LỜI MỞ ĐẦU
Thế kỷ XX đã kết thúc, lồi người đang bước vào một thiên niên kỷ mới.
Nhìn lại q khứ, thế kỷ XX với những biến đổi dữ dội: Sự xuất hiện Liên Xơ và hệ
thống XHCN, rồi tan rã vào năm 1991; khủng hoảng kinh tế tài chính ở Châu á
làm rung chuyển hệ thống kinh tế thế giới; chiến tranh cục bộ, xung đột sắc tộc, tơn
giáo, xu thế cạnh tranh giữa các khối ngày càng gay gắt, cách mạng khoa học cơng
nghệ trên thế giới đang diễn ra với tốc độ như vũ bão, đưa lồi người có cách nhìn
nhận mới, chứng kiến nhiều thành tựu của cách mạng sinh học và cách mạng vũ
trụ; sự phát triển sơi động, phong phú của các nền kinh tế thị trường Âu- Mĩ, Nhật
Bản và các nước NICS Châu á. Đồng thời thế giới cũng chứng kiến sự cạnh tranh
khơng chỉ kinh tế đơn thuần về hàng hố, tiền tệ tài chính, kỹ nghệ, mà còn đấu
tranh quyết liệt để tìm đến mơ hình kinh tế tối ưu – Xã hội tốt đẹp.
Nhiều học giả đã thẳng thắn chỉ ra những mâu thuẫn và khuyết tật vốn có của
xã hội tư bản hiện đại và cho rằng để khắc phục và hồn thiện nó, phải cải biến xã
hội tư bản và thay vào đó là xã hội “hậu tư bản”, “xã hội siêu cơng nghiệp”, “xã
hội hậu cơng nghiệp”…Tuy nhiên, KTTT tư bản hiện đại thì những khuyết tật vốn
có của nó: thất nghiệp, khủng hoảng, phân hóa giàu nghèo, huỷ diệt mơi trường
sinh thái, những phẩm chất nhân bản của con người bị tha hố…đang diễn ra mà
khơng điều chỉnh được trong xã hội tư bản hiện đại.Các mơ hình KTTT xã hội của
Tây Âu mà đại diện là CHLB Đức, khơng lấy gì làm sáng sủa và có sức hấp dẫn.
KTTT cộng đồng của Nhật Bản thì khơng tránh khỏi khủng hoảng kinh tế- tài
chính. “Kinh tế thị trường phân tán” kiểu Mỹ trong mấy năm gần đây tốc độ tăng
trưởng kinh tế khá nhưng thế giới khơng chấp nhận những vấn đề tiêu cực xã hội,
sự tha hố của con người và gia đình…Trong buổi giao thời giữa hai thiên niên kỷ
của nhân loại, các đảng chính trị và các nước một lần nữa tự đặt cho mình câu hỏi
“nên xây dựng nền kinh tế thị trường như thế nào” để tránh được những khuyết tật
vốn có của nó. Con người sống trong nhân ái; bản sắc văn hố truyền thống của dân
THƯ VIỆN ĐIỆN TỬ TRỰC TUYẾN
tộc được phát huy, con người khơng bị tha hố, phân hố giàu nghèo, cơng bằng và
tiến bộ xã hội tốt hơn, mơi trường sinh thái được đảm bảo.
THƯ VIỆN ĐIỆN TỬ TRỰC TUYẾN
triển. Thực tế cho thấy luận điểm của Mác chưa thể vận dụng ở các nước sản xuất
nhỏ đi lên CNXH. Bởi vậy, thời kỳ đầu thế kỷ XX Lê-nin đã sáng tạo ra chính sách
kinh tế mới giúp nền kinh tế Nga từng bước ổn định đi lên.
Thực chất của chính sách kinh tế mới là xây dựng nền kinh tế hàng hố nhiều
thành phần có sự điều tiết của nhà nước Xơ Viết. Lê-nin chủ trương: phát triển sản
xuất hàng hố và phải biết sử dụng đúng đắn các quan hệ hàng hố, tiền tệ vào
cơng cuộc xây dựng CNXH. Trong thời kỳ q độ lên CNCS cần phải tập trung
mọi nguồn lực xây dựng xã hội mới đó cũng chính là mục đích cao nhất của nền
kinh tế thị trường định hướng XHCN ở Việt Nam. Bởi về lý thuyết mỗi hình thái
xã hội chỉ có thể phát huy ưu thế khi quan hệ sản xuất phù hợp với trình độ của
LLSX. Tuy nhiên, sau khi Lê-nin qua đời những người lãnh đạo Liên Xơ và nhiều
nước XHCN khác khơng nhận thức đúng quan điểm của Người họ cho rằng sản
xuất hàng hố là tàn dư của chế độ tư bản và thay thế nó bằng cơ chế quản lý quan
liêu, bao cấp gắn liền với nó là nền kinh tế hiện vật ngự trị. Hậu quả của nền kinh
tế kế hoạch là sự thụt lùi về sản xuất, khoa học kỹ thuật, cơng nghệ, đời sống xã hội
khơng được nâng cao, năng suất lao động giảm vì thiếu hụt những nhân tố kích
thích…Đây là ngun nhân quan trọng cản trở những mục tiêu tốt đẹp của CNXH.
Vì những cơ sở nêu trên của sản xuất hàng hố trong thời kỳ q độ lên CNXH là
bước phát triển tất yếu tiếp tục q trình sản xuất của lồi người từ khi ra đời. Sản
xuất hàng hố khơng phải là đặc trưng riêng của CNTB mà là vấn đề có tính quy
luật, là nấc thang chủ yếu đi lên CNCS. Chỉ khi nào nhân loại phát triển sản xuất
đến trình độ cao đủ điều kiện phủ định kinh tế hàng hố thì nó mới khơng còn lý do
để tồn tại.
1.2.Kinh tế thị trường - Nấc thang phát triển cao hơn của kinh tế hàng hố
Kinh tế hàng hố là kiểu tổ chức hoạt động kinh tế tồn tại và phát triển trong
nhiều hình thái kinh tế- xã hội. Kinh tế hàng hố là loại hình tiến bộ, là nấc thang
cao hơn kinh tế tự cấp tự túc trong sự phát triển của xã hội lồi người. Còn KTTT
THƯ VIỆN ĐIỆN TỬ TRỰC TUYẾN
l nc thang phỏt trin cao hn ca kinh t hng hoỏ, khi m cỏc yu t u ra v
tập trung TLSX và của cải vào tay, do đó, thống trị nền kinh tế phục vụ cho lợi ích
của họ. Tự do cạnh tranh của TBCN dẫn đến “cá lớn nuốt cá bé”, áp đặt “luật chơi
của kẻ mạnh”, kẻ mạnh sẽ hốt bạc “một cách sòng phẳng” và “lạnh ling”; trên thực
tế một thiểu số các nhà tư bản lớn ln cấu kết với những thế lực chính trị cầm
quyền để thực hiện sự bóc lột , thống trị với đa số nhân dân lao động nghèo khổ.
Trình độ xã hội hố và tồn cầu hố TBCN ngày càng cao dẫn tới sự cần
thiết điều chỉnh nhà nước đối với nền kinh tế, nên chủ nghĩa tư bản càng mang tính
kế hoạch trong phạm vi quốc gia và quốc tế. Tuy nhiên, do bản chất cố hữu của sở
hữu tư nhân và động cơ lợi nhuận mà càng đẩy tới sự phát triển cạnh tranh vơ tổ
chức và khủng hoảng sâu sắc; CNTB hiện đại đã bổ xung thêm vào các cuộc khủng
hoảng sản xuất chu kỳ bằng các cuộc khủng hoảng cơ cấu và tài chính- tiền tệ. Sự
cạnh tranh cũng ngày càng quy mơ và khốc liệt hơn, đó là các cuộc chiến tranh về
kinh tế- thương mại- cơng nghệ, về tiền tệ, sắt thép, ơtơ, máy bay và dầu mỏ ở
vùng Vịnh hiện nay, là chiến tranh giữa các tập đồn xun quốc gia cũng như
giữacác “trục”, các “trung tâm” và các khu vực trên thế giới. Nhìn chung, thu nhập
và mức sống của dân cư được tăng lên rõ rệt, hay như người ta nói: “nước lên thì
thuyền lên”; nhưng đi sâu phân tích dựa trên số liệu thống kê chính thức của các
nước tư bản phát triển thì có thể nhận thấy rằng mức tăng lên này cũng rất khác
nhau, đặc biệt khoảng cách về mức sống giữa giai cấp tư sản và lao động cũng như
giữa các nước giầu và nước nghèo ngày càng xa nhau, tức sự phân hố- bất bình
đẳng xã hội ngày càng sâu sắc.Chính sự phân cực và mâu thuẫn xã hội khơng thể
điều hồ này là nguy cơ tiềm ẩn gây nên bất ổn và cần thiết phải thủ tiêu chế độ
TBCN- một chế độ chỉ tồn tại, phát triển trên sự bóc lột của thiểu số nhà tư bản đối
với đa số những người lao động.
1.2.2.Kinh tế thị trường XHCN và kinh tế thị trường định hướng XHCN:
THƯ VIỆN ĐIỆN TỬ TRỰC TUYẾN
Cỏc mụ hỡnh KTTT XHCN (Trung Quc) v KTTT nh hng XHCN (Vit
Nam) cú mt s im ging nhau cn bn: ú l u khng nh tớnh cht v xu th
phỏt trin tt yu XHCN ca cỏc quỏ trỡnh kinh t- xó hi. Tuy nhiờn, do cỏc nc
ny hóy cũn thp kộm, cha phỏt trin nờn CNXH cũn trỡnh thp hay CNXH
vừa có chế độ hợp tác cổ phần, vừa có quốc hữu và tập thể có cổ phiếu khống chế
lại vừa tham gia sở hữu hỗn hợp với các thành phần sở hữu khác.
Thứ hai, phân phối theo lao động là chủ yếu đồng thời lại thừa nhận nhiều
phương thức phân phối cùng tồn tại. Cơ cấu phân phối được đa dạng hố: Phân
phối theo lao động kết hợp với phân phối theo các yếu tố sản xuất, theo góp vốn và
theo trí tuệ tài năng.
Thứ ba, thể chế kinh tế lấy xây dựng, hồn thiện KTTT XHCN làm mục tiêu.
Điều này có ý nghĩa làm cho nền kinh tế được thị trường hố, vận hành theo các
quy luật và ngun tắc của KTTT; làm cho thị trường phát huy vai trò cơ sở trong
bố trí nguồn lực dưới sự điều tiết vĩ mơ của nhà nước; kết hợp kế hoạch với thị
trường để giải phóng sức sản xuất và thúc đẩy nhanh chóng sự phát triển kinh tế.
Theo quan điểm của Trung Quốc kế hoạch và thị trường khơng quy định sự khác
biệt về bản chất giữa CNXH và CNTB. TráI lại, CNXH cũng có thị trường và
CNTB cũng có kế hoạch. Bản chất của CNXH là ở chỗ giải phóng sức sản xuất ,
phát triển sức sản xuất.
1.2.2.2.Kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa:
Với tư cách là cái đặc thù, KTTT định hướng xã hội chủ nghĩa đương nhiên
phải phù hợp với cái chung, nhưng phải lấy cái đặc thù chế ước cái chung, sử dụng
cái chung KTTT nhằm đảm bảo tn theo những ngun tắc, mục tiêu và định
hướng XHCN. Nói sử dụng KTTT cho mục đích của CNXH chủ yếu là khai thác
mặt tích cực và tiến bộ của KTTT trong việc tạo ra động lực mạnh mẽ thúc đẩy
LLSX phát triển, xã hội hố nền sản xuất và tăng năng suất lao động xã hội, để có
THƯ VIỆN ĐIỆN TỬ TRỰC TUYẾN
điều kiện phúc lợi và nâng cao mức sống cho nhân dân. Do đó ngồi những tính
chất chung của KTTT, thì KTTT định hướng XHCN còn có nét khác biệt:
Thứ nhất, KTTT dựa trên cơ sở chế độ cơng hữu làm chủ thể hay chủ đạo,
bao gồm các hình thức sở hữu nhà nước, sở hữu tập thể và sở hữu xã hội chiếm ưu
thế. Điều này là phù hợp với xu thế lịch sử của xã hội hố sản xuất. Để thị trường
hố chỉ cần tách quyền sử dụng khỏi quyền sở hữu, cũng giống như đối với thị
trường quyền sử dụng đất đai hay chế độ đại diện trong sở hữu cổ phần.
Thứ bảy, KTTT với các doanh nghiệp nhà nước được đổi mới và cơ câú lại,
trên cơ sở tách chính quyền khỏi doanh nghiệp và tách quyền sở hữu tài sản nhà
nước khỏi quyền kinh doanh, làm cho doanh nghiệp nhà nước hoạt động hiệu quả
trong KTTT, có khả năng trở thành chỗ dựa vững chắc trong cho KTTT. Mục tiêu
chân chính của cải cách thị trường nền kinh tế là đa dạng hố sở hữu và các thành
phần kinh tế, khơi dậy động cơ lợi ích và tinh thần kinh doanh sáng tạo, hồn tồn
khơng có nghĩa là tư hữu hố tài sản cơng hữu mà chủ yếu phải chuyển các doanh
nghiệp nhà nước sang hoạt dộng thích ứng trong những điều kiện thị trường.
Nhìn chung, KTTT định hướng xã hội chủ nghĩa là kiểu tổ chức kinh tế xã
hội đặc biệt của xã hội đặc biệt- nền kinh tế q độ của xã hội q độ. Đồng thời,
nó cũng phản ánh sự kết hợp giữa cái chung- KTTT với cái riêng là định hướng
XHCN , dựa trên ngun tắc tơn trọng cái chung đồng thời lấy cái đặc thù làm chủ
đạo, nhằm chế ngự và sử dụng cái chung phục vụ mục tiêu của chủ nghĩa xã hội.
2.Đặc trưng của nền kinh tế thị trường định hướng XHCN ở Việt Nam:
Kinh tế hàng hố phát triển qua ba giai đoạn tương ứng với ba giai đoạn phát
triển của lực lượng sản xuất: sản xuất hàng hố giản đơn, kinh tế thị trường tự do,
kinh tế thị trường hiện đại. Hiện nay kinh tế thị trường nước ta còn ở trình độ kém
phát triển. Tuy nhiên, nước ta khơng lặp lại ngun vẹn tiến trình phát triển kinh tế
của các nước đi trước: kinh tế hàng hố giản đơn chuyển lên kinh tế thị trường tự
do, rồi từ kinh tế thị trường tự do chuyển lên kinh tế thị trường hiện đại, mà nước ta
THƯ VIỆN ĐIỆN TỬ TRỰC TUYẾN
cần phải và có thể xây dựng nền kinh tế thị trường hiện đại, định hướng xã hội chủ
nghĩa theo kiểu rút ngắn. Do vậy, nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ
nghĩa ở nước ta khơng phải là nền kinh tế bao cấp, quản lý theo kiểu tập trung quan
liêu bao cấp như trước đây, khơng phải là kinh tế thị trường tự do như cách của các
nước tư bản, và cũng chưa hồn tồn là kinh tế thị trường xã hội chủ nghĩa. Bởi vì
chúng ta còn đang ở trong thời kỳ q độ lên chủ nghĩa xã hội, còn có sự đấu tranh
giữa cái cũ và cái mới, vừa có, vừa chưa có đầy đủ yếu tố xã hội chủ nghĩa.Với
những nét đặc trưng như vậy mà nền kinh tế thị trường nước ta một mặt vừa có tính
chất chung của nền kinh tế thị trường, vừa mang những nét riêng.Ngồi những nét
rút ngắn ở nước ta hiện nay.
Đồng thời với việc khai thác triệt để những mặt tích cực, những lợi thế của
KTTT, chúng ta khắc phục, ngăn ngừa, hạn chế những mặt tiêu cực phát sinh từ
mặt trái của nền kinh tế thị trường: vừa kích thích sản xuất, giải phóng sức sản
xuất, vừa bảo vệ lợi ích của nhân dân và nâng cao địa vị làm chủ của người lao
động; vận dụng các quy luật của thị trường để kiên trì thực hiện cơng bằng xã hội,
giải quyết vấn đề cơng bằng, tiến bộ xã hội cải thiện đời sống nhân dân phù hợp với
từng bước tăng trưởng kinh tế, tạo điều kiện cơng bằng trong phát triển con
người.Theo đó có thể coi phát triển trong cơng bằng là một đặc điểm quan trọng
của nền kinh tế thị trường định hướng XHCN ở nước ta. Chúng ta khơng đợi khi
KTTT phát triển mới giải quyết cơng bằng xã hội mà có thể và cần phải giải quyết
nó trong từng bước phát triển của nền kinh tế, sản xuất gắn liền với đời sống nhân
dân, thu nhập kinh tế đi đơi với tiến bộ và cơng bằng xã hội, khuyến khích làm giàu
hợp pháp, gắn liềnvới xố đói giảm nghèo.Phát triển trong cơng bằng là sự phát
triển mà mọi tầng lớp nhân dân đều có điều kiện để tham gia và được hưởng những
thành quả tương xứng với sức lực, khả năng, trí tuệ họ bỏ ra, bảo đảm cơ bản về cơ
hội cho người dân tham gia các hoạt động kinh tế xã hội. Phát triển trong cơng
bằng được hiểu là cả hai mặt kinh tế và xã hội của thị trường phải được chủ động
(1)
Hồ Chí Minh ton tập, NXB CTQG 1995-1996,T8,trang 493.
THƯ VIỆN ĐIỆN TỬ TRỰC TUYẾN
kết hợp với nhau thơng qua luật pháp , chính sách kinh tế và chính sách xã hội cả
tầm vĩ mơ và vi mơ.
Cái khác cơ bản của thị trường XHCN là thu hẹp dần sự phân biệt giàu
nghèo. Cơng bằng về phân phối thu nhập đã tạo ra và là nguồn gốc của mọi cơng
bằng khác như cơng bằng về chăm sóc y tế, về học hành…Muốn vậy phải vận dụng
các quy luật thị trường để kiên trì thực hiện cơng bằng xã hội chứ khơng phải ra
những mệnh lệnh hành chính thay cho thị trường hay dùng một bộ máy phân phối
thay cho thị trường, phải dùng luật pháp để cho quy luật phân phối theo lao động