Chương 2: Vòng đời người: mối liên quan trong
chǎm sóc sức khỏe
Philip.D.Sloane và Peter Curtis
Tất cả các bác sĩ gia đình và các bác sĩ đa khoa khác nên là những người nghiên
cứu sự phát triển của người. Sự hiểu biết về những thách thức của từng giai đoạn
sống và sự tác động của các sự kiện trong đời sống lên sức khỏe thể chất và tâm lý
sẽ làm tǎng khả nǎng của người thầy thuốc để giúp bệnh nhân. Sự hiểu biết của
chúng ta về vòng đời người có chiều hướng gia tǎng với kinh nghiệm bởi vì bản
thân cuộc sống là người thầy lớn nhất. Nhưng người học viên nhạy cảm và quan
tâm lại có thể thu nhận được những điều sâu sắc ngoài kinh nghiệm sống của
chính mình thông qua mối quan hệ với gia đình, bởi sự hiểu biết về đời sống và
gia đình của các đồng nghiệp, người bệnh, sinh viên, người đồng cảnh, và thông
qua nghệ thuật (đọc sách, xem chiếu bóng, coi vô tuyến truyền hình ).
Phạm vi của sự phát triển con người thì rộng. Sự đa dạng của các lĩnh vực khoa
học đã đóng góp cho sự hiểu biết của chúng ta về lĩnh vực này, sự đóng góp lớn
nhất có lẽ từ tâm lý học, từ phát triển của trẻ em, của lão khoa cũng như của y học.
Chính do có cuộc cách mạng trong khoa học - kỹ thuật nên sự hiểu biết của chúng
ta, viễn cảnh của sự giao tiếp, hành vi, cách sống và các mối quan hệ đã thay đổi
nhiều kể từ công trình mở đường của Freud và các người cùng thời. Chương này
chỉ cung cấp phần giới thiệu tóm tắt vài vấn đề quan trọng trong y học gia đình.
Chương 3, 9, 10, 14, 15, 16 và 18 cung cấp những bổ sung chi tiết.
Trường hợp ví dụ
Bà A.G 29 tuổi đến khám vì bị "cảm lạnh". Bà ta kể rằng bà đã bị 4 lần nhiễm
trùng đường hô hấp trên trong vòng 6 tháng qua. Bà đã xây dựng gia đình được 6
nǎm và đã có hai con 2 và 4 tuổi. Nguyên là người phụ tá, hiện nay bà ở nhà với
các con và để tǎng thêm thu nhập cho gia đình bà trông thêm ba đứa trẻ.
Câu hỏi nghiên cứu
Những stress nào trong đời sống làm cơ sở cho quyết định của bà A.G đi khám
bệnh vì bị "lạnh"?
Trường hợp thảo luận
Trong những cuộc gặp chǎm sóc sức khỏe ban đầu, lời kể bệnh thường không
thường liên quan đến thǎm
khám
Các ví dụ về các biến cố liên
quan với vòng đời thường được
thǎm khám bởi bác sĩ gia đình
Các thǎm khám để giữ sức
khỏe liên quan với vòng
đời
- Đẻ
- Vào trường tiểu học, trung
học (thǎm khám trước khi
nhập học)
- Xây dựng gia đình (thǎm
khám trước hôn nhân)
- Du lịch quốc tế (tiêm
chủng, đơn thuốc)
- Chậm lớn
- Đái dầm
- Nhà trường và các vấn đề hành
vi ở trẻ em
- Dậy thì/ kinh nguyệt
- Bệnh lây truyền qua đường
tình dục
- Chǎm sóc trước sinh
- Thǎm khám cho trẻ khỏe
mạnh
- Thǎm khám trước tuổi
học đường
- Thǎm khám để tham gia
điền kinh
Quan điểm của người bác sĩ gia đình về sự phát triển của người nên bao gồm cả
các nhân tố sinh lý học và tâm lý xã hội. Thường thường sự thay đổi của cơ thể và
sự biến đổi tâm lý xã hội đi cùng với nhau. Ví dụ sự phát triển tình dục ở tuổi thiếu
niên và sự biến đổi hormon có liên quan với những thay đổi lớn của hành vi. Mọi
nhân tố này tác động đến cá nhân, đến gia đình và đến sự đi thǎm khám.
Stress và sự thay đổi là hiện tượng bình thường. Thông thường những "biến động"
có tính chất stress đánh dấu sự chuyển đổi cần thiết từ một giai đoạn này sang giai
đoạn khác của đời sống. Do người bệnh không phải bao giờ cũng hiểu rõ mối liên
quan giữa stress và sức khỏe, người bác sĩ gia đình thường cần phát hiện ra những
vấn đề đằng sau những lời than phiền của người bệnh. Hiểu biết về nhiệm vụ
chung mà người ta phải đối đầu trong suốt đời giúp thầy thuốc xác định được các
câu hỏi cần hỏi và những vấn đề cần khai thác mỗi khi thǎm khám.
Sự phát triển trong quá trình thai nghén
Giai đoạn trước sinh là giai đoạn nhanh và có nhiều kịch tính nhất của sinh lý phát
triển. Bắt đầu bằng một tế bào duy nhất (trứng đã thụ tinh), phôi thai lớn lên và
biệt hóa trong vòng 40 tuần để thành trẻ sơ sinh. Đồng thời, người mẹ trải qua
nhiều triệu chứng và những thay đổi của cơ thể. Nhiều thay đổi có thể dự đoán
trước và là bình thường, nhưng sẽ là nỗi lo của người bệnh nếu không được giải
thích chu đáo. Hơn nữa, những sai lệch khỏi ngưỡng bình thường được thầy thuốc
tìm kiếm vì chúng có thể là đầu mối cho những vấn đề của thai nghén.
Bảng 2.2 giới thiệu một số giai đoạn quan trọng trong chu kỳ trước sinh và thảo
luận về ý nghĩa y học của chúng.
Bảng 2.2: Các mốc được lựa chọn của sự sinh trưởng và phát triển trong giai
đoạn trước sinh và nǎm đầu tiên của đời sống.
GIAI ĐOạN TRước SINH Nǎm đầu tiên của đời sống
Tuổi Các mốc Các vấn đề chǎm Tuổi từ Các mốc Các vấn đề chǎm
sau
vòng
kinh
cuối
chính được
tạo thành
Tác động của
thuốc, của độc tố
lên thai mạnh nhất
2-3
tháng
Biết cười khi
có kích thích
từ xung
quanh
Có thể thấy sự
tương tác bố mẹ -
con
15-20
tuần
Thai lớn từ
4,5 inch tới 9
inch về chiều
dài, từ
khoảng 2,5
aoxơ tới 8
aoxơ về trọng
lượng
Người mẹ thấy
thai máy lần đầu
(khoảng 15 tuần
với con dạ và 18
tuần với con so)
4 tháng Biết quay đầu
thấy thai cử động
khi đặt tay lên
bụng người mẹ.
Đa số thai được đẻ
sau tuần thứ 28 sẽ
sống sót với sự
chǎm sóc chu đáo
12
tháng
Có thể nhận
biết tên của
mình, nói
được vài từ
như "mẹ"
Phát triển kỹ nǎng
ngôn ngữ, cho
thấy sự nghe có
hiệu quả, xã hội
hóa, và sự phát
triển của não.
28-40
tuần
Thai và tử
cung lớn
nhanh
Sự bǎn khoǎn và
mệt mỏi của người
mẹ tǎng lên, rất
mong muốn chuẩn
bị nhà cho bé ra
vấn đề trong lớp học. Vì vậy, sự hiểu biết về hành vi bình thường ở các lứa tuổi
khác nhau là rất quan trọng đối với người bác sĩ thực hiện việc chǎm sóc cho trẻ
em và cho trẻ vị thành niên.
Các chuẩn được xác định với nhiều thông số phát triển khác nhau. Ví dụ: chiều
cao và cân nặng ở các giai đoạn khác nhau được trình bày trong "biểu đồ sinh
trưởng". ở cơ sở khám bệnh, chiều cao và cân nặng của trẻ (ở trẻ con đo vòng đầu)
được ghi lại sau mỗi lần thǎm khám, so chỉ số của người được thǎm khám với
những trẻ Mỹ khác. Tiếp theo, bác sĩ nên sàng lọc một cách không chính thức
những vấn đề phát triển bằng sự quan sát tác động qua lại của trẻ và bằng nói
chuyện với bố mẹ.
Thường thường theo dõi sự phát triển được dùng để nhắc nhở người bác sĩ các vấn
đề của các giai đoạn đặc trưng (xem hình 2.1 để làm ví dụ cho phiếu). Các lĩnh
vực có thể được đánh giá là sự phát triển vận động đơn giản, sự phát triển vận
động khéo léo, ngôn ngữ, hòa nhập cộng đồng, khả nǎng tập trung vào
công việc, các kỹ nǎng, quan tâm và các vấn đề về hành vi (Bảng 2.3).
Bảng 2.3: Phạm vi phát triển để đánh giá trong thǎm khám nhi khoa.
Phạm vi Ví dụ (thay đổi phụ thuộc vào tuổi)
Kỹ nǎng vận động đơn giản Lǎn, đi, chạy, chơi thể thao
Kỹ nǎng vận động khéo léo Xếp nhà, viết
Ngôn ngữ Tiếp khách, nói, viết
Quan hệ xã hội Với gia đình, với bạn bè, với trẻ em và người lớn ở các lứa
tuổi
Khả nǎng tập trung vào nhiệm vụ Khoảng thời gian đứa trẻ có khả nǎng miệt mài vào một
việc đặc trưng như đọc sách, chơi tennis
Thói quen Học làm vệ sinh, kiểu ǎn
Sự quan tâm Mặc quần áo đẹp, chơi thể thao, chương trình ti vi phù
hợp, bạn khác giới
Hành vi Tranh cãi với anh chị em, từ chối đi đến trường, trốn học,
dùng thuốc hoặc rượu
Những cái mốc phát triển thường được ghi chép ở các cơ sở y tế bởi y tá hoặc bởi
mẹ nên cố gắng làm gương và tham gia vào qui trình giáo dục. Nhiều người tin
rằng, những vấn đề còn tồn tại của hệ thống giáo dục của chúng ta một phần là do
sự khước từ của bố mẹ trong vai trò này. Phạm vi của hướng dẫn và công việc của
người bác sĩ là:
- Đặc tính về giới
- Biết phân biệt đúng, sai
- Hành vi gây gổ
- Tham gia vào hoạt động của gia đình
- Sự bất lực học tập
- Sự trưởng thành của nhân cách
Tuổi dậy thì làm cho cơ thể có những thay đổi (vú phát triển, kinh nguyệt, lông cơ
thể, giọng trầm). Những người ở tuổi vị thành niên thường tự mình nhận thức
trước những thay đổi của cơ thể và thường có nhiều câu hỏi về những thay đổi đó.
Với những thay đổi này của cơ thể, hình thành nên nhiệm vụ của sự phát triển một
con người độc lập, đặc trưng bởi sự hướng nghiệp. Đạo đức, tín ngưỡng, giới tính,
khả nǎng xác định giới hạn đều dựa trên những mục tiêu và giá trị này. Tính độc
lập của đứa trẻ khiến cho chúng xem xét giá trị và những lời khuyên của bố mẹ.
Xung đột với bố mẹ thường xảy ra, đây là bước bình thường mà sau đó được giải
quyết bằng sự chấp nhận lại nhiều lời khuyên của bố mẹ. Mối quan hệ với bạn
cùng lứa là quyết định ở tuổi vị thành niên và sự làm theo bạn thường đi kèm với
sự thử dùng ma túy, quan hệ tình dục và uống rượu. Cách tiếp cận chi tiết hơn với
tuổi vị thành niên được trình bày ở chương 9.
Trường hợp ví dụ
Bà M vợ của một bác sĩ trẻ mới chuyển đến nơi ở và hiện đang thực tập ở một
thành phố nhỏ, bà đang có mang. Đứa con trai bà ta được đỡ bởi thầy thuốc gia
đình. Bà là một người mẹ tuyệt vời và gắn bó với con Richard của bà. Nhưng qua
18 tháng sau, Richard biểu hiện chậm lớn (giảm từ 65 phân vị xuống 20 phân vị)
cũng như chậm trí tuệ và có vấn đề về ngủ. Phân tích dinh dưỡng đơn giản, phân
tích nước tiểu và máu, không có biểu hiện bất thường. Ngoài các stress của sự bắt
đầu làm việc và chuyển đến ở thành phố mới, bà M kể rằng mọi thứ trong gia đình
17-
22
CT trưởng thành
sớm
Thiết lập sự độc lập với gia đình; xác định mục
tiêu cá nhân và giá trị; Chọn nghề; thử thách
đầu tiên với bạn khác giới.
22-
29
Trưởng thành
sớm
Khởi đầu nghề nghiệp, làm bố mẹ sớm, hoặc trì
hoãn sinh sản; vai trò cân bằng cá chân bạn
khác giới; các quan hệ dìu dắt có thể có ích.
28-
33
CT ở tuổi 30 Sự đánh giá lại việc chọn lựa ban đầu cồ thể
dẫn đến hoặc là sự thay đổi hoặc là tái uỷ thác.
Không nghề nghiệp có thể dẫn đến sự chán nản,
rượu chè, xung đột hoặc bạc đãi vợ chồng.
30-
39
ổn định Thiết lập chỗ đứng trong xã hội do thành công
nghề nghiệp, nuôi dạy con, quan hệ trong cộng
đồng, thích ứng với bạn khác giới và con cái.
33-
45
Khủng hoảng
giữa cuộc đời
Đánh giá lại mục tiêu và hoạt động sống, những
thủ thời gian nhàn rỗi và lợi ích cộng đồng, sự
lo âu về bảo vệ sức khỏe và độc lập.
70-
84
CT phụ thuộc cơ
thể
Bệnh mãn tính và sự ốm yếu làm giảm khả
nǎng độc lập; cần có sự giúp đỡ cho các hoạt
động hàng ngày, sự phụ thuộc làm tǎng sự tin
cậy vào gia đình.
75+
Người già cao
tuổi "người già
ốm yếu"
Sự chết của vợ hoặc chồng, bạn bè, anh chị em
chấp nhận sự thay đổi của cơ thể; sự khó chịu
của cơ thể; sự tiếp xúc xã hội đáng kể với sự hỗ
trợ của mỗi cơ sở chǎm sóc sức khỏe, mong
muốn đóng góp kinh nghiệm sống cho người
khác, đặc biệt cho người trẻ hơn, sắp sẵn cho
chết.
Trong số những nghiên cứu có ảnh hưởng nhất về phát triển ở giai đoạn trưởng
thành phải kể đến công trình của Levinson, được phổ biến bởi Sheehy. Levinson
coi giai đoạn trưởng thành như là một chuỗi các thời kỳ ổn định được chia ra bởi
các giai đoạn chuyển tiếp (khủng hoảng) của sự phát triển, trong khi đó con người
hay đánh giá lại cuộc đời mình, khi đó cả xung đột và thay đổi đều hay gặp. Theo
Levinson, sự chuyển tiếp phát triển xảy ra bởi vì không có một cuộc đời nào có thể
hoàn thành mọi hướng của mình (mơ ước, mục tiêu, tham vọng). Chọn con đường
sống bao gồm sự khước từ những khả nǎng khác. Các giai đoạn chuyển tiếp xảy ra
khi người ta kiểm tra lại cuộc sống của mình, thấy có sự lựa chọn lại.
Sau những lựa chọn, những người ở lứa tuổi giữa 40 bước vào giai đoạn trung
niên. Đối với một số người, giai đoạn này là thời gian của sự hài lòng. Nhưng đối
với những người khác không có khả nǎng để giải quyết vừa ý những xung đột của
họ, đây là thời gian của sự từ chức, sự chán nản. Chuyển vào giai đoạn sau 40 và
50 con người trước đây leo trên thang nghề nghiệp giờ đây cố dìu dắt nghề cho
người khác thường chuyển sang vị trí quản lý. Trong số cặp vợ chồng đã có con,
người đàn ông có chiều hướng chú trọng đến những quyền lợi lớn của gia đình và
mối quan hệ cá nhân còn người đàn bà chú trọng đến tình cảm và sự trưởng thành.
Giai đoạn trung niên tiếp tục cho đến khoảng 60 tuổi. Nhưng trọng giai đoạn này,
giai đoạn chuyển tiếp nhẹ nhàng hơn xảy ra, đó là giai đoạn chuyển tiếp ở tuổi 50,
trong giai đoạn này con người lại đánh giá cuộc sống của mình. Đối với những
người ít có thay đổi trong độ tuổi 40, giai đoạn này có thể là thời gian có nhiều
khủng hoảng và thay đổi. Đối với phụ nữ, sự chuyển tiếp được báo hiệu bằng một
hiện tượng sinh lý quan trọng: mãn kinh.
Sự thay đổi của hormon và của cơ thể của mãn kinh xảy ra trong vài nǎm, với tuổi
trung bình mãn kinh là 48. Người phụ nữ khi mãn kinh đã có quan niệm đây là kết
thúc của những hấp dẫn, của sự có ích và của tình dục. Đa số phụ nữ đã vượt qua
thành công những quan niệm này, hơn nữa sau mãn kinh họ cảm thấy tự do hơn để
làm gì đó cho họ và họ hài lòng với cuộc sống của họ.
Sự chuyển tiếp khác có xu hướng xảy ra vào trước tuổi 60, vì người ta đoán trước
sự về hưu và tuổi già. Nhiệm vụ của giai đoạn này là sự tiếp nhận quá trình của
cuộc đời và thật cố gắng để hoàn thành phần việc trong gia đình, công việc vǎn
hóa, lịch sử. Sự chấp nhận cuộc sống cũng dẫn đến sự chấp nhận cái chết không
thể tránh được. Kết quả của sự hoàn thành thắng lợi của giai đoạn chuyển tiếp này
là tiếp cận cái chết "cộng với giá trị cho sự sống."
Giai đoạn cao tuổi
Thành công của tuổi già bao gồm sự kết hợp giữ được sức khỏe tết và điều chỉnh
được những mất mát. Mục tiêu và sự thích thú vẫn là có sức khỏe tốt dù tuổi đã
già. Những nghiên cứu của những nǎm 70 và 80 về những người trưởng thành
thắng lợi đã chỉ ra rằng những người cao tuổi muốn có công việc thường xuyên
CáC GIAI ĐOạN SốNG Và TáC ĐộNG CủA BệNH MạN TíNH
Bệnh tật mạn tính thường tác động mạnh đến mỗi cá thể ở từng giai đoạn đời sống.
Sự hoàn thành có hiệu quả những nhiệm vụ của sự phát triển thường thường bị
ngǎn trở, khó thực hiện để làm cho cá thể tiến tới giai đoạn sau của đời sống. Kết
quả dẫn đến sự trầm cảm, lo âu phụ thuộc và gây stress cho gia đình.
Bệnh tật ở trẻ con tác động sâu sắc đến cả đứa trẻ và gia đình. Trẻ con thường
tránh sự phụ thuộc và bố mẹ vấp phải khó khǎn và thường phải kéo dài quá trình
điều chỉnh. Sự thay đổi mục tiêu sống và vai trò của nhiều thành viên gia đình
thường là cần thiết để thích ứng với bệnh tật như bệnh hồng cầu liềm, xơ hóa nang,
hoặc bệnh tự kỷ có thể dẫn đến sự trầm cảm, tan vỡ hôn nhân, tật uống rượn, bệnh
tật của những thành viên khác trong gia đình.
ở giai đoạn muộn hơn của đời sống, việc đối đầu với bệnh tật đặc biệt khó khǎn
nếu chúng xảy ra trong các giai đoạn chuyển tiếp. Ví dụ: nhồi máu cơ tim cấp tính
ở nam giới, tuy không phổ biến, xảy ra trong giai đoạn khủng hoảng ở khoảng
giữa cuộc đời, hoặc nhiều hơn ở giai đoạn chuyển tiếp của tuổi 50. Bản thân bệnh
tật, với sự phụ thuộc tạm thời vào những điều khác, và mối đe dọa của sự chết
hoặc sự ốm yếu thường xuyên đều dồn đến tự nghi ngờ. Phản ứng của người bệnh
thay đổi. Một số người có thể phủ nhận sự trầm trọng của vấn đề, trở nên không
phục tùng y lệnh, nhấn mạnh đến việc làm lại bài tập thế dục mạnh, và khả nǎng
tình dục. Một số khác có thể đi vào tình trạng trầm cảm, bởi sự sợ hãi là tiếp tục
hoạt động nhiều sẽ dẫn đến cơn đau tim khác.
Trong chǎm sóc cho mọi người bệnh, người bác sĩ gia đình phải cảm nhận từng
giai đoạn của đời sống và những vấn đề tiềm ẩn có thể phát sinh. Khi chǎm sóc
người bị bệnh nặng, người thầy thuốc phải đánh giá tác động của người bệnh đến
người bệnh và gia đình. Một phần của quá trình này bao gồm sự hiểu biết các nhu
cầu và các nhiệm vụ phát triển của người bệnh và của từng thành viên trong gia
đình. Thường thường, lời khuyên xung quanh các vấn đề này giúp ích cho người
bệnh và gia đình thích ứng tốt hơn với bệnh tật.
CƠ HộI TRONG MỗI lầN THǍM KHáM
Các giai đoạn phát triển của đời sống thường đi cùng với việc đi thǎm khám ở các