Đề tài: Tin học văn phòng với sinh viên khoa kinh tế - luật - Pdf 20

Đề tài thống kê
Tin học văn phòng với
sinh viên Khoa Kinh tế -
Luật
Đề tài thống kê: “Tin học văn phòng với sinh viên Khoa Kinh tế - Luật”

Mục Lục
PHẦN A: PHẦN MỞ ĐẦU 3
I.LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI: 4
II.MỤC ĐÍCH NGHIÊN CỨU: 4
III. NHIỆM VỤ NGHIÊN CỨU: 5
IV.CÁCH THỰC HIỆN: 5
PHẦN B: PHẦN NỘI DUNG 6
CHƯƠNG 1: KHÁI QUÁT VỀ KHOA KINH TẾ - LUẬT, TIN HỌC VĂN
PHÒNG, YÊU CẦU NHÀ TUYỂN DỤNG 7
I.TỔNG QUAN VỀ SINH VIÊN KHOA KINH TẾ - LUẬT: 7
1.Giới thiệu về Khoa Kinh tế - Luật: 7
2.Tổng quan về sinh viên Khoa Kinh tế - Luật: 8
II.TỔNG QUAN VỀ CÁC CHƯƠNG TRÌNH TIN HỌC GIẢNG DẠY TẠI
KHOA KINH TẾ - LUẬT: 8
1. Định nghĩa tin học văn phòng: 8
2. Các chương trình ti học được giảng dạy tại Khoa Kinh tế - Luật: 9
i.Tin học đại cương: 9
ii.Tin học quản lý: 10
III.YÊU CẦU CỦA NHÀ TUYỂN DỤNG: 11
CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG CỦA VẤN ĐỀ “TIN HỌC VĂN PHÒNG VỚI
SINH VIÊN KHOA KINH TẾ - LUẬT” 14
I.TRÌNH ĐỘ TIN HỌC CỦA SINH VIÊN: 14
II.CẢM NHẬN CỦA SINH VIÊN VỀ CÁC CHƯƠNG TRÌNH ĐƯỢC GIẢNG
DẠY TẠI KHOA: 23
III.NHU CẦU CỦA NHÀ TUYỂN DỤNG VÀ CÁCH NHÌN CỦA SINH VIÊN

văn phòng như: Word, Excel, Access,… Và, trong những năm gần đây, thì
những yêu cầu đó ngày càng cao hơn trước rất nhiều lần.
Trước tình hình đó, với mục đích trang bị kiến thức cho sinh viên và
nâng cao chất lượng đào tạo, trong nhiều năm qua, Khoa Kinh tế - Luật thuộc
Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh, đã đưa tin học vào chương trình
giảng dạy của mình. Thế nhưng, việc thực hiện nay có khả thi không? Nó có
đáp ứng được nhu cầu của sinh viên hay không? Cảm nhận của sinh viên
Khoa về việc dạy và học tin học tại Khoa như thế nào? Chính vì những lí
do đó, mà nhóm chúng tôi đã quyết định chọn nghiên cứu đề tài: “Tin học
văn phòng với sinh viên Khoa Kinh tế - Luật”
II. MỤC ĐÍCH NGHIÊN CỨU:
1. Cung cấp thông tin cho những người quan tâm đến đề tài.
2. Giúp các sinh viên thấy được tầm quan trọng của tin học, và để có
định hướng tốt hơn trong việc trang bị kĩ năng tin học phù hợp với yêu cầu
của nhà tuyển dụng.
3. Giúp nhà tuyển dụng có cái nhìn tổng quát hơn về trình độ tin học
văn phòng của sinh viên Khoa Kinh tế – Luật.
Nhóm 19 - K08405A – Khoa Kinh tế - Luật, ĐHQG TP. HCM
4
Đề tài thống kê: “Tin học văn phòng với sinh viên Khoa Kinh tế - Luật”

4. Cung cấp thông tin cho Khoa Kinh tế – Luật để đưa ra kế hoạch đào
tạo hợp lý và có hiệu quả cho sinh viên của Khoa.
III. NHIỆM VỤ NGHIÊN CỨU:
- Khảo sát, tìm hiểu kỹ năng tin học văn phòng của sinh viên Khoa Kinh tế
– Luật.
- Tìm hiểu nhận thức của sinh viên về tầm quan trọng của tin học đối với
nghề nghiệp của mình trong tương lai.
- Nghiên cứu các chương trình giảng dạy tại Khoa, sự đánh giá của sinh
viên về các chương trình được học.

CHƯƠNG 3: NGUYÊN NHÂN TỒN ĐỌNG VÀ
GIẢI PHÁP ĐỀ XUẤT CHO VẤN ĐỀ:
“TIN HỌC VĂN PHÒNG VỚI SINH VIÊN KHOA KINH TẾ - LUẬT”
Nhóm 19 - K08405A – Khoa Kinh tế - Luật, ĐHQG TP. HCM
6
Đề tài thống kê: “Tin học văn phòng với sinh viên Khoa Kinh tế - Luật”

CHƯƠNG 1: KHÁI QUÁT VỀ KHOA KINH TẾ - LUẬT, TIN HỌC
VĂN PHÒNG, YÊU CẦU NHÀ TUYỂN DỤNG

I. TỔNG QUAN VỀ SINH VIÊN KHOA KINH TẾ - LUẬT:
1. Giới thiệu về Khoa Kinh tế - Luật:
Khoa Kinh tế - Luật thuộc Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh
được thành lập theo quyết định số 441/QĐ-ĐHQG-TCCB ngày 06/11/2000
của Giám đốc Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh. Hiện tại cơ sở
trường lớp của Khoa nằm trong khuôn viên của Đại học Quốc gia Thành phố
Hồ Chí Minh tại phường Linh Trung, quận Thủ Đức, thành phố Hồ Chí Minh.
Khoa Kinh tế - Luật là cơ sở đào tạo đại học, sau đại học, nghiên cứu
khoa học và công nghệ trong lĩnh vực kinh tế, luật theo tiêu chí chất lượng cao,
trình độ tiên tiến. Trong tiến trình xây dựng và phát triển Đại học Quốc gia
Thành phố Hồ Chí Minh đến năm 2010 và 2020, Khoa Kinh tế - Luật sẽ phát
triển thành Trường Đại học Kinh tế - Luật, được xếp hạng trong các số trường
đại học có uy tín trong khu vực và thế giới về đào tạo nghiên cứu và tư vấn
trong lĩnh vực kinh tế, luật, kinh doanh và quản lý; cung cấp cho xã hội nguồn
nhân lực chất lượng cao, đáp ứng nhu cầu kinh tế của xã hội trong tiến trình
công nghiệp hóa hiện đại hóa đất nước và hội nhập quốc tế.
Hiện nay, Khoa đã có 197 Cán bộ, Công nhân viên. Trong đó, Cán bộ
Giáo dục là 124 người (1 Giáo sư, 2 Phó Giáo sư, 1 Tiến sĩ Khoa học, 21 Tiến
sĩ, 88 Thạc sĩ, 7 Cán bộ Giáo dục làm Nghiên cứu sinh, 15 Cán bộ học cao
Nhóm 19 - K08405A – Khoa Kinh tế - Luật, ĐHQG TP. HCM

tế - Luật:
Việc giảng dạy các chương trình tin học tại Khoa do Bộ môn Tin học
quản lý chịu trách nhiệm đào tạo.

Chương trình đào tạo tin học tại Khoa gồm có các môn như: Tin học đại
cương, Tin học quản lý, Tin học kế toán, Hệ thống thông tin quản lý…
i. Tin học đại cương:
Tại Khoa Kinh tế - Luật, đây là môn học tự chọn đối với tất cả các
ngành ngoại trừ ngành Hệ thống thông tin quản lý, được giảng dạy trong học
kỳ I. Chương trình giảng dạy Tin học đại cương dành cho sinh viên Khoa
Kinh tế - Luật bao gồm 3 phần:
a1.Phần một: Tin học cơ bản và hệ điều hành. Ở phần này sinh viên
được học:
- Các kiến thức cơ bản cần thiết khi mới bắt đầu học tin học: những
kiến thức về khoa học máy tính, thành phần cấu tạo chức năng máy
tính…
- Những hiểu biết chủ yếu về hệ điều hành Windows XP
Professional: khái niệm, chức năng, các kiểu hệ điều hành; các thao tác
với hệ điều hành như thay đổi diện mạo cấu hình Windows XP, cài đặt
và chạy một chương trình ứng dụng trên Windows XP, làm việc với thư
mục và tập tin – Windows Explorer.
a2.Phần hai: Các kiến thức cơ bản về mạng máy tính và Internet.
Trong phần này, sinh viên được trang bị những kiến thức về mạng cơ
bản ( mạng PAN, mạng máy tính và mạng không dây) và mạng Internet,
mạng thông tin toàn cầu World Wide Web, cách thức kết nối Internet và
World Wide Web, trình duyệt web (Internet Explorer), e-mail và cách
thức sử dụng e-mail.
Nhóm 19 - K08405A – Khoa Kinh tế - Luật, ĐHQG TP. HCM
9
Đề tài thống kê: “Tin học văn phòng với sinh viên Khoa Kinh tế - Luật”

Đây là môn học bắt buộc đối với sinh viên ngành Kế toán – Kiểm toán
được giảng dạy trong học kỳ VII. Tin học kế toán là một môn tin học chuyên
ngành, tất cả các sinh viên sẽ được học các chương trình tin học liên quan
đến việc thực kế toán trên máy tính và một số chương trình ứng dụng khác
như: excel, SPSS, EVIEWS,…
III. YÊU CẦU CỦA NHÀ TUYỂN DỤNG:
Theo nghiên cứu của TS VŨ THẾ DŨNG – TRẦN THANH TÒNG
(Đại học Bách khoa TPHCM), có 17 kỹ năng xuất hiện trong yêu cầu của nhà
tuyển dụng về những kỹ năng đối với sinh viên mới tốt nghiệp các ngành
quản lý – kinh tế. Có thể chia 17 kỹ năng này thành 3 nhóm chính:
Nhóm 1: nhóm các kỹ năng cơ bản, bắt buộc phải có, nếu không
có các ứng viên sẽ rất khó khăn hay không thể được tuyển dụng. Nhóm này
bao gồm 4 kỹ năng chính: Ngoại ngữ, tin học văn phòng, giao tiếp, và làm
việc độc lập. Trong đó ngoại ngữ và tin học văn phòng là 2 kỹ năng quan
trọng hàng đầu. Tuy rất quan trọng nhưng nhóm kỹ năng này chỉ là điều kiện
cần để được tuyển dụng, nó chưa phải là điều kiện đảm bảo.
Nhóm 2: nhóm giá trị gia tăng, nhóm này chính là nhóm kỹ năng
giúp các ứng viên thực sự tạo ra sự khác biệt của mình với đối thủ cạnh tranh.
Nhóm này bao gồm 8 kỹ năng chính là: tổ chức, quản lý, phân tích, làm việc
nhóm, tin học chuyên ngành, truyền thông, hoạch định, và đàm phán. Đây là
rõ ràng là những kỹ năng cao hơn, khó hơn rất nhiều so với nhóm cơ bản. Nó
thực sự sẽ là những thách thức cho các sinh viên mới ra trường.
Nhóm 3: nhóm dành cho nhà lãnh đạo tương lai. Nhóm này bao
gồm các kỹ năng cần có của các nhà lãnh đạo tương lai như: tổng hợp, lãnh
đạo, xây dựng và phát triển quan hệ, tổ chức nguồn nhân lực, và ra quyết
định.
Có sự khác biệt chủ yếu xuất hiện trong một số các kỹ năng cụ thể.
Chẳng hạn có sự khác biệt rất rõ nét về nhu cầu ngoại ngữ giữa nhóm công ty
trong nước (Trách nhiệm hữu hạn và cổ phần) với nhóm công ty có yếu tố
nước ngoài (100% vốn nước ngoài và công ty liên doanh). Nhóm có yếu tố

nhân
sự
Tiếp thị
- kinh
doanh –
Chăm
sóc
khách
hàng
Kế toán
– tài
chính
Nhóm 1: Cơ
bản
1 Ngoại ngữ 78% 91% 69% 89% 68% 76% 80% 80% 81% 79% 79%
2 Tin họcvăn
phòng
65% 68% 68% 70% 53% 62%68% 57% 74% 60% 74%
3 Giao tiếp 42% 38% 42% 44% 47% 36% 46% 23% 53% 52% 24%
4 Làm việc
độclập
30% 32% 30% 30% 25% 28% 31% 30% 33% 30% 24%
Nhóm 2:
Giá trị gia
tăng
5 Tổ chức 19% 19% 25% 11% 10% 16% 21% 23% 29% 13% 10%
6 Quản Lý 19% 19% 19% 19% 17% 27% 11% 37% 14% 13% 17%
7 Phân tích 18% 18% 11% 22% 27% 14% 21% 17% 4% 25% 24%
8 Làm
việcnhóm

t.bình trên 1
vị trí tuyển
dụng
3.63 3.82 3.45 3.70 3.67 3.4 3.8 3.8 3.8 3.5 3.5
Nếu phân tích các kỹ năng theo lĩnh vực ngành nghề hoạt động của
doanh nghiệp thì yêu cầu của các doanh nghiệp trong lĩnh vực dịch vụ cao
hơn hẳn so với các doanh nghiệp trong lĩnh vự sản xuất. Đặc biệt, nhóm
doanh nghiệp dịch vụ yêu cầu cao hơn hẳn về các kỹ năng như giao tiếp,
truyền thông, làm việc nhóm, ngoại ngữ. Trong khi đó, doanh nghiệp sản
xuất yêu cầu cao hơn về kỹ năng tin học chuyên ngành và quản lý. Kết quả
này cũng thể hiện khá rõ sự khác biệt về nhu cầu nhân sự giữa hai nhóm
ngành này khi nhóm dịch vụ có xu hướng tiếp xúc nhiều hơn với con người
(nên quan trọng các kỹ năng gắn với con người như giao tiếp, làm việc nhóm
truyền thông), khi nhóm sản xuất có xu hướng tiếp xúc nhiều với kỹ thuật và
máy móc (nên quan trọng các kỹ năng quản lý và tin học chuyên ngành).
Theo một nghiên cứu khác của Trung tâm Giới thiệu việc làm TP.Hồ
Chí Minh (thuộc Sở Lao động - Thương binh và Xã hội TP.HCM). Kết quả
khảo sát cho thấy, trong những ưu điểm của người lao động, khả năng
“nắm vững kiến thức cơ bản của nghề được đào tạo” được nhà tuyển dụng
đánh giá cao nhất (chiếm 40%). Tiếp đó là những tiêu chuẩn: nắm vững
chuyên môn kỹ thuật của công việc thực tế (12%); khả năng thích nghi thực
tế (12%); thái độ cầu tiến (10%); những khả năng khác như sự sáng tạo, khả
năng giao tiếp, ứng xử (0,8%); tác phong năng động (0,7%)
Trong khi đó, những khiếm khuyết không ít người lao động gặp phải, là:
thiếu kinh nghiệm, chuyên môn và kỹ năng mềm (38%); thiếu hiểu biết về
các khía cạnh kinh tế và điều kiện sản xuất kinh doanh (20%); kiến thức
ngoại ngữ và tin học chưa đáp ứng yêu cầu (20%); ít động lực làm việc, năng
Nhóm 19 - K08405A – Khoa Kinh tế - Luật, ĐHQG TP. HCM
13
Đề tài thống kê: “Tin học văn phòng với sinh viên Khoa Kinh tế - Luật”

Đa số sinh viên được khảo sát chưa có chứng chỉ tin học, trong số
sinh viên có chứng chỉ tin học, thì đa số là chỉ mới có chứng chỉ A, và một
lượng nhỏ hơn có cả 2 chứng chỉ A và B. Sinh viên chưa có chứng chỉ về
tin học chiếm 62.2% trong tổng số sinh viên được khảo sát, sinh viên có
chứng chỉ A chiếm 24.5%, sinh viên có chứng chỉ B chiếm 7.3% , sinh viên
có hai chứng chỉ chiếm 6%. Bên cạnh đó, trình độ tin học của nam sinh
viên thường cao hơn nữ.
Nhóm 19 - K08405A – Khoa Kinh tế - Luật, ĐHQG TP. HCM

Chứng chỉ tin học hiện có
Chứng chỉ A Chứng chỉ B Cả hai Chưa có
Count Col % Count Col % Count Col % Count Col %
Giới
tính
Nam
33 40.7% 17 70.8% 11 55.0% 76 36.9%
Nữ
48 59.3% 7 29.2% 9 45.0% 130 63.1%
15
Đề tài thống kê: “Tin học văn phòng với sinh viên Khoa Kinh tế - Luật”

H
o
; giả thiết giữa giới tính và chứng chỉ tin học hiện có không có mối quan hệ
H: giả thiết giữa giới tính và chứng chỉ tin học hiện có có mối quan hệ
X
2
=16.175
X
2

(k-1)(c-1) = 12.5916
Giữa năm học và chứng chỉ tin học không có mối quan hệ ở mức ý nghĩa
0.05
Nhưng thật sự, thì những sinh viên không có chứng chỉ tin học không
hẳn là không hiểu biết gì về tin học văn phòng. Trong số những sinh viên
chưa có chứng chỉ tin học là vì họ chưa muốn thi lấy chứng chỉ. Vì theo họ,
lấy chứng chỉ tin học vào lúc này là chưa cần thiết và còn quá sớm. các sinh
viên đều cho rằng nên thi lấy chứng chỉ tin học vào khoảng cuối năm thứ 3
hoặc vào năm thứ 4 sẽ đảm bảo hơn.
Trình độ tin học hiện đang có của các sinh viên chủ yếu là do tự
nghiên cứu và một phần được trang bị tại trường trung học phổ thông.
Trong thời đại ngày nay, việc tự nghiên cứu là một điều rất cần thiết, trước
những đáp ứng của xã hội như việc tìm một phần mềm tin học hay một
Nhóm 19 - K08405A – Khoa Kinh tế - Luật, ĐHQG TP. HCM
16
Group $CAU2 trinh do tin hoc co hien nay la do
Pct of
Pct of
Category label Code Count Responses
Cases
tu hoc, tu nghien cuu 1 148 35.8
44.7
hoc o truong tu THPT 2 141 34.1
42.6
hoc o cac trung tam tin hoc 3 120 29.1
36.3
y kien khac 4 4 1.0
1.2
tâm.
Mặc dù vậy, nhưng thật sự, các sinh viên đều rất quan tâm đến việc
nâng cao trình độ tin học cho bản thân để đáp ứng cho tương lai của mình
vì tin học đóng vai trò quan trọng trong các yêu cầu của nhà tuyển dụng và
của một con người thời đại mới.

Khảo sát về việc tự đánh giá khả năng tin học của mình:
- Về kỹ năng word:
Frequency Percent Valid Percent
Cumulative
Percent
Valid rat thuong
xuyen
94 28.4 28.4 28.4
thuong
xuyen
148 44.7 44.7 73.1
thinh thoang
80 24.2 24.2 97.3
hiem khi
9 2.7 2.7 100.0
Total
331 100.0 100.0
Đa số sinh viên đều nhận định kĩ năng word của mình là khá, việc thao
tác trên công cụ tin học văn phòng với họ là rất phổ biến. Đây cũng là nguyên
nhân hợp lí, do yêu cầu bắt buộc của việc học tập tại trường cần thao tác
word thường xuyên để làm các bài tiểu luận. Có rất ít sinh viên đánh máy
được 10 ngón và tốc độ đánh máy nhanh. Trong khi việc đánh máy 10 ngón
một cách thành thạo là một trong những ký năng mềm cần phải có của một
sinh viên kinh tế khi ra trường.

Mô hình hồi qui tuyến tính đơn giữa chứng chỉ tin học hiện có với nhận định về
khả năng word.
Chứng chỉ tin học hiện có = 2,109+0,264*nhận định về khả năng word
1: Chứng chỉ A
2: Chứng chỉ B
3: Cả hai
4: Không có
Nhận định về khả năng word
1: Rất tốt
2: Tốt
3: Khá
4: Tạm được
5: Tệmuc do thao tac word
rat thuong xuyen thuong xuyen thinh thoang hiem khi
Count Col % Count Col % Count Col % Count Col %
chung chi tin
hoc hien co
chung chi A
24 25.5% 41 27.7% 15 18.8% 1 11.1%
chung chi B
12 12.8% 12 8.1%
ca hai
7 7.4% 10 6.8% 3 3.8%
khong co
51 54.3% 85 57.4% 62 77.5% 8 88.9%
H
0

Cou
nt
Col %
Cou
nt
Col
%
Cou
nt
Col
%
Cou
nt
Col
%
Cou
nt
Col %
chung chi
tin hoc hien
co
chung chi
A
3
18.8
%
23
39.7
%
34

20
Đề tài thống kê: “Tin học văn phòng với sinh viên Khoa Kinh tế - Luật”

H
0
: giả thiết giữa chứng chỉ và mức độ thao tác excel của bản thân không có mối
quan hệ.
H: giả thiết giữa chứng chỉ và mức độ thao tác excel của bản thân có mối quan hệ
X
2
=48.1155
X
2
(k-1)(c-1)0.05
=21,0261
Giữa chứng chỉ hiện có mức độ thao tác excel có mối quan hệ: những sinh viên đã
có bằng thường ít thao tác thường xuyên, những sinh viên chưa có bằng thường
thao tác excel nhiều hơn
Mô hình hồi qui tuyến tính đơn giữa chứng chỉ tin học hiện có với nhận định về
khả năng excel
Chứng chỉ tin học hiện có = 1,508+0,434*nhận định về khả năng excel
1: Chứng chỉ A
2: Chứng chỉ B
3: Cả hai
4: Không có
Nhận định về khả năng excel
1: Rất tốt
2: Tốt
3: Khá
4: Tạm được


Giữa năm học và mức độ thao tác access có mối quan hệ, sinh viên năm nhất chú ý
nhiều đến access nhưng sinh viên năm 3 thường thao tác accesss thường xuyên.
Qua những phân tích trên, chúng ta có thể kết luận rằng mức độ tthao tác
các chương trình tin học của sinh viên Khoa Kinh tế là ở mức độ khá thường
xuyên. Tuy nhiên, cũng có một sự chênh lệch khá lớn về mức độ thao tác của
Nhóm 19 - K08405A – Khoa Kinh tế - Luật, ĐHQG TP. HCM
22
Đề tài thống kê: “Tin học văn phòng với sinh viên Khoa Kinh tế - Luật”

các sinh viên. Đối với các sinh viên đã có bằng cấp, đa số thường ít thao tác
hơn đối với những sinh viên chưa có bằng cấp, và những sinh viên năm nhất,
năm hai thường thao tác ít hơn so với sinh viên năm ba. Thực trạng này thường
xuất phát từ các nguyên nhân khách quan và chủ quan như: nguyên nhân khách
quan: do sinh viên năm nhất, năm hai thường ít hoạt động nhiều về máy tính do
không có làm nhiều đề tài, bài thuyết trình hay tiểu luận. Nguyên nhân chủ
quan: các sinh viên chưa có học các chương trình về access thì không biết về
chương trình thì không thể thao tác, các sinh viên đã có chứng chỉ thì không
thao tác nhiều so với sinh viên chưa có chứng chỉ. Vì tâm lí biết rồi, không cần
học thêm nữa.
II. CẢM NHẬN CỦA SINH VIÊN VỀ CÁC CHƯƠNG
TRÌNH ĐƯỢC GIẢNG DẠY TẠI KHOA:
Chương trình đào tạo Tin học cũng như kế hoạch đào tạo Tin học cho
Sinh viên được sự kiểm duyệt của Khoa cũng như thông qua sự xét duyệt
của Bộ giáo dục và đào tạo. Thế nhưng qua cuộc khảo sát phần lớn sinh
viên đều cảm thấy chương trình đào tạo Tin học của Khoa là chưa phù hợp.
Một con số tương đối lớn ( 66% ) cho là chưa phù hợp.
Hơn nữa thời gian đào tạo môn Tin học cho sinh viên chưa được
nhiều. Ví dụ: Môn Tin học đại cương (3 tín chỉ), Tin học quản lí (3 tín chỉ)
Nhóm 19 - K08405A – Khoa Kinh tế - Luật, ĐHQG TP. HCM

trong đó trình độ ngoại ngữ và trình độ tin học là bắt buộc đối với các sinh
viên sau khi ra trường nếu muốn được tuyển dụng.
Hiện nay, chỉ có một số ít sinh viên là có chứng chỉ A,B tin học còn
đại đa số là chưa có. Tuy phần lớn chưa có chứng chỉ tin học nhưng cũng
có rất nhiều sinh viên nhận thức cao vai trò của tin học đối với nghề nghiệp
của mình sao này. Họ quan tâm đến tin học và tìm hiểu về yêu cầu của nhà
Nhóm 19 - K08405A – Khoa Kinh tế - Luật, ĐHQG TP. HCM
24
Đề tài thống kê: “Tin học văn phòng với sinh viên Khoa Kinh tế - Luật”

tuyển dụng đối với kỹ năng về tin học văn phòng. Đây cũng là một yêu cầu
tất yếu trong thời đại ngày nay. Muốn có việc làm tốt sau khi ra trường bắt
buộc sinh viên phải thành thạo các kỹ năng tin học cơ bản, mà trong đó tin
học văn phòng đóng vai trò quan trọng.
Do đó, qua thực hiện phỏng vấn đối với các sinh viên năm cuối, thì
tất cả các anh chị sinh viên đều trang bị tốt, có đầy đủ các kiến thức chuyên
môn về tin học và các chứng chỉ cần thiết để đáp ứng yêu cầu của nhà tuyển
dụng cũng như yêu cầu của công việc.
Qua các phân tích trên, chúng ta có thể rút ra được các ưu và nhược
điểm về tin học của sinh viên Khoa Kinh tế - Luật:
 Ưu điểm:
- Các sinh viên có khả năng khá tốt về trình độ tin học văn phòng.
- Hầu hết sinh viên đều thấy được tầm quan trọng của tin học văn
phòng đối với tương lai của bản thân.
- Tuy ban đầu, trình độ tin học của các sinh viên còn chưa cao, nhưng
về sau, do nhận thức được tầm quan trọng của nó, nên tất cả đều tự trang bị
cho bản thân đầy đủ các kiến thức và chứng chỉ, đáp ứng cho yêu cầu của
nhà tuyển dụng và cuộc sống.
 Nhược điểm:
- Một số sinh viên chưa thấy được tầm quan trọng của tin học ngay từ


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status