Ứng dụng kỹ thuật hạt nhân nhằm nâng cao hàm lượng artemisinin ở cây thanh hao hoa vàng bằng phương pháp chiếu xạ gây đột biến - Pdf 20

Số hóa bởi Trung tâm Học Liệu – Đại học Thái Nguyên BỘ GIÁO DỤC ĐÀO TẠO
VIỆN KHOA HỌC
CÔNG NGHỆ VIỆT NAM
VIỆN SINH THÁI VÀ TÀI NGUYÊN SINH VẬT
………… o0o…………
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC Tên đề tài:
Ứng dụng kỹ thuật hạt nhân nhằm nâng cao hàm lượng
Artemisinin ở cây thanh hao hoa vàng bằng phương pháp
chiếu xạ gây đột biến

Chuyên ngành : Sinh học thực nghiệm
Mã số : 60 42 30
Năm bảo vệ : 2010
Học viên : Lê Trung Kiên
Cán bộ hướng dẫn: PGS. TS Lê Huy Hàm
Ths. Đào Thanh Bằng


Chuyên ngành : Sinh học thực nghiệm
Mã số : 60 42 30
Năm bảo vệ : 2010
Học viên : Lê Trung Kiên
Cán bộ hướng dẫn: PGS. TS Lê Huy Hàm
Ths. Đào Thanh Bằng Hà Nội, 12/2010
Số hóa bởi Trung tâm Học Liệu – Đại học Thái Nguyên

MỤC LỤC Trang
MỞ ĐẦU
1
PHẦN I. TỔNG QUAN TÀI LIỆU
3
I. NGUỒN GỐC, PHÂN BỐ VÀ ĐẶC ĐIỂM THỰC VẬT HỌC
3
1.1. Nguồn gốc, phân bố
3
1.2. Đặc điểm thực vật học.
4
1.2.1. Rễ cây Thanh hao

19
Kết hợp nghiên cứu đột biến với nghiên cứu sinh học phân tử

20
Số hóa bởi Trung tâm Học Liệu – Đại học Thái Nguyên IV. CƠ SỞ KHOA HỌC ĐỂ XÁC ĐỊNH LIỀU BỨC XẠ CHO VIỆC
CHIẾU XẠ CÂY THANH HAO.
21
4.1. Chiếu xạ hạt khô
21
4.2. Chiếu xạ callus
22
PHẦN II. VẬT LIỆU VÀ PHƢƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
I. VẬT LIỆU NGHIÊN CỨU
23
1.1. Chiếu xạ hạt:
23
1.2. Chiếu xạ callus:
23
II. NỘI DUNG NGHIÊN CỨU
23
III. PHƢƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
24
3.1. Phƣơng pháp bố trí thí nghiệm
24
3.2. Chỉ tiêu theo dõi
24
PHẦN III. KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU

2.3. Phân tích hàm lƣợng Artemisinin ở cây thế hệ M2
43
III. THẾ HỆ M3 (2008)
45
3.1. Tình hình sinh trƣởng của cây Thanh hao thế hệ M3
45
3.2. Phân tích hàm lƣợng Artemisinin
46
IV. Thế hệ M4 (2009)
50
4.1. Kết quả đánh giá tỷ lệ nẩy mầm của các dòng triển vọng.
50
4.2. Thời gian nảy mầm, tuổi cây con, thời gian từ trồng đến bén rễ hồi xanh
51
4.3. Đánh giá khả năng sinh trƣởng của các dòng triển vọng thế hệ M4
52
4.4. Phân tích hàm lƣợng Artemisinin
53
4.5. Đánh giá năng suất của các dòng có triển vọng
56
V. Thế hệ M5 (2010)
57
5.1. Xây dựng quy trình thâm canh cho dòng thanh hao triển vọng
57
5.1.1. Mục tiêu nghiên cứu
57
5.1.2. Vật liệu nghiên cứu
57
5.1.3. Nội dung nghiên cứu.
57

hàng năm giết chết gần 2 triệu người và gần 270 triệu người khác mắc bệnh.
Nguyên nhân là do các chủng ký sinh trùng gây bệnh đã dần trở nên kháng các loại
thuốc trước đây. Theo thông báo của WHO sau một thời gian dài sử dụng các thuốc
điều trị bệnh sốt rét như Quinin, Chloroquin, Mefloquin,…đến nay ký sinh trùng
sốt rét đã kháng hầu hết các loại thuốc trên. Có 15 nước Đông Nam Á và Tây Thái
Bình Dương (Trong đó có Việt Nam), 10 nước Nam Mỹ, 15 nước Châu Phi và
Nam Sahara bệnh sốt rét phát triển mạnh nhất.
Năm 1979 các nhà khoa học Trung Quốc đã tìm ra hoạt chất Quing-hao-su
(Artemisinin) từ cây Qing-hao (Thanh hao) có khả năng điều trị bệnh sốt rét (Đỗ
Tất Lợi, Những cây thuốc và vị thuốc Việt Nam, 2004). Cây hoa thanh hao hoa
vàng có tên khoa học là Artemisia annua L., cây sống lâu năm, mọc hoang dại
thành từng đám ở vùng đồi núi, ven sông suối. Năm 1990 nước ta đã chiết xuất từ
lá thanh hao chất Artemisinin trên quy mô công nghiệp.
Trong những năm gần đây, ở Việt Nam cây thanh hao đang được phát triển
mạnh. Song vấn đề đặt ra cần phải giải quyết là thời gian chiếm dụng đất của nó
quá dài so với cây trồng nông nghiệp khác, giống thanh hao trồng chủ yếu là các
giống tự nhiên có hàm lượng Artemisinin thấp. Do vậy, việc chọn tạo, cải tiến
giống thanh hao có hàm lượng hoạt chất Artemisinin cao nhằm giảm diện tích đất
trồng nhưng vẫn cung cấp đủ lượng Artemisinin tự nhiên cần thiết cho ngành Dược
là nhiệm vụ cần phải giải quyết của các nhà chọn tạo giống cây trồng.
Gây đột biến là phương pháp hữu hiệu để tạo vật liệu khởi đầu đa dạng và
hữu ích cho chọn giống trong nông nghiệp. Tính đến tới tháng 7 - 2006 đã có 2428
giống cây trồng được tạo ra bằng phương pháp gây đột biến thực nghiệm. Tuy
nhiên cho đến nay, vẫn chưa có một công bố nào về cải tiến giống cây dược liệu
bằng phương pháp gây đột biến.
Lª Trung Kiªn Khãa 11
Số hóa bởi Trung tâm Học Liệu – Đại học Thái Nguyên

2
Viện Di truyền nông nghiệp là một viện nghiên cứu chuyên sâu trong lĩnh
Chiếu xạ hạt, liều 10 Kr
Chiếu xạ callus liều 3Kr
Quần thể M3: chọn các cá thể M3-1, M3-2,
M3-3……. Có hàm lƣợng artemisinin cao
Quần thể M4: chọn các cá thể M4-1, M4-2,
M4-3…… có hàm lƣợng artemisinin cao và
đặc tính nông học tốt
Thế hệ M5: dòng triển vọng phát
triển từ cá thể M4-9, M4-28
2006
2007
2008
2009
2010
Quần thể M2
Thế hệ M1
Thí nghiệm mật độ, thời vụ, phân
bón
Khảo nghiệm sinh thái

Rễ thanh hao thuộc loại rễ cọc, rễ chính to và dài hơn các rễ phụ khác nhưng
phát triển không cân đối với phần trên mặt đất.
Giai đoạn từ mọc mầm đến trước khi cây phân nhánh rễ thanh hao hầu như
chỉ có một rễ chính. Khi rễ chính kéo dài được khoảng 10 - 15 cm thì rễ bên phát
triển. Trung bình mỗi cây thanh hao có từ 150 - 170 rễ. Rễ thanh hao phân bố tập
trung ở tầng đất từ 30 - 40 cm, rất ít ra rễ sâu tới 50cm. Do vậy thanh hao chịu hạn
kém, dễ bị nghiêng, đổ khi gặp gió bão (Nguyễn Văn Thuận, 2001)[1].
1.2.2. Thân cây Thanh hao
Thanh hao là cây thân thảo, hoá gỗ. Thời gian sinh trưởng từ khi hạt nảy
mầm đến khi cây bắt đầu ra nụ là cây thân thảo. Thời gian phát triển từ lúc cây hình
thành nụ, nở hoa, thụ phấn, đậu hạt cho đến lúc hạt chín là cây thân gỗ. Cây cao
trung bình từ 1,5 đến 3,0 m. Cây gồm 1 thân chính và rất nhiều cành cấp I, cấp II,
cấp III. Thân cây có hình trụ nhưng phần vỏ cây lại có nhiều đường gờ và rãnh
chạy dọc thân nên nhìn bề ngoài cây có hình đa giác. Lớp vỏ ngoài của thân cây ở
thời kỳ sinh trưởng có độ dày chiếm khoảng 25% - 35% đường kính thân cây. Khi
cây chuyển sang thời kỳ phát triển, lớp vỏ mỏng dần và cuối cùng chỉ còn là lớp vỏ
rất mỏng bọc bên ngoài thân cây, lớp vỏ này có thể tạo thành sợi xơ, khá bền chắc.
Theo sự mỏng dần, xơ hoá của lớp vỏ, phần gỗ của lõi cây càng to dần và hoá gỗ
cứng chắc. Đến cuối thời kỳ phát triển cây thanh hao đã trở thành hoá gỗ hoàn toàn.
Thông thường mỗi cây có từ 20 - 120 cành cấp I, 240 - 250 cành cấp II. Cành phân
bố đều ra bốn phía. Trên thân chính, cành cấp I, cành cấp II và cấp III đều mang lá.
Thân cây Thanh hao thường có màu xanh, tím nhạt đến tím thẫm. Tỷ lệ cây
màu xanh thường chiếm trên 80% quần thể. Dạng thân màu tím thường có thời gian
sinh trưởng ngắn hơn, năng suất lá xanh thấp hơn còn hàm lượng Artemisinin là
tương đương. Khả năng chống chịu sâu bệnh, đổ lốp thì cây thân tím hơn hẳn cây
thân xanh (Nguyễn Văn Thuận, 2001)[1].
Lª Trung Kiªn Khãa 11
Số hóa bởi Trung tâm Học Liệu – Đại học Thái Nguyên

5


6
dưới đã kết hạt chín đầy đủ thì các hoa ở cành trên ngọn hạt mới chỉ vào thời kỳ chín
sữa. Do vậy chọn thời điểm thu hoạch hạt giống thanh hao là rất quan trọng và thường
phải kéo dài một thời gian tuỳ từng giống.
Hoa Thanh hao dài từ 0,8mm đến 1,2mm, khoảng 25 đến 35 hoa hợp thành 1
cụm hoa, mỗi cụm hoa có từ 5 đến 8 hoa cái sắp xếp ở vòng ngoài còn 20 đến 25
hoa sắp xếp ở giữa. Mỗi cụm hoa có đường kính từ 2mm đến 2,5mm hình đầu, nằm
trong một tổng bao gồm 6 đến 8 lá bắc hình bầu dục. Có 5 đến 8 hoa cái là hữu thụ
còn số hoa lưỡng tính hầu như bất thụ.
Thanh hao có phương thức thụ phấn chéo không hoàn toàn và thụ phấn nhờ
gió (Nguyễn Văn Thuận, 2001) [1].
Hình 2. Hoa Thanh hao
1.2.5. Hạt cây Thanh hao
Hạt thanh hao rất nhỏ màu xám tro. Quả bế hình trứng, dài từ 0,7 - 1mm,
chiều dài thường gấp đôi chiều rộng, có mỏ nhọn. Vỏ hạt có xẻ các rãnh chạy dọc
hạt, có khi song song nhưng đa số các rãnh sâu tạo sần sùi cho vỏ hạt như những
đường gấp. Khối lượng 1000 hạt khoảng từ 24 - 27 mg.
Hạt thanh hao nảy mầm tốt nhất ở nhiệt độ từ 18 - 20
0
C. Dưới 15
0
C hoặc trên
25
0
C nảy mầm chậm (Nguyễn Văn Thuận, 2001) [1].
Lª Trung Kiªn Khãa 11
Số hóa bởi Trung tâm Học Liệu – Đại học Thái Nguyên

7

Indiana cho năng suất lá xanh và hàm lượng Artemisinin trong lá cao nhất. Bất cứ
trồng vào thời điểm nào cây thanh hao cũng bắt đầu ra hoa vào giữa tháng 8 (trích
theo Nguyễn Văn Thuận, 2001)[1].
Ở Việt Nam thời vụ gieo hạt thích hợp là 15/1 - 25/1 hàng năm (Nguyễn Văn
Thuận, 2001) [1].
Thí nghiệm so sánh thanh hao trồng trên nền đất có hàm lượng các nguyên tố
vi lượng (Fe, Mn, Cu, Zn, và B) thấp với thanh hao trồng trên đất có hàm lượng các
nguyên tố vi lượng này cao cho thấy: chiều cao cây, khối lượng tươi, hàm lượng
Artemisinin của thanh hao trên đất có hàm lượng các nguyên tố vi lượng cao đều
cao hơn so với trồng ở đất có hàm lượng các nguyên tố vi lượng thấp (trích theo J.
Lª Trung Kiªn Khãa 11
Số hóa bởi Trung tâm Học Liệu – Đại học Thái Nguyên

8
F. S. Ferreira et al., 2005)[12].
Sử dụng 50mg/l GA3 làm tăng hàm lượng Artemisinin từ 0,77 lên 1,10 mg/g,
kinetin (10 và 20 mg/l) làm tăng năng suất lá (Farooqi et al., 1996). Zhang và cộng
sự thông báo rằng 14 µM GA3 làm tăng hàm lượng Artemisinin từ 0,14 lên 0,64%
dùng khi cây 74 ngày tuổi (trích theo J. F. S. Ferreira et al., 2005)[12].
Hình 3: Hình ảnh về kỹ thuật trồng và nhân giống Thanh hao trên thế giới

Thanh hao trồng ở Châu Phi Thanh hao trồng ở Châu Âu

Nhân giống vô tính ở Châu Phi
Gieo hạt trên khay xốp ở Braxin

2.2. Nghiên cứu chọn giống Thanh hao

hơn hẳn giống cũ chưa chọn lọc, đặc biệt ở 2 chỉ tiêu quan trọng: năng suất lá tăng
29% và hàm lượng Artemisinin tăng 10% (Nguyễn Văn Thuận, năm 2001)[6].
Lª Trung Kiªn Khãa 11
Số hóa bởi Trung tâm Học Liệu – Đại học Thái Nguyên

10
Hàm lượng Artemisinin trong cây thanh hao luôn có tương quan thuận với
tuổi cây. Vì thế, phương pháp tốt nhất để xác định cây có hàm lượng Artemisinin
cao từ đó sử dụng cho công tác chọn giống là phải phân tích tỉ lệ hoạt chất trong
cây vào các giai đoạn cây thanh hao chuẩn bị kết thúc thời kỳ sinh trưởng trước lúc
ra hoa trên ruộng thí nghiệm trồng cây thanh hao (trích theo Nguyễn Văn Thuận,
2001)[1].
Một phương pháp vi nhân giống thanh hao bằng sử dụng công nghệ nuôi cấy
mô để tạo ra các dòng vô tính từ các cây thanh hao trồng ở đồng ruộng. Quan sát
quần thể thanh hao mọc ngoài đồng, chọn những cây có các dòng vô tính đã được
đánh giá. Hàm lượng Artemisinin cao thường có ở những cây cao to, tán mở, đốt
thân dài, lá nhiều và dày. Nhưng khi đưa các dòng vô tính có hàm lượng
Artemisinin cao, sử dụng lá làm nguyên liệu nuôi cấy thì hàm lượng Artemisinin và
các tiền chất chưa được phát hiện (trích theo Nguyễn Văn Thuận, 2001)[1].
Trong các thí nghiệm nuôi cấy đối với các bộ phận khác nhau của cây thanh
hao đã có khoảng 0,1% Artemisinin hình thành trong mô sẹo ban đầu, còn trong các
tế bào nuôi cấy gián đoạn Artemisinin chỉ có một lượng không đáng kể và trong
mầm chồi cấy chuyển Artemisinin cũng chỉ tồn tại như các vết (trích theo Ngyễn
Văn Thuận, 2001)[1].
Công nghệ sinh học (nuôi cấy để lấy hoạt chất Artemisinin hoặc nuôi cấy để
lấy cây con giúp các nhà chọn giống và nông nghiệp) đối với cây thanh hao là cần
thiết. Tuy nhiên, hàm lượng Artemisinin trong các bộ phận mà công nghệ sinh hoc
tạo ra đối với cây thanh hao còn quá thấp, không đáp ứng được mục đích sản xuất
sản phẩm hàng hoá thuốc chữa bệnh - Artemisinin. Các mầm, chồi hoặc cây con
sau khi thuần hoá, trồng trọt có thể trở thành các dòng vô tính có hàm lượng

nhau (cây từ Italia có hàm lượng Artemisinin là 0,04%, Nam Tư - 0,16%, Trung
Quốc - 1,08%, Tây Ban Nha - 0,22%, Pháp - 0,12%, Hà Lan - 0,07%) khi đem
trồng tại Conthey Thụy Sỹ.( Heinrich Koch,1981) [16].
Lá, nụ chồi, nụ hoa và các cành con đều có chứa Artemisinin, tuy nhiên hàm
lượng Artemisinin có trong lá là cao nhất đạt từ 0,2 - 0,4 %.Trong khi đó ở các bộ
Lª Trung Kiªn Khãa 11
Số hóa bởi Trung tâm Học Liệu – Đại học Thái Nguyên

12
phận khác như rễ, thân chính hoặc các cành to đã hoá gỗ thì tỷ lệ Artemisinin là rất
thấp hoặc hầu như là không có (Herman J.Woerdenbag et al.,1994) [17].
Các thời kỳ sinh trưởng khác nhau của cây thanh hao được sử dụng như yếu
tố thí nghiệm để xác định sự thay đổi năng suất lá xanh. Mức độ tích luỹ hoạt chất
Artemisinin trong lá thanh hao đã được thiết lập tại Lucknow Ấn Độ trong năm
1986. Cây thanh hao được thu hoạch tại các thời điểm 2/2; 16/2 lúc cây đang thời
kỳ sinh trưởng; 24/2 - cây bắt đầu ra hoa; 14/3 - thời kỳ cây đã có 50% ra hoa và
24/3 lúc cây có hoa 100%. Kết quả cho thấy hàm lượng Artemisinin trong lá thanh
hao cao nhất vào thời điểm cây có 50% hoa, thậm chí cao gấp 4 - 5 lần so với thời
kỳ cây còn trong giai đoạn sinh trưởng (trích theo Nguyễn Văn Thuận, 2001) [1].
Hàm lượng Artemisinin trong lá thanh hao trồng và mọc hoang ở các tỉnh
phía Bắc có hàm lượng Artemisinin cao nhất vào trước lúc cây có nụ. Đây là thời
điểm thu hái lá thanh hao thích hợp nhất cho chiết suất Artemisinin (Nguyễn Gia
Chấn, Bùi Thị Bằng, 2001) [1].
Hàm lượng Artemisinin tăng dần từ có vết đến 0,68% vào cuối tháng 6. Từ
đầu tháng 7 cây thanh hao bắt đầu sinh trưởng chậm lại, tốc độ ra lá, bề mặt phiến
lá cũng hẹp dần nhưng hàm lượng Artemisinin lại cao nhất cho đến trước khi xuất
hiện nụ (khoảng từ 15/7 - 15/8), lúc này hàm lượng Artemisinin trong lá thanh hao
đã đạt từ 0,8 - 1,01%. Sau khi ra nụ, nở hoa và kết quả thì hàm lượng Artemisinin
trong cây thanh hao giảm dần, đến khi hạt chín hàm lượng chỉ còn 0,29 - 0,35%
(trích theo Nguyễn Văn Thuận, 2001)[1].

nhiên quá trình này diễn ra chậm chạp có khi tới hàng nghìn, hàng vạn năm mới có
được đột biến. Những đột biến đó là những khởi đầu và là động lực cho sự tiến hóa.
Đột biến thường có hại cho bản thân sinh vật, thậm trí gây chết, chỉ một phần rất
nhỏ là những đột biến có lợi sẽ tồn tại qua quá trình chọn lọc. Quá trình tích lũy các
đột biến sẽ giúp hình thành nên giống, loài mới. Đột biến nhân tạo là những đột
biến do con người tạo ra, sử dụng các tác nhân gây đột biến làm tăng tốc độ của
quá trình tạo đột biến và phổ đột biến nhằm cải tiến những giống đang tồn tại trong
sản xuất theo hướng có lợi cho con người.

3.2. Tình hình nghiên cứu chọn giống đột biến trên thế giới.
Lª Trung Kiªn Khãa 11
Số hóa bởi Trung tâm Học Liệu – Đại học Thái Nguyên

14
Từ lâu, gây đột biến thực nghiệm để làm vật liệu khởi đầu cho chọn giống đã
được coi là một trong những kỹ thuật ứng dụng cao trong nông nghiệp. Phương
pháp này đã được biết đến từ năm 1925 khi Natxon và Philippôp phát hiện rằng tia
Roentgen có khả năng gây ra biến dị di truyền ở Nấm Hạ Đẳng. Từ năm 1926 -
1927, di truyền học phóng xạ làm nền tảng cho sự ra đời ngành chọn giống đột biến
phóng xạ. Ngay từ những năm 1970, Cơ quan năng lượng nguyên tử quốc tế
(IAEA) và Tổ chức nông lương thế giới (FAO) đã tài trợ mở rộng hướng nghiên
cứu gây đột biến cải tạo những giống cây nông nghiệp và cây công nghiệp nhiều
nước trên thế giới nhằm tạo ra hàng loạt giống mới như: lúa, lúa mỳ, lúa mạch, táo,
chanh, mía, chuối và những loại cây trồng khác. Cho tới năm 2010 (FAO/IAEA
Mutant Varieties Database) [19], trên 3088 giống cây trồng đã được tạo ra bằng gây
đột biến thực nghiệm trên phạm vi 60 nước. Việc ứng dụng kỹ thuật hạt nhân để cải
tiến cây trồng đã mang lại hiệu quả cực kỳ to lớn về kinh tế nông nghiệp. Ước tính
hàng tỷ đô la và hàng trăm triệu hecta gieo trồng bằng những giống cây trồng được
tạo ra từ đột biến.
Biểu đồ 1: Số lƣợng giống cây trồng đột biến đƣợc tạo ra qua các năm

638
222
125
7
42
54
67
121
India
272
40
4
14
0
0
103
111
Japan
233
70
4
8
0
20
80
51
Nga
214
6
36

28
61 Biểu đồ 2: Các loại tác nhân gây đột biến
Trong các loại tác nhân gây đột biến nhằm cải tạo giống cây trồng thì tia
gamma được sử dụng nhiều nhất 60,3% sau đó đến các loại khác như nuôi cấy mô
tế bào, tia X, hoá chất, tia ion và các tác nhân khác. Tia ion là một loại ứng dụng
mới chỉ ứng dụng trong vòng 15 năm trở lại đây. Ở viện cải tiến nghiên cứu phóng
xạ Takasaki Nhật Bản, sử dụng các tia ion gây đột biến đã tạo được 15 giống mới
trong số 20 giống đã đăng ký trên thế giới.
Tissue culture
15.7%
X-ray 9.5%
Chemical 6.6%
Gamma rays
60.3%
Ion beam
5.8%
Others 2.1%
Lª Trung Kiªn Khãa 11
Số hóa bởi Trung tâm Học Liệu – Đại học Thái Nguyên

16
3.3. Tình hình nghiên cứu chọn giống đột biến trong nƣớc.
Viện Di truyền nông nghiệp là một viện nghiên cứu chuyên sâu trong lĩnh vực
di truyền, chọn giống và công nghệ sinh học thuộc Bộ Nông nghiệp và Phát triển
Nông thôn. Có thể nói viện là cơ quan đầu mối quan trọng nhất ở nước ta trong
việc ứng dụng kỹ thuật hạt nhân để cải tiến giống cây trồng nông nghiệp. Tính đến
năm 2007, viện đã tạo ra nhiều dòng, giống cây trồng mới thông qua gây đột biến

1. Bộ Nông nghiệp và PTNT bao gồm: Viện Di truyền Nông nghiệp, Viện
khoa học Nông nghiệp Miền Nam, Trường Đại học Nông lâm - Thành phố HCM,
Viện nghiên cứu lúa Đồng bằng sông Cửu Long và Trường đại học Cần thơ.
2. Bộ Khoa học và Công nghệ bao gồm: Viện Năng lượng nguyên tử Việt
nam, Viện nghiên cứu hạt nhân Đà lạt, Trung tâm chiếu xạ Đà lạt và Trung tâm
chiếu xạ thành phố HCM.
3. Bộ Giáo dục và đào tạo: Trường ĐH Nông nghiệp Hà Nội, Trường ĐH Sư
phạm Hà Nội
Cho đến thời điểm hiện nay, phần lớn các giống cây trồng được tạo ra thông
qua chiếu xạ chỉ một vài trường hợp là được xử lý bằng hoá chất và kết hợp giữa
chiếu xạ và xử lý hoá chất. Theo các kết quả công bố của (FAO/IAEA mutant
varieties database, 2003) thì các tác nhân gây đột biến được dùng chủ yếu là chiếu
xạ và hoá chất, trong đó chiếu xạ chiếm đến 88,8%, còn các tác nhân hoá chất chỉ
chiếm 9,5%; ngoài ra các tác nhân khác chiếm 1,7% tổng số các giống đột biến. Ở
phía bắc Việt nam, phần lớn các giống được tạo ra do xử lý hoá chất đều được thực
hiện trước những năm 1990, khi chưa có trung tâm chiếu xạ Cầu Diễn. Sau đó, do
tính tiện lợi và an toàn, các nhà chọn giống đều lựa chọn theo phương án đưa mẫu
đi chiếu xạ rồi sàng lọc và đánh giá chọn lọc trực tiếp hoặc gián tiếp tạo thành
giống như kết quả chỉ ra ở bảng 2. Một số dòng đột biến có triển vọng được sử
dụng như nguồn vật liệu ban đầu cho các phép lai như trường hợp của giống lúa
A20, DT22, giống ngô DT8. Phần lớn các giống đột biến được tạo ra bằng chọn lọc
trực tiếp từ các dòng đột biến triển vọng từ các thế hệ M2 trở đi, chọn ra những
dòng có những tính trạng tốt hơn giống gốc về một số đặc tính nông học như năng
suất, chất lượng 76,2% và 23,8% giống trực tiếp và gián tiếp (bảng 2).
Lª Trung Kiªn Khãa 11
Số hóa bởi Trung tâm Học Liệu – Đại học Thái Nguyên

18
Bảng 2: Nguồn gốc của một số giống đột biến
Loại cây trồng

+

DT38
+

Khang dân đột biến
+

Tám thơm đột biến
+

DT22

+
Ngô
DT6
+

DT8

+
Đậu tƣơng
DT84
+

AK06 (DT55)
+

DT90
+

19
Đột biến là những thay đổi trong cấu trúc của AND. Biểu hiện của đột biến
về mặt tế bào học thường là đảo đoạn, chuyển đoạn, đứt đoạn nhiễm sắc thể dẫn
đến thay đổi một số tính trạng so với giống gốc. Ưu điểm của phương pháp chọn
giống đột biến là chỉ thay đổi một hoặc một vài tính trạng của cây trồng mà không
làm thay đổi toàn bộ hệ genome. Tần số đột biến tự phát thường được sinh ra trong
tự nhiên là rất thấp trong một thế hệ không quá 10
-5
- 10
-8
trong mỗi gen hoặc trong
mỗi locus. Một tế bào thực vật có thể chứa tới 100.000 gen hoặc hơn, do đó ta có
thể hình dung ra tần số đột biến tự phát thấp như thế nào, và hơn nữa chúng thường
gây chết. Gây đột biến nhân tạo bằng những tác nhân vật lý và hoá học đã tỏ ra có
nhiều ưu điểm trong việc làm tăng tần số đột biến lên từ 100 thậm chí 1000 lần và
phổ đột biến rộng tạo ra những giống vật nuôi, cây trồng có đặc tính nông học quý.
Những tính trạng được cải tạo thông qua đột biến thường là năng suất, giảm chiều
cao, chống chịu, sâu, bệnh (đối với lúa: DT10, DT11, ); phá vỡ tính cảm quang
(tám thơm đột biến, DT21); chất lượng (ở lúa CM6); Chịu stress của môi trường (ở
lúa CM1, ở đậu tương DT96 chịu nóng, chịu hạn), có đột biến thay đổi màu sắc của
hạt gạo làm tăng tính thương phẩm trên thị trường như trường hợp giống lúa chiêm
bầu địa phương hạt gạo đỏ, năng suất thấp, ở giống đột biến CM1 và CM6 hạt gạo
chuyển sang màu trắng làm tăng giá trị thương phẩm. Hoặc ở đậu tương giống đột
biến DT90 hạt chuyển từ màu xanh sang màu trắng như kết quả.
3.4. Phƣơng hƣớng của chọn giống đột biến trong thời gian tới
3.4.1. Tìm kiếm, gây tạo và xây dựng chiến lược sử dụng các đột biến
- Tăng cường phát hiện, chọn lọc và sử dụng những đột biến tự nhiên.
- Tạo những vật liệu khởi đầu đa dạng bằng gây tạo đột biến thực nghiệm, mà
những phương pháp khác khó thực hiện.
- Những thể đột biến thu được có thể được sử dụng trực tiếp hoặc gián tiếp trong


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status