhật Bản );
· Chính xác và an toàn khi quét.
Hiện một số cơ quan đang có nhu cầu sử dụng mã QR trong quản lý
nhân sự (công chức, bệnh nhân ) và vật phẩm (phụ tùng, chi tiết lắp
ráp ). Ngoài ra, cũng có nhiều đề nghị áp dụng thay cho hình thức của Giấy
Chứng minh nhân dân
Ngoài ra, để trao đổi dữ liệu điện tử ngày càng phát triển, chúng ta cần phải :
1. Tiếp tục nghiên cứu xây dựng thử nghiệm hạ tầng tiêu chuẩn cho các
giao dịch TMĐT
Bộ Công Thương cần chủ trì, phối hợp với các Bộ, Ngành liên quan
để đẩy mạnh phát triển các tiêu chuẩn, bao gồm:
- Nghiên cứu và tiêu chuẩn hoá các tài liệu điện tử sử dụng trong các
giao dịch Kinh doanh điện tử (KDĐT);
- Tiêu chuẩn hoá các tài liệu kinh doanh sử dụng tiêu chuẩn
UN/EDIFACT;
- Nghiên cứu và xây dựng các dự án ứng dụng thử nghiệm tiêu chuẩn
ebXML đẩy mạnh ứng dụng trong mô hình B2B tại Việt Nam, đặc
biệt ứng dụng trong một số doanh nghiệp có quy mô lớn;
- Phát triển và chuẩn hóa các chứng từ điện tử, biểu mẫu điện tử cho các
giao dịch của các doanh nghiệp các ngành có khả năng ứng dụng cao:
hành chính, vận tải, giao nhận, bán lẻ, thanh toán, …
2. Nghiên cứu, phát triển và chuyển giao các công nghệ mới để chuẩn

chuyển trên màn hình máy tính, thì những khâu giao dịch, trao đổi, hay bất
kỳ hình thức liên lạc nào cũng đều được Internet tối ưu. Các hình thức trao
đổi dữ liệu điện tử cũng thế: Từ những dữ liệu trên giấy được chuyền tay
nhau hay những dữ liệu trên máy tính được luân chuyển trong một hệ thống
khép kín, cho đến một hệ thống mở (Internet), thì EDI ngày càng phát huy
vai trò của mình. Do vậy, đối với bất kì một nền kinh tế nào, họăc là phát
22
triển EDI thật tối ưu, hoặc là đồng nghĩa với một nền kinh tế chưa thực sự
phát triển.
Phụ lục : Số liệu về sự phát triển EDI của một số nước trong khoảng thời
gian đầu của thế kỷ XX.
1. AUSTRALIA- GS1 AUSTRALIA
Có gần 1000 nhà sử dụng EDIFACT tại Úc trong lĩnh vực khách hàng/quản
lý và giao thương quốc tế. Thêm vào đó, đã có xấp xỉ 7000 nhà sử dụng EDI
của tiêu chuẩn ANSI/X12 tại Úc vào cuối năm 1997.
Biểu đồ: Các nhà sử dụng EDI tại Úc
Năm 1996, GS1 Úc xác định EANCOM là một trong các dự án chính của họ.
GS1 Úc đang làm việc với các nhóm EDI Úc khác để quảng bá EANCOM
cho thương mại tại Úc. GS1 Úc kế hoạch sẽ khuyến khích sử dụng
EDI/EANCOM qua thư quảng cáo GS1 Úc, các trang web, v.v trong năm
1998.
Tháng 9/1997, GS1 Úc tiến hành dự án GISCC EDI/EANCOM (Hội đồng
thẩm định công nghiệp tạp phẩm). Dự án này đã nhận dạng 15 thông báo
EANCOM để sử dụng trong vòng tuần hoàn giao thương lẻ tại Úc.
2. Brazil- GS1 Brazil
Trong thời kỳ từ tháng 1 năm 1993 đến tháng 4 năm 1997, GS1 Brazil đã tiến
hành các dự án EANCOM của họ, tập trung vào các lĩnh vực chế tạo và phân
phối cho bán lẻ.
Năm 1997, GS1 Brazil đã lập kỉ lục tỉ lệ phát triển EDI cao nhất trong cộng
đồng GS1 với 1600 nhà sử dụng EANCOM mới. GS1 Brazil tập trung nỗ lực

được sử dụng trong cùng một ngành công nghiệp ở các thành phố khác nhau.
Vì thế, người ta rất khó khăn để tính chính xác số các tổ chức sử dụng tiêu
chuẩn EDI quốc gia tại Nhật.
25


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status