VỊ TRÍ VĂN HỌC CỦA VUA TRẦN NHÂN TÔNG
3 Nhưng cuộc đời vua Trần Nhân Tông không giống cuộc đời những ông vua sinh
ra, lớn lên, rồi thụ hưởng một đất nước thái bình. Năm vua ra đời cũng chính là
thời điểm vua Trần Thái Tông vừa đánh tan đạo quân xâm lược thứ nhất của đế
chế Nguyên Mông lần đầu tiên tiến công nước ta, dưới sự chỉ huy của một tên
tướng khét tiếng tàn bạo Ngột Lương Hợp Thai (Uryangqadai). Hơn 20 năm tiếp
theo là một cuộc đấu tranh gian khổ về ngoại giao nhằm vừa bảo vệ chủ quyền đất
nước, vừa mang lại nền hòa bình để cho người dân có cơ hội lao động sinh sống,
và đất nước chuẩn bị tiềm lực để chiến đấu và sẵn sàng chiến đấu.
Kịp đến khi lên ngôi vào tháng 10 năm Mậu Dần (1278) thì vua Trần Nhân Tông
đã phải trực tiếp đối phó với những tên sứ giả “uốn tấc lưỡi cú diều mà lăng nhục
triều đình, đem tấm thân dê chó mà khinh rẻ tể phụ”, như Trần Hưng Đạo đã mô
tả. Thế là cả nước phát động một phong trào chuẩn bị diệt giặc cứu nước. Tuy hào
khí Nguyên Phong của cuộc chiến tranh năm Đinh Tỡ (1257) vẫn còn đó, mà nhà
vua cảm thấy khi đến thăm lăng mộ của ông nội mình vào một ngày xuân trước
cuộc chiến tranh 1285.
Hùm gấu nghiêm nghìn cửa
Áo mão bảy phẩm đầy
Lính bạc đầu còn đó
Nguyên Phong mãi kể say
(Tỉ hổ thiên môn túc
Y quan thất phẩm thông
Bạch đầu quân sĩ tại
Vãng vãng thuyết Nguyên Phong)
Và hơn ai hết, bản thân vua Trần Nhân Tông đã từng cầm quân xông pha trận mạc.
(Cẩm phàm khinh sấn lãng hoa khai,
Bồng để yêm yêm thủ bất đài.
Tam giáp mộ vân vô nhạn đáo,
Cửu than minh nguyệt hữu long lai.
Thê lương hành sắc thiêm cung mộng,
Liêu loan nhàn sấu đáo tửu bôi.
Hán Vũ phiêu chiêu cùng độc báng,
Nam nhi cấp cấp nhược vi tai.)
Một cuộc chiến tranh do vua chủ trương vì lợi ích chung như ĐVSKTT 5 tờ 58b5
-59a1 đã ghi: “Vua thân chinh Ai Lao. Triều thần nói: ‘Giặc Nguyên vừa rút lui,
vết thương chưa khỏi sao có thể dấy binh’. Vua nói:
‘Chỉ có thể vào lúc này mới ra quân được, vì sau khi giặc rút lui thì ba vùng (Ai
Lao, Chiêm Thành và Chân Lạp - LMT) tất cho quân ngựa và của cải ta bị tan
mất, thế không thể tránh khỏi được, sẽ có sự khinh nhờn đối với ta, cho nên đem
đại quân đi để thị uy’. Quần thần đều nói: ‘Vua há không biết dân mệt sao, mà chỉ
vì có việc đáng lo lớn hơn thế nữa’. Đó là thánh nhân lo xa, chẳng phải bọn thần
nghĩ kịp được”.
Việc đem quân đi thị uy đối với Ai Lao, chỉ vì quyền lợi của đất nước mà vua
Trần Nhân Tông phải làm. Và thực tế chỉ chưa tới 4 năm sau khi đã truyền ngôi
cho con là Anh Tông và trở thành Thượng hoàng, vua Trần Nhân Tông còn phải
thân chinh Ai Lao một lần nữa, vào tháng 8 năm Giáp Ngọ (1294) với sự tham gia
của các tướng Phạm Ngũ Lão, Trung Thành Vương. Mối đe dọa của Ai Lao đối
với biên cương Đại Việt như thế không phải là không có.
Và việc đánh dẹp Ai Lao như thế là một yêu cầu của an ninh quốc gia. Thế mà, dù
bài thơ vừa trích được làm vào chiến dịch Ai Lao năm 1290 hay 1294, nó vẫn toát
lên một sự chán ghét đối với chiến tranh, đối với cái mà người thường gọi là “cùng
binh độc vũ”, tức dùng chiến tranh để thỏa mãn những tham vọng cá nhân của
nội dung đặc biệt của thơ văn vua Trần Nhân Tông, bộc lộ một sự tha thiết đối với
hòa bình. Thật cũng lạ, một con người đã từng chỉ đạo, trực tiếp tham gia chiến
tranh và đã có những chiến thắng oanh liệt. Vậy mà qua thơ văn vẫn luôn luôn
biểu hiện một ước ao nóng bỏng đối với hòa bình.
Điều này cũng có nghĩa vua Trần Nhân Tông không bao giờ coi chiến tranh như
một nấc thang để bước lên đài danh vọng, để đi tới bến vinh quang. Suốt cuộc đời,
ngay cả sau khi xuất gia, vua cũng luôn lao động miệt mài cho hòa bình, nhất là
một nền hòa bình ở biên cương phía Nam của tổ quốc tiếp giáp với nước Chiêm
Thành.
Trước đây, nhiều người thường cho giai đoạn vua Trần Nhân Tông xuất gia là giai
đoạn nhà vua rút lui khỏi cuộc đời, khỏi xã hội, “càng tu hành càng xa với thực tế
xã hội, càng xa với ý muốn cứu khổ cứu nạn của Phật tổ” . Thế mà chính trong
giai đoạn xuất gia này của nhà vua, biên cương của Đại Việt đã nối dài trên 200
cây số, và nền hòa bình Việt Chiêm đã duy trì được gần mấy chục năm, làm tiền
đề cho sự nghiệp Nam tiến của dân tộc ngày càng phát triển dồn dập như cơn thủy
triều đang buổi dâng lên của nó. Cũng có người đọc hai câu thơ:
Phải trái lòng theo hoa sớm rơi
Lợi danh tâm lạnh tối mưa thôi
đã không biết đặt chúng vào trong bối cảnh lý luận của tư tưởng vua Trần Nhân
Tông, rồi vội vã bình luận đấy là những “câu thơ cực kỳ chán đời”, thể hiện “tư
tưởng hư vô chủ nghĩa triệt để, bắt nguồn từ trong triết học Phật giáo trong chế
độ điền trang, sự phú quý cực độ của nhiều nhà chùa và tất cả sự suy đồi của nó”.
Bình luận thế là họ đã quên vua Trần Nhân Tông là một trong “những tên tuổi lẫy
lừng nhất” của những nhà thơ nhà văn đời Trần.
Và những tên tuổi lẫy lừng nàỵ “đều bộc lộ một niềm tin, một tinh thần quyết
thắng và một ý chí kiên cường qua một loạt vần thơ bất hủ”. Cho dù những bình