Mục lục
I. Khái quát về quyền nhân thân của cá nhân
1. Khái niệm quyền nhân thân của cá nhân
Trong quan hệ dân sự bên cạnh các quan hệ tài sản, quan hệ nhân thân là một trong
hai đối tượng điều chỉnh chủ yếu của pháp luật dân sự và là một loại quan hệ mang tính
xã hội sâu sắc, rộng lớn, phản ánh sự phát triển và tiến bộ của xã hội. Một quan hệ pháp
luật dân sự nói chung gồm ba yếu tố: chủ thể, khách thể và nội dung. Trong đó nội dung
là yếu tố cơ bản nhất để phân loại quan hệ đó là quan hệ nhân thân hay tài sản.
Nội dung của quan hệ pháp luật gồm các quyền và nghĩa vụ của các bên tham gia
quan hệ đó. Do vậy quyền nhân thân chính là một nội dung của quan hệ pháp luật dân sự
về nhân thân. Nó là những quy định của pháp luật cho phép chủ thể được hưởng, được
làm, được đòi hỏi liên quan đến các giá trị nhân thân của mình khi tham gia vào các quan
hệ pháp luật dân sự.
Trong khoa học pháp lý có nhiều cách định nghĩa khác nhau về quyền nhân thân
- Điều 26 Bộ luật Dân sự 1995: Quyền nhân thân được quy định trong Bộ luật này là
quyền dân sự gắn liền với mỗi cá nhân, không thể chuyển giao cho người khác, trừ
trường hợp pháp luật có quy định khác.
Không ai được lạm dụng quyền nhân thân của mình xâm phạm đến lợi ích của Nhà nước,
lợi ích công cộng, quyền, lợi ích hợp pháp của người khác.
Mọi người có nghĩa vụ tôn trọng quyền nhân thân của người khác.
1
- Điều 24 Bộ luật Dân sự 2005: quyền nhân thân là quyền dân sự gắn liền với mỗi cá
nhân và không thể chuyển giao cho người khác, trừ trường hợp pháp luật có quy định
khác.
Một số quyền nhân thân được quy định trong Bộ luật Dân sự 2005: quyền đối với họ
tên; quyền xác định dân tộc; quyền được khai sinh; quyền được khai tử; quyền được bảo
đảm an toàn về tính mạng, sức khỏe, thân thể; quyền hiến bộ phận cơ thể; quyền hiến các,
bộ phận cơ thể sau khi chết; quyền kết hôn; quyền bình đẳng vợ chồng; quyền ly hôn;
quyền nhận, không nhân cha, mẹ, con; quyền được nuôi con nuôi và uyền được nhận làm
con nuôi…
2. Đặc điểm của quyền nhân thân
thể đối với chính bản thân mình, luôn gắn với chính bản thân người đó và không dịch
chuyển được sang chủ thể khác.
3.2. Theo đối tượng
- Nhóm quyền nhân thân liên quan đến căn cước của cá nhân: quyền đối với họ tên;
quyền thay đổi họ tên; quyền xác định dân tộc; quyền khai sinh khai tử…
- Nhóm quyền nhân thân liên quan đến tính mạng sức khỏe thân thể của cá nhân:
quyền được bảo đảm an toàn về tính mạng, sức khỏe, thân thể, quyền hiến bộ phận cơ
thể…
- Nhóm quyền nhân thân liên quan đến quan hệ gia đình: quyền kết hôn; quyền ly hôn;
quyền bình đẳng vợ chồng; quyền được hưởng sự chắm sóc giữa các thành viên trong gia
đình; quyền nhận, không nhận cha mẹ, con…
- Nhóm quyền nhân thân liên quan đến các yếu tố tinh thần của cá nhân: quyền được
bảo vệ danh dự, nhân phẩm, uy tín; quyền bí mật đời tư…
- Nhóm quyền liên quan đến tự do cá nhân: quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo; quyền tự
do đi lại, cư trú; quyền lao động…
- Nhóm quyền liên quan đến các đối tượng của quyền sở hữu trí tuệ.
II. Nội dung quan hệ nhân thân giữa vợ và chồng trong thời kỳ hôn nhân.
3
1. Khái quát về quan hệ nhân thân giữa vợ và chồng trong thời kỳ hôn nhân
- Thời kỳ hôn nhân: “là khoảng thời gian tồn tại quan hệ vợ chồng, tính từ ngày đăng
ký kết hôn đến ngày chấm dứt hôn nhân” (điều 8 khoản 7 luật HNGĐ 2000). Như vậy
quan hệ nhân thân giữa vợ và chồng trong thời kỳ hôn nhân được bắt đầu bằng việc đăng
ký kết hôn theo đó vợ và chồng sẽ có thêm các quyền về hôn nhân gia đình theo quy định
của pháp luật. Còn sau khi quyết định, bản án của Tòa án giải quyết ly hôn có hiệu lực
hoặc khi một trong hai bên bị tuyên bố là đã chết thì quan hệ nhân thân giữa vợ và chồng
chấm dứt, các quyền cơ bản của vợ, chồng mang tính chất là các quyền Hiến định không
bị ảnh hưởng, không thay đổi.
- Đặc điểm của quan hệ hôn nhân:
Thứ nhất, phụ thuộc vào bản chất của chế độ xã hội qua mỗi giai đoàn phát triển của
đất nước. Dưới chế độ cũ (phong kiến, thực dân), quyền nhân thân của vợ và chồng được
vợ và chồng, trong đó người chồng giữ vị trí chủ gia đình, là người bảo hộ đối với người
vợ. Các quyền và nghĩa vụ giữa vợ và chồng mang tính chất tương hỗ cho nhau, ngang
nhau. Hôn nhân không làm cho vợ chồng hòa nhập thành một chủ thể duy nhất của quan
hệ pháp luật: vợ, chồng tiếp tục giữ lai lịch pháp lý cá nhân của riêng mình, có danh dự,
nhân phẩm riêng, có năng lực pháp luật và năng lực hành vi của riêng mình cả trong quan
hệ nội bộ và trong quan hệ với người thứ ba.
2.1.1. Tự do lựa chọn nơi cư trú
Để thực hiện quyền cơ bản của công dân được quy định trong Hiến pháp cũng như
nhằm loại trừ định kiến xã hội trong xác định vai trò của người vợ trong gia đình “thuyền
theo lái, gái theo chồng”, pháp luật Việt Nam công nhận và bảo vệ quyền bình đẳng giữa
vợ và chồng về nhân thân liên quan tới lựa chọn nơi ở.
Điều 55 BLDS 2005 quy định “nơi cư trú chung của viwj chồng là nơi vợ chồng
thường xuyên chung sống”. Việc lựa chọn nơi cư trú của vợ chồng được thực hiện trên cơ
sở sự thỏa thuận giữa vợ và chồng. Điều 20 Luật HNGĐ 2000 quy định: “nơi cư trú của
vợ, chồng do vợ chồng lựa chọn, không bị ràng buộc bởi phong tục, tập quán, địa giới
hành chính”. Để đảm bảo ổn định cuộc sống gia đình và điều kiện làm việc của mỗi bên
5
thì vợ chồng bàn bạc, thỏa thuận quyết định lựa chọn nơi cư trú. Quy định của pháp luật
nhằm xóa bỏ những quan niệm, tập tục có tính chất bắt buộc chỗ ở chung của nam nữ sau
khi kết hôn theo nguyên tắc “thuyền theo lái, gái theo chồng” hay tập tục ở rể của đồng
bào một số dân tộc thiểu số. Tuy nhiên điều đó không có nghĩa là nhà làm luật cho phép
vợ chồng tự do thỏa thuận về việc không chung sống dưới cùng một mái nhà. Điều đó đi
ngược lại mục đích của hôn nhân, phá vỡ nghĩa vụ chung sống của vợ chồng cũng như
việc củng cố quan hệ vợ chồng.
2.1.2. Tự do lựa chọn tín ngưỡng, tôn giáo
Điều 22 Luật HNGĐ quy định “ vợ, chồng tôn trọng quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo
của nhau; không được cướng ép, cản trở nhau theo hoặc không theo một tôn giáo nào”.
Điều luật này nhằm cụ thể điều 70 của Hiến pháp 1992, theo đó vợ, chồng không bị
cưỡng ép theo hoặc không theo một tôn giáo nào. Thông thương vấn đề tôn giáo được các
bên giải quyết trước khi kết hôn. Nhưng trong quá trình chung sống họ hoàn toàn có thể
cấm mọi hành vi của các thành viên trong gia đình xâm phạm đến các quyền tự do thân
thể của cá nhân. Do đặc thù của quan hệ HNGĐ mang tính gắn bó, tình cảm và do định
kiến xã hội mà người chồng thường có hành vi bạo lực xâm phạm đến người vợ và vì
cuộc sống gia đình yên ấm mà người vợ thường nhẫn nhịn chịu đựng. Quyền này đặt ra
nhằm ngăn chặn các hành vi bạo lực gia đình.
Do đây là quyền cơ bản của mỗi con người chứ không chỉ của vợ hay chồng nên nó
được quy định cụ thể trong nhiều văn bản pháp luật như Hiến pháp 1992, Bộ Luật Dân sự
2005, Luật bình đẳng giới 2006, Bộ luật Hình sự 1999…
- Về thân thể:
Theo BLDS 2005 thì vợ hoặc chồng có quyền quyết định tặng cho các bộ phận trong
thân thể mình lúc còn sống và sau khi chết (điều 33, 34); vợ hoặc chồng không có quyền
sở hữu đối với tử thi của chồng hoặc vợ mình và do đó không có quyền tặng cho toàn bộ
hoặc một phần tử thi đó. Vợ hoặc chồng được tự do quyết định biện pháp chăm sóc y tế
cho chính mình. Và suy ra theo logic thì người vợ hoàn toàn có quyền quyết định việc
mang thai hay phá thai.
- Về uy tín, danh dự:
7
Theo điều 21 khoản 1 Luật HNGĐ 2000 thì vợ chồng không có quyền xúc phạm đến
danh dự, uy tín của nhau. Được thể hiện qua hai dạng hành vi: thứ nhất, người chồng (vợ)
trực tiếp có lời lẽ xúc phạm, chửi rủa vợ (chồng); thứ hai, chồng (vợ) đứng về bên phía
những người xúc phạm đến vợ (chồng) mình. Ví dụ như người chồng đứng về phía mẹ
đẻ, nghe theo mẹ đẻ mà chửi mắng vợ một cách vô cớ…
2.3. Quyền được làm cha mẹ và nuôi con nuôi
Quyền được làm cha, làm mẹ được pháp luật Việt Nam công nhận và bảo vệ thông
qua hai căn cứ phát sinh quyền này dựa trên sự kiện sinh đẻ và nuôi con nuôi:
- Thông qua sự kiện sinh đẻ: pháp luật không phân biệt việc sinh con và được nhận là
con trong điều kiện cha mẹ không có hôn nhân hay không có hôn nhân hợp pháp. Trong
trường hợp người phụ nữ đơn thân muốn thực hiện quyền làm mẹ của mình pháp luật
cũng tạo điều kiện cho người đó được thực hiện quyền này bằng cách sinh con theo
phương pháp khoa học. Đối với vợ chồng không thể sinh con tự nhiên thì pháp luật cho
thân giữa vợ và chồng có nhiều khác biệt nhằm hướng tới mục tiêu xây dựng gia đình bền
vững, hạnh phúc. Một số quan hệ nhân thân bị giới hạn bới các quy định của pháp luật
khi nhà làm luật đặt ra một số tiêu chuẩn, điều kiện nhất định. Mặc dù Luâth HNGĐ quy
định vợ và chồng có các quyền và nghĩa vụ ngang nhau nhưng thực tế theo phong tục Á
Đông nên phụ nữ thương ở thế yếu. Các quy định trên do đó còn nhằm bảo vệ phụ nữ,
ngăn chặn bạo lực gia đình.
9