Ảnh hưởng của đô thị hoá đến phát triển nông nghiệp huyện phú bình tỉnh thái nguyên - Pdf 20


Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN Http://www.lrc-tnu.edu.vn

ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ VÀ QUẢN TRỊ KINH DOANH ĐÀO THỊ LAM HỒNG

ẢNH HƯỞNG CỦA QUÁ TRÌNH ĐÔ THỊ HOÁ
ĐẾN PHÁT TRIỂN NÔNG NGHIỆP
HUYỆN PHÚ BÌNH - TỈNH THÁI NGUYÊN
LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ


Người hướng dẫn khoa học: PGS – TS Đỗ Quang Quý Thái Nguyên - 2011

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN Http://www.lrc-tnu.edu.vn

1
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Đô thị hóa (ĐTH) là xu thế tất yếu trên con đường phát triển của tất cả các
quốc gia trên thế giới. Trong những năm qua, quá trình CNH, hiện đại hoá, đô
thị hoá tại Việt Nam đang diễn ra với tốc độ ngày càng nhanh đã làm cho bộ mặt
các đô thị ở nước ta thay đổi theo chiều hướng tích cực. Tuy nhiên, mặt trái
của quá trình ĐTH cũng đang đặt ra nhiều vấn đề cần giải quyết như vấn đề tạo
việc làm cho nông dân bị mất đất, phương thức đền bù khi giải phóng mặt
bằng, cách thức di dân, dãn dân đang phát sinh ngày càng phức tạp. Nếu

nông nghiệp huyện Phú Bình tỉnh Thái Nguyên nhằm đề xuất một số giải pháp
giải quyết những ảnh hưởng của đô thị hoá đến phát triển nông nghiệp huyện
Phú Bình, tỉnh Thái Nguyên.
2.2. Mục tiêu cụ thể
- Hệ thống hoá cơ sở lý luận và thực tiễn những ảnh hưởng của quá trình đô
thị hoá đến phát triển nông nghiệp.
- Phân tích thực trạng để tìm ra những mặt tích cực cũng như những tiêu
cực mà quá trình đô thị hoá ảnh hưởng đến phát triển nông nghiệp huyện Phú
Bình, tỉnh Thái Nguyên.
-
Đ
ề xuất các giải pháp chủ yếu nhằm giải quyết những ảnh hưởng của đô
thị hoá đến phát triển nông nghiệp huyện Phú Bình, tỉnh Thái Nguyên.
3. Phạm vi nghiên cứu
3.1. Nội dung nghiên cứu
1. Thực trạng phát triển nông nghiệp huyện Phú Bình
2. Thực trạng về quá trình đô thị hoá tại huyện
3. Ảnh hưởng của đô thị hóa đến sản xuất nông nghiệp trên địa bàn huyện
Phú Bình
4. Những tác động tích cực và tiêu cực do đô thị hoá mang lại
5. Phương hướng và giải pháp nhằm thúc đẩy nông nghiệp phát triển.

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN Http://www.lrc-tnu.edu.vn

3
3.2.Không gian nghiên cứu
Đề tài nghiên cứu trên địa bàn huyện Phú Bình, tập trung vào 03 xã là
xã Dương Thành, Thanh Ninh, Điềm Thuỵ là các xã có cụm công nghiệp, hệ
thống kênh mương, đường giao thông lớn nhất.
3.3. Thời gian nghiên cứu

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN Http://www.lrc-tnu.edu.vn

4
Chƣơng 1
TỔ NG QUAN TI LIU NGHIÊN CU V
PHƢƠNG PHÁ P NGHIÊN CƢ́ U

1.1.Cơ sở khoa học
1.1.1.Cơ sở lý luận
1.1.1.1. Khái niệm, phân loại và chức năng của đô thị
a. Khái niệm về đô thị

Trong tiếng Việt, có nhiều từ chỉ khái niệm “đô thị”: đô thị, thành phố, thị
trấn, thị xã Các từ đó đều có 2 thành tố: đô, thành, trấn, xã hàm nghĩa chức
năng hành chính; thị, phố có nghĩa là chợ, nơi buôn bán, biểu hiện của phạm
trù hoạt động kinh tế. Hai thành tố này có quan hệ chặt chẽ với nhau và tác động
qua lại trong quá trình phát triển. Như vậy, một tụ điểm dân cư sống phi nông
nghiệp và làm chức năng, nhiệm vụ của một trung tâm hành chính - chính trị -
kinh tế của một khu vực lớn nhỏ, là những tiêu chí cơ bản đầu tiên để định hình
đô thị [11].
Ở Việt Nam, theo nghị định 72/2001/NĐ/CP ngày 5/10/2001 của Chính phủ
quyết định đô thị nước ta là các điểm dân cư có các tiêu chí, tiêu chuẩn sau
[7].
Thứ nhất, là trung tâm tổng hợp hay chuyên ngành, có vai trò thúc đẩy sự
phát triển kinh tế - xã hội của một vùng lãnh thổ nhất định.
Thứ hai, đặc điểm dân cư được coi là đô thị khi có dân số tối thiểu 4000
người trở lên.

Thứ ba, tỷ lệ lao động phi nông nghiệp của nội thành, nội thị từ 65% trở


người (vùng núi có thể thấp hơn), mật độ 8000 người/km
2
.

- Đô thị loại 5: là đô thị loại nhỏ, là trung tâm tổng hợp kinh tế - xã hội,
hoặc trung tâm chuyên ngành sản xuất tiểu thủ công nghiệp có vai trò thúc
đẩy sự phát triển của một huyện. Dân số từ 4 nghìn đến 3 vạn (vùng núi có thể
thấp hơn).
c. Chức năng của đô thị

Tuỳ theo mỗi giai đoạn phát triển mà đô thị có thể có các chức năng

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN Http://www.lrc-tnu.edu.vn

6
khác nhau, nhìn chung có mấy chức năng chủ yếu sau [8].
* Chức năng kinh tế: đây là chức năng chủ yếu của đô thị. Sự phát triển
kinh tế thị trường đã đưa đến xu hướng tập trung sản xuất có lợi hơn là phân tán.
Chính yêu cầu kinh tế ấy đã tập trung các loại hình xí nghiệp thành khu công
nghiệp và cơ sở hạ tầng tương ứng, tạo ra thị trường ngày càng mở rộng và đa
dạng hoá. Tập trung sản xuất kéo theo tập trung dân cư, trước hết là thợ thuyền
và gia đình của họ tạo ra bộ phận chủ yếu của dân cư đô thị.
* Chức năng xã hội: chức năng này ngày càng có phạm vi lớn dần cùng
với tăng quy mô dân cư đô thị. Những nhu cầu về nhà ở, y tế, đi lại là
những vấn đề gắn liền với yêu cầu kinh tế, với cơ chế thị trường. Chức năng
xã hội ngày càng nặng nề không chỉ vì tăng dân số đô thị, mà còn vì chính
những nhu cầu về nhà ở, y tế, đi lại thay đổi.
* Chức năng văn hoá: Ở tất cả các đô thị đều có nhu cầu giáo dục và giải
trí cao. Do đó ở đô thị cần có hệ thống trường học, du lịch, viện bảo tàng, các
trung tâm nghiên cứu khoa học ngày càng có vai trò lớn hơn.

“Đô thị hoá” được hiểu theo chiều rộng là sự phát triển của thành phố và
việc nâng cao vai trò của đô thị trong đời sống của mỗi quốc gia với những
dấu hiệu đặc trưng như: tổng số thành phố và tổng số cư dân đô thị [3]. Theo
khái niệm này thì quá trình ĐTH chính là sự di cư từ nông thôn vào thành thị.
Đó cũng là quá trình gia tăng tỷ lệ dân cư đô thị trong tổng số dân của một quốc
gia.
Tuy nhiên, nếu chỉ hạn chế trong cách tiếp cận nhân khẩu học như trên
thì sẽ không thể nào giải thích được toàn bộ tầm quan trọng và vai trò của
ĐTH cũng như ảnh hưởng của nó tới sự phát triển của xã hội hiện đại. Các
nhà khoa học ngày càng ngả sang cách hiểu ĐTH như một phạm trù kinh tế - xã
hội, phản ánh quá trình chuyển hoá và chuyển dịch chủ yếu sang phương thức
sản xuất và tiêu dùng, lối sống và sinh hoạt mới - phương thức đô thị. Đây là
một quá trình song song với sự phát triển CNH và CM KHCN [11
].Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN Http://www.lrc-tnu.edu.vn

8

Tóm lại, ĐTH là quá trình biến đổi và phân bố các lực lượng sản xuất
trong nền kinh tế quốc dân, bố trí dân cư, hình thành, phát triển các hình thức và
điều kiện sống theo kiểu đô thị đồng thời phát triển đô thị hiện có theo
chiều sâu trên cơ sở HĐH cơ sở vật chất kỹ thuật và tăng quy mô dân số.
* Phân loại quá trình ĐTH:
Quá trình ĐTH diễn ra trên thế giới có thể phân chia thành 2 loại [15]:
- Quá trình ĐTH ở các nước đã phát triển: đặc trưng cho sự phát triển
này là nhân tố chiều sâu và sự tận dụng tối đa những lợi ích, hạn chế những
ảnh hưởng xấu của quá trình ĐTH. ĐTH diễn ra do nhu cầu công nghiệp phát
triển, mang tính tự nhiên.

Trong lịch sử cận đại, ĐTH trước hết là hệ quả trực tiếp của quá trình
công nghiệp hoá TBCN và sau này là kết quả của quá trình cơ cấu lại các nền
kinh tế theo hướng hiện đại hoá: tăng tỷ trọng của các ngành công nghiệp và
dịch vụ, giảm tỷ trọng của ngành nông nghiệp trong cơ cấu và khối lượng GDP.
Nhìn chung, từ góc độ kinh tế, ĐTH là một xu hướng tất yếu của sự phát triển.
Như vậy, ĐTH là một quy luật khách quan, phù hợp với đặc điểm tình hình
chung của mỗi quốc gia và là một quá trình mang tính lịch sử, toàn cầu và
không thể đảo ngược của sự phát triển xã hội. ĐTH là hệ quả của sức mạnh công
nghiệp và trở thành mục tiêu của nền văn minh thế giới.
1.1.1.3.Phát triển nông nghiệp
a. Đặc điểm của sản xuất nông nghiệp
Nông nghiệp là một lĩnh vực rất phong phú. Nông dân sống ở khu vực
nông nghiệp gắn liền với nông thôn, sản xuất gắn liền với thiên nhiên, với môi
trường và gặp nhiều rủi ro, đặc biệt là đối với nước chưa phát triển, khoa học kỹ
thuật còn lạc hậu. Đại bộ phận, xét một cách tổng thể, các nước đang phát triển

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN Http://www.lrc-tnu.edu.vn

10
và kém phát triển có trên 80% dân số và 70% lao động xã hội tập trung ở nông
với sản xuất nông nghiệp là chủ yếu, kỹ thuật canh tác lạc hậu, trình độ lao động
thấp. Người nông ở đây, họ vừa là những người sản xuất vừa là những người tiêu
thụ sản phẩm của chính bản thân họ làm ra. Bởi vậy, tính phối hợp liên ngành
(cung ứng vật tư, chế biến, tiêu thụ sản phẩm) còn ở mức độ thấp, đóng góp từ
khu vực nông nghiệp và thu nhập quốc dân chưa cao và bất ổn định.
b. Vai trò, vị trí của sản xuất nông nghiệp.
Nông nghiệp giữ một vai trò quan trọng trong phát triển kinh tế, đặc biệt
đối với các nước đang phát triển. Bởi vì các nước này đa số người dân sống dựa
vào nghề nông. Để phát triển kinh tế và nâng cao phúc lợi cho nhân dân, Chính
phủ cần có chính sách tác động vào khu vực nông nghiệp nhằm nâng cao năng

quan hệ sản xuất thuộc khu vực kinh tế nông thôn trong những khoảng thời gian
và điều kiện kinh tế xã hội nhất định.
Sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp nói riêng và nông thôn nói
chung đã và đang có sự khởi sắc, sản xuất phát triển đời sống nhân dân được cải
thiện. Mặt khác, việc chuyển dịch cơ cấu ngành, theo vùng, lãnh thổ, theo các
thành phần kinh tế, theo cơ cấu kỹ thuật – công nghệ hướng tới nền sản xuất
hàng hoá và đạt được nhiều tiến bộ đáng kể.
Thế nhưng ở trong phạm vi của từng vùng trong nước thì không hẳn thế.
Do có sự phát triển không đều giữa các vùng trong nước, quá trình đó diễn ra ở
các vùng không giống nhau: ở vùng kinh tế phát triển , quá trình đó diễn ra theo
trình tự chung còn ở vùng kinh tế kém phát triển, quá trình đó có thể bắt đầu từ
việc phá thế độc canh hoá chuyển sang đa canh lúa, màu phát triển chăn nuôi và
bước tiếp theô là phát triển các ngành nghề tiều, thủ công nghiệp và dịch vụ. Xu

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN Http://www.lrc-tnu.edu.vn

12
hướng chung của sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp và nông thôn là: tỷ
trọng nông nghiệp ngày càng giảm và tỷ trọng các ngành công nghiệp, tiểu thủ
công nghiệp và dịch vụ ngày càng tăng.
1.1.1.4. Vai trò của đô thị và đô thị hoá trong quá trình phát triển nông nghiệp
a. Tác động tích cực của đô thị và quá trình đô thị hoá đối với sự phát triển
nông nghiệp
Một là, ĐTH đẩy nhanh sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng CNH,
HĐH. Trong quá trình ĐTH, cơ cấu ngành kinh tế thay đổi theo hướng giảm tỷ
trọng của khu vực nông nghiệp và gia tăng nhanh tỷ trọng của khu vực công
nghiệp và dịch vụ. Đối với sản xuất nông nghiệp nói riêng, ĐTH góp phần làm
thay đổi về cơ cấu diện tích gieo trồng và cơ cấu giá trị sản xuất. Các loại cây có
giá trị kinh tế thấp, sử dụng nhiều lao động đang có xu hướng giảm dần diện
tích. Các loại cây cần ít lao động hơn và cho giá trị kinh tế cao hơn đang được

- Mở rộng diện tích đất đô thị và thu hẹp diện tích đất nông nghiệp. Một
bộ phận nông dân bị mất đất canh tác, mất tư liệu sản xuất chủ yếu, thiếu hoặc
mất việc làm, đời sống gặp nhiều khó khăn.
- Hình thành nhanh chóng các điểm dân cư đô thị lớn, thậm chí cực lớn,
gây mất cân đối trong sự phát triển hệ thống dân cư. Những hộ nông dân bị thu
hồi đất do phát triển công nghiệp và xây dựng các công trình công cộng di cư từ
nông thôn ra thành thị tìm việc làm.
- Gia tăng các tệ nạn xã hội và làm tăng ô nhiễm môi trường mất cân bằng
sinh thái. Tài nguyên đất bị khai thác triệt để cho xây dựng đô thị, làm giảm diện
tích cây xanh và mặt nước, gây ra ngập úng; Tăng cường khai thác nước phục vụ
sinh hoạt, sản xuất, dịch vụ v.v…làm suy thoái tài nguyên nước; gia tăng các
chất thải rắn, lỏng, khí từ sinh hoạt và sản xuất, dịch vụ; nhiều nhà máy, xí
nghiệp gây ô nhiễm mô trường lớn v.v…
- Thay đổi các tập quán, lối sống, phương thức kiếm sống là kết quả tất

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN Http://www.lrc-tnu.edu.vn

14
yếu của quá trình đô thị hoá. Sự thay đổi đó cùng với sự gia tăng số lượng dân cư
và các hình thức quần cư, gia tăng các nhu cầu y tế, giáo dục, giải trí góp phần
làm cho phân hoá giàu nghèo diễn ra nhanh chóng; tỷ lệ thất nghiệp và các vấn
đề xã hội khác (trộm cắp, nghiện hút, mại dâm ) cũng gia tăng.
- Thay đổi hình thái kiến trúc. Tại các vùng nông thôn các nhà mái ngói
truyền thống đang được thay dần bằng các nhà kiểu thành thị.
1.1.2. Kinh nghiệm thực tiễn đô thị hoá trên thế giới và Việt Nam
1.1.2.1. Tình hình đô thị hoá trên thế giới
Đô thị hoá là hiện tượng mang tính toàn cầu và diễn ra với tốc độ ngày một
tăng, đặc biệt là ở các quốc gia kém phát triển. Theo các chuyên gia nghiên cứu
về đô thị hoá thì trong tiến trình đô thị hoá nửa sau thế kỉ 20, các quốc gia kém
phát triển có chung một đặc điểm là: ở giai đoạn đầu, tỉ trọng dân số đô thị trên

Nguồn: World urbanization prospect: 1996, New York 1997 Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN Http://www.lrc-tnu.edu.vn

15
Trong cùng một khoảng thời gian 50 năm từ 1950 - 2000, tỉ lệ dân số đô thị
toàn thế giới là từ 29,7% lên đến 47,4%, khu vực kém phát triển từ 17.8% lên
40,5% trong khi khu vực phát triển là từ 54,99% lên 76,1%.
Hiện tại tỉ lệ đô thị hoá châu Á là 35%, châu Âu là 75%, châu Phi là 45%,
Bắc Mỹ trên 90% và 80% ở Mỹ La tinh. Theo báo cáo của Liên hợp quốc, trong
1/4 thế kỷ tới, việc tăng dân số hầu như sẽ chỉ diễn ra ở các thành phố mà phần
lớn thuộc các nước kém phát triển. Đến năm 2030, hơn 60% dân số thế giới sống
ở các đô thị [8].
1.1.2.2. Kinh nghiệm đô thị hoá ở một số nước trên thế giới
a. Đô thị hoá ở Ấn độ [6]
Là một nước đông dân cư đứng thứ 2 thế giới, chỉ sau Trung Quốc, năm
2000 dân số của Ấn độ đã vượt qua ngưỡng 1 tỷ người và kéo theo nó là nhu cầu
nhà ở cũng rất cao. Ở một số thành phố lớn, vấn đề nhà ở càng trở nên nổi cộm.
Do vậy, việc phát triển nhà để đáp ứng nhu cầu nhà ở Ấn độ nói chung và nhà ở
các đô thị nói riêng trong quá trình đô thị hoá đã được Chính phủ Ấn độ rất quan
tâm. Chương trình phát triển nhà ở để đáp ứng cho nhu cầu đô thị hoá của Ấn độ
được chia theo các kế hoạch 5 năm:
- Kế hoạch lần thứ nhất (1951 - 1956), Ấn độ chủ trương xây dựng các
văn phòng, nhà ở cho các nhân viên Chính phủ và các công chức Nhà nước.
- Kế hoạch lần thứ hai (1956 - 1961), Phạm vi của chương trình nhà ở cho
người nghèo được mở rộng trong phạm vi cho tất cả công nhân.
- Kế hoạch lần thứ ba (1961 - 1966) vạch ra định hướng chung cho
chương trình nhà ở cho nhóm dân cư có thu nhập thấp.
- Kế hoạch lần thứ tư, Sự phát triển đô thị cân đối được coi là ưu tiên hàng

Seoul ngày càng cao.
Từ năm 1971, Chính phủ Hàn Quốc đặt trọng tâm quản lý đô thị ở Seoul
vào việc ngăn không để dân số và diện tích đô thị tăng một cách tự nhiên và đã
quyết định thành lập một vành đai xanh bao quanh thủ đô, có diện tích khoảng
160 km2. Trong phạm vi vành đai xanh, Chính phủ không cho phép xây dựng
các cơ sở công nghiệp và các khu đô thị. Thực tế ở khu vực vành đai xanh, chỉ

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN Http://www.lrc-tnu.edu.vn

17
có các hoạt động dịch vụ và sản xuất nông nghiệp. Từ đó cho đến nay, diện tích
của Seoul cơ bản không tăng, giữ ở mức 605,3 km2. đồng thời với việc lập vành
đai xanh, Chính phủ Hàn Quốc đã quy hoạch và xây dựng tổng cộng 16 khu
công nghiệp và dân cư mới (các thành phố vệ tinh) xung quanh thủ đô. Mỗi
thành phố vệ tinh có khoảng cách tới trung tâm Seoul khoảng 10 - 45 km. Mục
đích xây dựng các thành phố vệ tinh là nhằm thực hiện công nghiệp hoá, giảm
các áp lực tăng dân số ở khu Seoul cũ. Mỗi thành phố vệ tinh được xây dựng đều
là khu đô thị mới, cung cấp chỗ ở và các tiện nghi sinh hoạt có liên quan cho
khoảng 350 nghìn đến 460 nghìn dân; hoặc là khu công nghiệp tập trung với các
nhà máy lọc dầu, hoá chất Là các nhà máy có thể gây ô nhiễm môi trường
trong quá trình xây dựng và hình thành các thành phố vệ tinh, Chính phủ Hàn
Quốc luôn đóng vai trò chủ đạo, làm chủ đầu tư. Hai thành phố vệ tinh đầu tiên
được xây dựng năm 1960 là khu công nghiệp hoá dầu Ulsan và khu dân cư
Seong Nam. Tiếp theo, vào đầu năm 1970, với chính sách ưu tiên phát triển công
nghiệp nặng và hoá chất, Chính phủ Hàn Quốc đã cho xây dựng một số tổ hợp
công nghiệp lớn, có các khu dân đi theo như Chang won, Yeocheon và Kumi,
đến cuối năm 1970 là thành phố vệ tinh Ascal. Cùng với việc xây dựng các thành
phố vệ tinh này, Chính phủ Hàn Quốc đã dời các nhà máy thuộc hai lĩnh vực kể
trên cùng toàn bộ lao động và gia đình của họ ra khỏi nội thành, giảm được mật
độ dân số và giải quyết được nạn ô nhiễm môi trường có thể có bên trong thủ đô.

mà chiếm tới gần 50% dân số toàn quốc. Còn hiện nay số cư dân sống ở đô thị
của Nhật Bản đã chiếm tới khoảng 80% dân số. Cùng với sự phát triển mạnh mẽ
về quy mô, thì số lượng các thành phố cũng tăng. Năm 1957, Nhật Bản mới có
501, thì năm 1987 con số này lên tới 625 thành phố. Về tổng thể, sự phát triển
nhanh chóng của các thành phố Nhật Bản theo mô hình gia tăng dân số, hoàn bị
và phát triển lại các khu vực đô thị vốn có. Nhưng nhìn chung, sự phát triển này
nghiêng về phái thành phố ra đời từ những khu vực trước kia là nông thôn - ở đó
sự thâm nhập đô thị vào nông thôn diễn ra một cách nhanh chóng.

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN Http://www.lrc-tnu.edu.vn

19
1.1.2.3. Quá trình đô thị hoá ở Việt Nam
Quá trình đô thị hoá ở Việt Nam được chia ra thành các giai đoạn phát
triển như sau:
- Trước năm 1954: đô thị Việt Nam đóng vai trò trung tâm hành chính,
giao lưu thương mại phục vụ cho sự cai trị của bọn thực dân; sản xuất công
nghiệp nhỏ bé. Những thành phố nổi tiếng thời phong kiến: Hà Nội, Phố cổ Hội
An, Thành Gia định.
- Thời kỳ 1955 – 1965, quá trình đô thị hoá đã diễn ra hai xu hướng khác
nhau: xu hướng đô thị hoá nhằm nâng cao đời sống nông thôn và thành thị kết
hợp với công nghiệp hoá và phát triển giáo dục và y tế toàn dân. đó là thời kỳ 10
năm đô thị hoá xã hội chủ nghĩa ở miền Bắc (1955 – 1965). Ngược lại ở miền
Nam Việt Nam đã diễn ra xu hướng đô thị hoá nhằm phục vụ cho nhu cầu sinh
hoạt của quân đội Mỹ và tầng lớp thị dân trong vùng Mỹ chiếm đóng, lấy mục
tiêu quân sự để thiết lập hệ thống phường, xã nội đô, vùng ven và ngoại ô, thi
hành chính sách di dân ép buộc trong quá trình đô thị hoá, dùng bom đạn tàn phá
nhiều vùng nông thôn để tạo ra áp lực di dân cơ học vào đô thị. đó là thời kỳ 10
năm đô thị hoá cưỡng bức ở miền Nam Việt Nam.
- Từ năm 1965 đến khi đất nước hoàn toàn được giải phóng vào ngày

ương, 82 thành phố, thị xã trực thuộc tỉnh và 565 thị trấn. Dân số đô thị năm
1990 chỉ khoảng 13 triệu người, chiếm chưa đến 20% tổng dân số thì năm 2002
đạt khoảng 20,2 triệu người, chiếm 25,4% tổng dân số. Tăng dân số đô thị 0,5
triệu người/năm (4,2%/năm). Ở đồng bằng ven biển, năm 1990 bình quân
khoảng 900 km2 diện tích tự nhiên có 1 đô thị, đến năm 1998 đạt khoảng 700
km2 có một đô thị. Ở Trung du và miền núi năm 1990 cứ 1200 km2 có 1 đô thị,
đến năm 1999 là 1000km2 có 1 đô thị [5]. đặc biệt từ năm 2000 đến nay, đô thị
hoá ở nước ta đã diễn ra với tốc độ nhanh. Tính đến 31/12/2004, cả nước có 25
thành phố trực thuộc tỉnh, 42 quận, 59 thị xã, 536 huyện, 1.181 phường, 583 thị
trấn, 9.012 xã. đến cuối năm 2005, cả nước có 679 đô thị, tăng gấp 1,4 lần so với

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN Http://www.lrc-tnu.edu.vn

21
năm 1990, trong đó có 5 thành phố trực thuộc Trung ương, 87 thành phố trực
thuộc tỉnh, 587 thị trấn. Hệ thống đô thị của ta rải đều trên khắp lãnh thổ với đủ
các loại hình: đô thị công nghiệp, đô thị cảng, đô thị hành chính, đô thị du lịch,
đô thị tổng hợp. Tuy nhiên, nhìn chung quy mô các đô thị còn nhỏ bé, cơ sở hạ
tầng còn nhiều bất cập. Theo dự tính của Chính phủ trong Quyết định phê duyệt
định hướng quy hoạch đô thị Việt Nam đến năm 2020 (Quyết định số 10 ngày
23/1/1998), dân số đô thị năm 2010 là 30,4 triệu người (chiếm 33% dân số cả
nước) và năm 2020 dân số đô thị là 46 triệu người (chiếm 45% dân số chung).
Diện tích đô thị từ 0,2% trong tổng diện tích cả nước năm 1998 sẽ tăng lên
0,35% năm 2000, dự tính năm 2010 sẽ là 0,74% và năm 2020 diện tích đô thị cả
nước sẽ là 460.000 ha, chiếm 1/4 diện tích tự nhiên cả nước. Dân số chung Việt
Nam năm 2020 sẽ là 103 triệu người, dân số đô thị là 46 triệu người (chiếm 45%
dân số cả nước), bình quân hàng năm tăng 1,56 triệu người dân cư đô thị [5].
Trên thực tế, hệ thống đô thị Việt Nam vào thời điểm năm 1998 mới có
trên 630 đô thị, nhưng đến nay đã có trên 730 đô thị. Như vậy, sau 10 năm tăng
thêm 100 đô thị, tức là trung bình 1 năm tăng thêm 10 đô thị, một tháng có một

3.537 lao động nông – ngư nghiệp) nằm trong diện tích bị thu hồi đất sản xuất,
di dời giải toả giai đoạn 2000 – 2003 có khó khăn về việc làm cho thấy tình trạng
việc làm của lao động có các dạng: đã ổn định việc làm chiếm 52,22%, có việc
làm không ổn định chiếm 17,07%, không có nhu cầu việc làm 7,03% và chưa có
việc làm 23,68%. Trong số lao động chưa có việc làm thì tỷ lệ có nhu cầu học
nghề là 45,46%. Về tình trạng việc làm của số lao động nông, lâm, ngư nghiệp
có sự thay đổi như sau: giữ nguyên nghề cũ 30,05%, chuyển sang nghề khác
18,94%, có việc làm không ổn định 16,17%, không có việc làm 34,84%.
Trong số lao động không có việc làm làm này có 874 người có nhu cầu học nghề
chiếm 71%, 358 người không đủ điều kiện học nghề chiếm 29% [6].
Trên cơ sở kết quả điều tra ở trên, ngoài chính sách đền bù, bố trí tái định
cư, trong thời gian qua UBND thành phố đà Nẵng đã chỉ đạo các ngành, địa


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status