Bao cao tong ket thi hanh Luat nuoi con nuoi nuoc ngoai - Pdf 20

B/ VỀ NUÔI CON NUÔI CÓ YẾU TỐ NƯỚC NGOÀI
I. CÁC MẶT THÀNH CÔNG
Nghị định 68/2002/NĐ-CP ngày 10/07/2002 của Chính phủ quy định chi tiết thi
hành một số điều của Luật Hôn nhân và gia đình về quan hệ hôn nhân gia đình có yếu tố
nước ngoài (sau đây gọi là Nghị định 68/2002/NĐ-CP) là văn bản pháp luật quan trọng
đánh dấu sự thay đổi lớn về cơ chế giải quyết vấn đề nuôi con nuôi có yếu tố nước ngoài.
Trình tự, thủ tục giải quyết cho trẻ em Việt Nam làm con nuôi người nước ngoài theo
Nghị định 68/2002/NĐ-CP, bước đầu đã tiệm cận với cơ chế quốc tế trong lĩnh vực này,
góp phần để các cơ quan nhà nước kiểm soát chặt chẽ hơn việc cho trẻ em làm con nuôi ở
nước ngoài.
Trên cơ sở báo cáo sơ kết của các địa phương và ý kiến đóng góp tại Hội nghị sơ
kết toàn quốc cho thấy việc thực hiện Nghị định 68/2002/NĐ-CP trong thời gian qua đã
có những mặt thành công sau:
1. Tạo ra cơ chế xử lý vấn đề nuôi con nuôi quốc tế minh bạch hơn so với thời
kỳ trước đây
Nghị định 68/2002/NĐ-CP có bước phát triển quan trọng so với Nghị định 184/CP
ngày 30/11/1994 trong việc cải cách cơ chế, quy trình, thủ tục, hồ sơ giấy tờ giải quyết
cho trẻ em làm con nuôi người nước ngoài theo hướng minh bạch hơn, rõ ràng và cụ thể
hơn, cũng như tiệm cận dần với cơ chế quốc tế, bước đầu đáp ứng những nguyên tắc cơ
bản của Công ước Lahay. Cụ thể như sau:
Thứ nhất, Nghị định 68/2002/NĐ-CP đã tạo ra cơ sở pháp lý quan trọng cho việc
giải quyết cho trẻ em Việt Nam làm con nuôi ở nước ngoài, theo đó chỉ giải quyết cho trẻ
em Việt Nam làm con nuôi ở những nước ký kết với Việt Nam điều ước quốc tế về hợp
tác nuôi con nuôi. Như vậy, cơ sở pháp lý quan trọng để giải quyết vấn đề nuôi con nuôi
quốc tế là điều ước quốc tế giữa Việt Nam và nước ngoài hữu quan. Đối với những nước
chưa ký kết điều ước quốc tế, chỉ giải quyết trong một số trường hợp ngoại lệ có tính
nhân đạo, theo pháp luật Việt nam. Việc giải quyết cho trẻ em làm con nuôi nước ngoài
trên cơ sở các Hiệp định song phương, có thể coi như một bước tập dượt cần thiết trong
tiến trình tham gia Công ước Lahay về nuôi con nuôi.
Thứ hai, Nghị định 68/2002/NĐ-CP quy định trách nhiệm theo dõi, quản lý vấn đề
con nuôi quốc tế cho một cơ quan đầu mối là Cơ quan con nuôi quốc tế của Bộ Tư pháp

tư 07/2002/TT-BTP và ngày 08/12/2006 ban hành Thông tư 08/2006/TT-BTP hướng dẫn
thực hiện các quy định về nuôi con nuôi có yếu tố nước ngoài. Trong quá trình thực hiện
các văn bản pháp luật này, khi phát sinh những vấn đề bất cập, Bộ Tư pháp đều phối hợp
với các Bộ, ngành hữu quan và chỉ đạo Uỷ ban nhân dân cấp tỉnh kịp thời xử lý, bảo đảm
chặt chẽ và phúc đáp yêu cầu của thực tiễn đặt ra.
Thứ sáu, cơ chế phối hợp giữa các cơ quan có thẩm quyền của Việt Nam với các
cơ quan/tổ chức nước ngoài trong quá trình thực hiện Hiệp định hợp tác về nuôi con nuôi
cũng được cải tiến đáng kể, đặc biệt là với các Đại sứ quán, lãnh sự quán và cơ quan
quản lý nhập cư của các nước, đã tạo điều kiện để nước ta thực hiện được đầy đủ các cam
2
kết theo Hiệp định. Định kỳ hàng năm hoặc 2 năm Nhóm hỗn hợp gồm chuyên gia của
nước ta và các nước ký kết Hiệp định nhóm họp để kiểm điểm tình hình thực hiện Hiệp
định, cùng nhau bàn bạc để tháo gỡ các khó khăn và vướng mắc, nhằm đảm bảo thực thi
nghiêm chỉnh các Hiệp định, tăng cường hợp tác nuôi con nuôi với các nước.
Như vậy, có thể nói rằng Nghị định 68/2002/NĐ-CP (và Nghị định 69/2006/NĐ-
CP) đã tạo ra một cơ chế với nhiều điểm mới so với Nghị định 184/CP trước đây, tạo
thuận lợi hơn cho việc giải quyết vấn đề con nuôi quốc tế. Đây chính là bước chuyển tiếp
quan trọng để chuẩn bị cho việc áp dụng cơ chế xử lý vấn đề nuôi con nuôi quốc tế theo
Công ước Lahay về bảo vệ trẻ em và hợp tác nuôi con nuôi quốc tế mà nước ta đang
chuẩn bị tham gia. Chính cơ chế này đã cho phép tạo ra quy trình, thủ tục minh bạch hơn
trong việc xử lý vấn đề nuôi con nuôi quốc tế.
2. Tìm được mái ấm gia đình thay thế cho nhiều trẻ em
Do đối tượng trẻ đủ điều kiện cho làm con nuôi và thủ tục, trình tự giải quyết được
quy định cụ thể, rõ ràng hơn trong Nghị định 68/2002/NĐ-CP, nên tính đến thời điểm lập
báomcáo này, trong hơn 05 năm qua đã trên 6.000 trẻ em tìm được mái ấm gia đình thay
thế, theo cơ chế kiểm soát chặt chẽ giữa Việt Nam và nước nhận thông qua các Hiệp định
hợp tác về nuôi con nuôi đã được ký kết.
Việc tìm mái ấm gia đình cho các trẻ em nêu trên cũng là đem lại tiếng cười và
niềm hạnh phúc cho nhiều gia đình cha mẹ nuôi, trong đó có một số lượng đáng kể các
gia đình người Việt Nam định cư ở nước ngoài. Đây là việc làm nhân đạo để tăng cường

trước đây), tạo ra cơ chế mới về hỗ trợ của tổ chức con nuôi nước ngoài cho cơ sở nuôi
dưỡng thông qua dự án nhân đạo. Theo thông báo của các địa phương, hiện cả nước có
91/378 cơ sở nuôi dưỡng có quyền cho trẻ em làm con nuôi ở nước ngoài. Đây là những
cơ sở nuôi dưỡng được thành lập hợp pháp, chủ yếu do Sở Lao động Thương binh và Xã
hội (cấp tỉnh) quản lý, là nơi tiếp nhận các dự án hỗ trợ nhân đạo từ các tổ chức con nuôi
nước ngoài. Chỉ có một số ít các cơ sở nuôi dưỡng là Sở Y tế hoặc Phòng Lao động
thương binh và xã hội (cấp huyện) quản lý.
Qua báo cáo của các địa phương và các Văn phòng con nuôi nước ngoài tại Việt
Nam cho thấy, việc thực hiện các dự án hỗ trợ nhân đạo từ hoạt động hợp tác nuôi con
nuôi quốc tế đã tạo điều kiện cho nhiều cơ sở nuôi dưỡng, sau một thời gian đã trở nên
khang trang hơn; điều kiện chăm sóc trẻ em tốt hơn do nhận được nguồn hỗ trợ nhân đạo
từ các tổ chức con nuôi nước ngoài hoạt động tại địa bàn. Mức hỗ trợ nuôi dưỡng trẻ em
nhiều nơi đạt khoảng 1 triệu đồng/1 trẻ/tháng. Nhiều cơ sở nuôi dưỡng có hệ thống cung
cấp nước sạch, trẻ được ăn uống đầy đủ hơn, có các tiện nghi cần thiết để chăm sóc trẻ sơ
sinh. Số lượng các cháu bị bệnh hay bị chết do điều kiện vệ sinh không tốt hay bệnh tật ở
các cơ sở nuôi dưỡng này đã giảm hẳn.
Nhiều địa phương quản lý tương đối chặt chẽ các khoản hỗ trợ nhân đạo, công
khai các khoản thu, khoản chi, hàng năm các khoản hỗ trợ nhân đạo đều được kiểm toán.
Kết quả các đợt kiểm tra, kiểm toán được thông báo cho Cục Con nuôi. Đa số các khoản
hỗ trợ nhân đạo được chi đúng đối tượng, tuân thủ các quy định của pháp luật về tiếp
nhận và sử dụng các khoản hỗ trợ phi chính phủ.
Ngoài ra, nhiều trẻ em tại các cơ sở nuôi dưỡng và ngoài cộng đồng còn được
khám chữa bệnh miễn phí do có sự hỗ trợ từ các tổ chức con nuôi và các tổ chức nhân
đạo nước ngoài khác, được cung cấp thuốc chữa bệnh. Nhiều trẻ tàn tật được cung cấp xe
4
lăn, các dụng cụ thiết yếu cho trẻ tàn tật, trẻ bị bệnh tim được can thiệp kịp thời, chăm
sóc tốt.
Theo báo cáo chưa đầy đủ, từ 2003 - 6/2008, tổng số 69 Văn phòng con nuôi nước
ngoài đã hỗ trợ nhân đạo (bằng tiền và vật chất) cho gần 100 cơ sở nuôi dưỡng khoảng
160 tỷ đồng, trong đó riêng năm 2007 đạt gần 60 tỷ đồng. Các Văn phòng con nuôi nước

được Cục Con nuôi tập huấn về nghiệp vụ.
5
Việc cấp hộ chiếu cho trẻ em xuất cảnh Việt Nam đã được cải tiến một bước. Nếu
trước đây nhiều địa phương giải quyết việc cấp hộ chiếu trong thời hạn 20 ngày, thì gần
đây rút xuống còn 05 ngày. Cục Con nuôi đã phối hợp chặt chẽ với A.18 Bộ Công an để
hướng dẫn cho đương sự về thủ tục xin cấp hộ chiếu cho trẻ em sau khi được giải quyết
cho làm con nuôi, đảm bảo rút ngắn thời hạn cấp hộ chiếu để tạo thuận lợi cho trẻ em
xuất cảnh. Kể cả việc cấp thị thực “nóng” tại cửa khẩu cho một số cha mẹ nuôi người
nước ngoài vì lý do đột xuất cũng đã được quan tâm hơn.
Thời hạn cha mẹ nuôi đến Việt Nam để làm lễ giao nhận con nuôi và làm các thủ
tục khác để đưa con nuôi về nước cũng được rút ngắn đáng kể (khoảng trên dưới 03
tuần), phù hợp với thời gian nghỉ phép của họ. Đây là điều kiện thuận lợi để cha mẹ nuôi
có thể thu xếp công việc đến Việt Nam mà không ảnh hưởng lớn đến công việc làm ăn ở
nước ngoài.
5. Công tác kiểm tra, thanh tra được tăng cường một bước
Công tác kiểm tra, thanh tra là công tác được đặc biệt quan tâm kể từ khi thực hiện
Nghị định 68/2002/NĐ-CP. Công tác này đã góp phần uốn nắn kịp thời những lệch lạc,
xử lý các vi phạm, nâng cao ý thức pháp luật và tinh thần trách nhiệm của những người
hoạt động trong lĩnh vực nuôi con nuôi quốc tế.
Hàng năm, Bộ Tư pháp đều phối hợp cùng các cơ quan khác ở trung ương như Bộ
Công an, Lao động - Thương binh và Xã hội tiến hành kiểm tra tình hình nuôi con nuôi
quốc tế ở các địa phương. Ngoài ra, các cuộc kiểm tra đột xuất cũng được Cục Con nuôi
tiến hành khi phát hiện có những vấn đề phức tạp phát sinh. Nội dung các cuộc kiểm tra
khá toàn diện, đặc biệt về việc xác minh nguồn gốc trẻ em; việc bảo đảm các thủ tục, hồ
sơ, giấy tờ (nhất là những giấy tờ liên quan đến việc tiếp nhận trẻ em vào cơ sở nuôi
dưỡng); việc sử dụng các khoản hỗ trợ nhân đạo. Ngoài ra, Bộ Tư pháp cũng yêu cầu các
địa phương hàng năm tự tiến hành kiểm tra, xác minh làm rõ các vướng mắc, bất cập, vi
phạm để báo cáo về Bộ xử lý.
Hàng năm, Bộ Tư pháp có kế hoạch kiểm tra định kỳ các Văn phòng con nuôi
nước ngoài trên phạm vi cả nước để kịp thời phát hiện và uốn nắn các lệch lạc, qua đó

quan đến việc giải quyết nuôi con nuôi. Trong thời gian qua, Cục Con nuôi - Bộ Tư pháp
đã tổ chức 3 cuộc đối thoại trực tiếp tại Hà Nội với các nhân viên lãnh sự của các nước
ký kết để trao đổi về các vấn đề mà phía nước ngoài đặt ra nhằm tháo gỡ các vướng mắc
trong quá trình giải quyết các vấn đề phát sinh trong lĩnh vực nuôi con nuôi quốc tế.
II. NHỮNG TỒN TẠI, BẤT CẬP
Bên cạnh những thành công như nêu trên, Hội nghị cũng nhận thấy việc thực hiện
các quy định về nuôi con nuôi có yếu tố nước ngoài theo Nghị định 68/2002/NĐ-CP
trong vòng 05 năm qua cho thấy còn có một số tồn tại, bất cập cần tháo gỡ, nhằm đảm
bảo cơ chế nuôi con nuôi quốc tế chặt chẽ hơn và minh bạch hơn như sau:
1. Nhận thức chưa đúng về vấn đề nuôi con nuôi
Mặc dù việc cho trẻ em làm con nuôi người nước ngoài đã tiến hành gần hai chục
năm nay, song trong một số cơ quan nhà nước, kể cả ở Trung ương và địa phương còn có
sự nhận thức chưa đúng về vấn đề nuôi con nuôi nói chung và nuôi con nuôi quốc tế nói
7
riêng; thậm chí còn mơ hồ về tính nhân đạo, nhân văn của lĩnh vực con nuôi quốc tế,
cũng như về các vấn đề pháp lý có liên quan.
Nuôi con nuôi quốc tế là vấn đề nhạy cảm, hệ trọng liên quan đến số phận của
những trẻ em có hoàn cảnh thiệt thòi phải sống xa quê hương, đất nước nơi mình sinh ra,
hậu quả của nó còn kéo dài hàng chục năm sau đó. Vì vậy, trên phương diện pháp luật,
Nhà nước phải xử lý hàng loạt các vấn đề liên quan đến con nuôi, cha mẹ nuôi, cha mẹ
đẻ, những người và tổ chức có liên quan khác và trong đó, quan trọng hơn cả là liên quan
đến quyền và lợi ích của trẻ em.
Một quyết định không được cân nhắc kỹ lưỡng, thiếu chính xác, một hành vi thiếu
tính nhân đạo hoặc trục lợi sẽ gây hậu quả khôn lường không những đối với trẻ em,
người xin con nuôi, tổ chức con nuôi mà thậm chí đến quan hệ giữa nước cho con nuôi và
nước nhận con nuôi. Một nhận thức không đúng về vấn đề nuôi con nuôi có thể dẫn đến
việc một cá nhân có thể góp phần làm sai lệch giấy tờ về nguồn gốc của trẻ, một công
chức nhà nước hoặc một cán bộ có chức quyền ở địa phương có thể tiếp tay cho những
hành vi trục lợi liên quan đến việc đạo diễn cho trẻ em làm con nuôi, xâm hại đến các
quyền và lợi ích cơ bản của trẻ em, gây ra hậu quả khôn lường cho xã hội.

Một trong những hạn chế của pháp luật về hôn nhân gia đình nước ta nói chung và
Nghị định 68/2002/NĐ-CP nói riêng là còn thiếu các quy định đảm bảo sự gắn kết giữa
nuôi con nuôi trong nước và nuôi con nuôi quốc tế theo hướng ưu tiên nuôi con nuôi
trong nước; nuôi con nuôi nước ngoài chỉ được coi là biện pháp thay thế cuối cùng khi
không thể tìm được mái ấm cho trẻ em ở trong nước. Đây là một yêu cầu quan trọng của
Công ước Lahay về bảo vệ trẻ em và hợp tác nuôi con nuôi quốc tế mà Việt Nam đang
chuẩn bị ký. Nhưng hiện nay yêu cầu này chưa được bảo đảm thực thi nghiêm túc ở nước
ta, do còn thiếu các biện pháp kiên quyết và hữu hiệu.
Theo Nghị định 68/2002/NĐ-CP, trước khi giải quyết cho làm con nuôi người
nước ngoài, cơ sở nuôi dưỡng có trách nhiệm thông báo 30 ngày trên phương tiện thông
tin đại chúng cấp tỉnh (trên báo chí, đài phát thanh, truyền hình) về việc tìm mái ấm gia
đình trong nước cho trẻ em. Nhưng trên thực tế, nhiều nơi chỉ làm một cách hình thức,
chiếu lệ, không bảo đảm đích thực của việc tìm mái ấm gia đình trong nước cho trẻ em.
Thậm chí có nơi chỉ nộp giấy xác nhận đã thông báo trên đài phát thanh hoặc trên vô
tuyến truyền hình, còn thực tế có thông báo hay không, lại không có sự kiểm tra.
Ngoài ra, Nghị định 69/2006/NĐ-CP (sửa đổi Nghị định 68/2002/NĐ-CP) cũng
không quy định phải thông báo tìm mái ấm gia đình cho trẻ em mồ côi, trẻ em được cha
mẹ đưa vào cơ sở nuôi dưỡng, do đó, chưa tạo ra sự thống nhất về việc tìm mái ấm gia
đình cho trẻ em nói chung, trước khi giải quyết cho làm con nuôi người nước ngoài.
Như vậy, có thể nói, bản thân pháp luật hiện hành của nước ta về lĩnh vực này
cũng chưa có các quy định nhằm bảo đảm ưu tiên việc nuôi con nuôi trong nước đối với
trẻ em, cho nên các cơ quan nhà nước, các cơ sở nuôi dưỡng trẻ em cũng chưa thực sự
quan tâm đến việc này, mà chỉ chú ý vào việc cho trẻ em làm con nuôi ở nước ngoài.
Tâm lý “hướng ngoại” ấy phần nào còn bị ảnh hưởng bởi những lợi ích vật chất/kinh tế
trong việc cho trẻ em làm con nuôi ở nước ngoài mà chưa chú ý đến việc thu xếp mái ấm
gia đình cho trẻ em ở trong nước.
4. Chưa quản lý chặt chẽ các hoạt động của Văn phòng con nuôi nước ngoài
tại Việt Nam
9
Thời gian qua trên phạm vi cả nước có 69 Văn phòng con nuôi nước ngoài được

khoản hỗ trợ nhân đạo.
Trong thực tiễn cả tổ chức con nuôi nước ngoài và các cơ sở nuôi dưỡng đều chưa
thực hiện báo cáo đầy đủ và đúng về các khoản hỗ trợ nhân đạo cho Bộ Tư pháp. Thậm
chí các báo cáo của phía tổ chức con nuôi nước ngoài và phía địa phương Việt Nam rất
khác nhau. Điều này gây rất nhiều khó khăn cho việc quản lý, thống kê, theo dõi các
khoản hỗ trợ nhân đạo và giám sát việc sử dụng các khoản hỗ trợ đó.
10
Theo quy định hiện hành, trách nhiệm kiểm tra, thanh tra việc sử dụng các khoản
hỗ trợ nhân đạo của tổ chức con nuôi nước ngoài cho cơ sở nuôi dưỡng thuộc về các cơ
quan chức năng của tỉnh/thànhphố. Nhưng trên thực tế, hoạt động thanh kiểm tra tài
chính còn rất yếu, chưa được quan tâm đúng mức ở nhiều địa phương. Mặc dù một số địa
phương cũng đã tổ chức kiểm tra định kỳ, song chưa phát hiện ra những sai phạm của các
tổ chức con nuôi nước ngoài.
5. Thủ tục, trình tự giải quyết việc nuôi con nuôi còn bất cập
Mặc dù Nghị định 68/2002/NĐ-CP đã có nhiều cải cách trong trình tự thủ tục giải
quyết việc nuôi con nuôi, song vẫn còn một số tồn tại bất cập cần được khắc phục.
Trước hết đó là sự bất cập về thủ tục giới thiệu trẻ em làm con nuôi. Trên thực tế,
việc quản lý các dữ liệu về trẻ em có đủ điều kiện để giới thiệu làm con nuôi hiện nay là
do cơ sở nuôi dưỡng trực tiếp thực hiện. Mặc dù theo yêu cầu của pháp luật hiện hành,
các cơ sở nuôi dưỡng của địa phương vẫn gửi danh sách trẻ em có đủ điều kiện làm con
nuôi người nước ngoài về Bộ Tư pháp. Nhưng trên thực tế, đó mới thuần túy chỉ là sự
cung cấp danh sách về số lượng và họ tên của trẻ em (danh sách trích ngang), chưa kèm
theo hồ sơ đầy đủ để bảo đảm trẻ em đã có đủ điều kiện để cho làm con nuôi. Đồng thời,
việc gửi danh sách cho Cơ quan Trung ương cũng chỉ là hình thức để thông báo, bởi thực
chất, Cơ quan Trung ương không thực hiện việc giới thiệu trẻ em làm con nuôi, mà các
cơ sở nuôi dưỡng đã phối hợp với các tổ chức con nuôi nước ngoài giới thiệu trẻ em cho
các gia đình xin nhận con nuôi. Quyền giới thiệu trẻ em nào là do cơ sở nuôi dưỡng quyết
định.
Việc kiểm tra hồ sơ của trẻ em được giới thiệu làm con nuôi cũng chỉ được thực
hiện có tính hình thức. Mặc dù trên thực tế, nhiều địa phương giao toàn bộ trách nhiệm

còn nhiều sơ hở.
Ở cấp trung ương còn thiếu sự hợp tác thường xuyên và chặt chẽ giữa Bộ Tư pháp
và Bộ LĐTBXH trong việc chỉ đạo các vấn đề liên quan đến chức năng của cả hai bộ
trong lĩnh vực con nuôi quốc tế (như hoạch định chính sách về nuôi con nuôi quốc tế, về
cơ sở bảo trợ xã hội, về các vấn đề liên quan đến quản lý tài chính, hỗ trợ nhân đạo cho
cơ sở nuôi dưỡng trẻ em). Thậm chí, trên một số vấn đề cụ thể, Bộ Lao động Thương
binh và xã hội cho rằng, lĩnh vực con nuôi quốc tế đã được Chính phủ giao cho Bộ Tư
pháp chịu trách nhiệm, nên không có ý kiến.
7. Còn thiếu sự minh bạch trong việc tiếp nhận và sử dụng các khoản hỗ trợ
nhân đạo của tổ chức, cá nhân nước ngoài
Yêu cầu về sự minh bạch tài chính liên quan đến việc tiếp nhận và sử dụng các
khoản hỗ trợ nhân đạo của tổ chức con nuôi nước ngoài cho cơ sở nuôi dưỡng luôn được
các quốc gia đặt ra. Trên thực tế ở nước ta, các khoản hỗ trợ nhân đạo phần lớn là do cơ
sở nuôi dưỡng tiếp nhận và quản lý. Cơ sở nuôi dưỡng sử dụng các khoản hỗ trợ nhân
đạo này và có trách nhiệm báo cáo cơ quan có thẩm quyền của địa phương theo quy định.
Nhưng qua kiểm tra tại một số địa phương cho thấy, cơ chế tiếp nhận, quản lý và sử dụng
các khoản hỗ trợ nhân đạo này khá lỏng lẻo. Phần lớn các khoản hỗ trợ này được thực
hiện bằng tiền mặt, chỉ một số ít các tổ chức thực hiện bằng chuyển khoản. Các báo cáo
của cơ sở nuôi dưỡng về việc sử dụng các khoản hỗ trợ nhân đạo này chưa đầy đủ và
chính xác. Công tác quản lý các tổ chức con nuôi nước ngoài trong công tác hỗ trợ nhân
12
đạo cũng còn nhiều hạn chế. Do đó, cần tạo ra sự minh bạch hoá trong vấn đề này để bảo
đảm việc sử dụng các khoản hỗ trợ nhân đạo đúng mục đích vì lợi ích của trẻ em.
C/ GIẢI PHÁP KHẮC PHỤC
Sau 5 năm thực hiện pháp luật về nuôi con nuôi nói chung cho thấy, chúng ta đã
thu được nhiều kết quả, song cũng còn nhiều khiếm khuyết, tồn tại. Do đó, cần đề ra các
giải pháp khắc phục để bảo đảm tốt hơn nữa quyền của trẻ em được cho làm con nuôi,
cũng như chuẩn bị tích cực cho việc tham gia Công ước Lahay về bảo vệ trẻ em và hợp
tác nuôi con nuôi quốc tế.
Các giải pháp cơ bản là:

bị tham gia. Một điều cần lưu ý nữa là, cần tách bạch hai hoạt động hỗ trợ nhân đạo và
giải quyết việc nuôi con nuôi thành hai hoạt động biệt lập, không phải là điều kiện của
nhau trong công tác quản lý. Có như vậy mới có thể kiểm tra, giám sát tốt việc thực hiện
pháp luật về nuôi con nuôi, cũng như theo dõi, kiểm tra việc sử dụng đúng pháp luật các
khoản thu từ phí, lệ phí giải quyết việc nuôi con nuôi trong phạm vi cả nước.
3. Tăng cường vai trò của Cơ quan con nuôi Trung ương
Tăng cường vai trò của Cơ quan Trung ương trong lĩnh vực nuôi con nuôi là hết
sức cần thiết, một mặt, nhằm đáp ứng yêu cầu khi tham gia Công ước Lahay, mặt khác
nhằm tập trung quản lý thống nhất lĩnh vực nuôi con nuôi vào một đầu mối.
Cơ quan con nuôi Trung ương cần được củng cố, tăng cường cả về số lượng và
chất lượng để có thể đảm nhiệm được trọng trách nặng nề hơn trong điều kiện nước ta
tham gia Công ước Lahay. Trong cơ chế xử lý vấn đề nuôi con nuôi, Cơ quan con nuôi
Trung ương phải là đầu mối trong việc tìm mái ấm gia đình cho trẻ em, chịu trách nhiệm
về hồ sơ của cha mẹ nuôi, bảo đảm trẻ em có đủ điều kiện để cho làm con nuôi theo quy
định của pháp luật và đã có sự tự nguyện đồng ý của những người có quyền cho con
nuôi. Trong khuôn khổ Công ước Lahay, Cơ quan Trung ương phải trực tiếp tiến hành
mọi biện pháp thích hợp nhằm: i) cung cấp các thông tin pháp luật, số liệu thống kê và
biểu mẫu chuẩn về nuôi con nuôi; ii) báo cáo về tình hình thực thi Công ước và trong
chừng mực có thể, loại bỏ mọi trở ngại đối với việc thực hiện Công ước. Đây là hai
nhiệm vụ tối quan trọng mà Cơ quan Trung ương phải trực tiếp thực hiện, không được ủy
quyền cho cơ quan nào. Đồng thời, trong khuôn khổ pháp luật nước mình, Cơ quan
Trung ương có trách nhiệm “loại bỏ mọi trở ngại đối với việc thực thi Công ước”. Đây
cũng là công việc nặng nề và phức tạp, đòi hỏi sự cương quyết, nghiêm túc, tinh thần
trách nhiệm cao của bộ máy cán bộ công chức làm việc trong lĩnh vực nuôi con nuôi.
Ngoài ra, Cơ quan con nuôi Trung ương còn có trách nhiệm trực tiếp hoặc phối
hợp với cơ quan nhà nước có thẩm quyền khác tiến hành mọi biện pháp thích hợp nhằm
ngăn chặn việc thu lợi bất chính liên quan đến nuôi con nuôi hoặc ngăn chặn mọi hành vi
khác trái với mục đích của Công ước. Đây là một nhiệm vụ không đơn giản đối với Việt
Nam trong giai đoạn hiện nay, khi mà các hoạt động trung gian, môi giới bất hợp pháp,
các hành vi tham nhũng, đưa và nhận hối lộ trong lĩnh vực con nuôi quốc tế diễn ra ngày


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status