VUA TRẦN NHÂN TÔNG VỚI THIỀN PHÁI TRÚC LÂM 5 - Pdf 20

VUA TRẦN NHÂN TÔNG VỚI THIỀN PHÁI TRÚC LÂM
5
Đại than thiền tướng tùng lâm hổ
Lão khí hùng thôn thập vạn phu
Trực thụ thần phan my địch lũy,
Khinh đề tuệ kiếm tiễn hung đồ.
Lâm phong mật tụng kỳ quân chú,
Hướng nhật liên thư phá tặc phù.
Tảo sấn công danh suyền tấu khải,
Lăng Yên thiêm họa quốc sư đồ.
(Đại Than thiền tướng, cọp rừng thiền,
Khí mạnh nuốt trơn muôn vạn binh,
Dựng thẳng phan thần, san lũy địch,
Nhẹ đưa gươm tuệ, diệt hung quân.
Gió qua niệm chú cầu quân thắng,
Trời nhắm họa bùa phá địch thành.
Sớm bước công danh nhanh báo tiệp,
Lăng Yên thầy nước vẽ nên tranh.)

Có thể nói đây là lần đầu tiên và duy nhất trong lịch sử dân tộc những nhà sư đã
được sử dụng như những người lính phục vụ chiến trường. Đây hẳn là vang bóng
của thời kỳ chiến tranh vệ quốc vào những năm 1285 và1288, mà các thiền sư cư
sĩ nổi danh như Tuệ Trung với tư cách là Hưng Ninh Vương đã cùng với em mình
là Trần Hưng Đạo tiến quân giải phóng Thăng Long vào mùa xuân năm 1285. Từ
đó, việc thành lập đội quân nhà sư do thiền sư Đại Than chỉ huy vào năm 1381
chứng tỏ thiền phái Trúc Lâm vào cuối thế kỷ 14 đã phát triển rầm rộ.

Thực tế, bên cạnh đội quân của thiền sư Đại Than, ĐVSKTT 8 tờ 16b8 - 17a7 còn
ghi lại cuộc khởi nghĩa do thiền sư Phạm Sư Ôn lãnh đạo tại Quốc Oai. Phạm Sư
Ôn chắc chắn cũng phải thuộc thiền phái Trúc Lâm. Vì như Lược dẫn thiền phái
đồ đã ghi, từ đầu thế kỷ thứ 14 chỉ có “tông môn” của phái thiền Trúc Lâm Yên

đó cũng là một điều không đúng với giáo chỉ Thích Ca cho lắm, không đúng với
giáo lý hư vô tịch diệt”1. Khi viết như thế, không biết họ đã dựa vào căn cứ kinh
điển nào hay chỉ là một phản ảnh huyễn hoặc những suy nghĩ chủ quan của họ về
nhà sư, rồi phóng đại lên thành những câu nói vô bằng, bừa bãi. Cả 100 năm
nghiên cứu Phật giáo trên thế giới, nhiều vấn đề đã được đặt ra, mà trong đó quan
trọng nhất là vấn đề đức Phật đã dạy những gì. Nhiều trường phái Phật học ra đời
để trả lời cho câu hỏi vừa nêu, nổi bật nhất là ba trường phái Anh - Đức, Pháp - Bỉ
và Nga. Thế mà có những người tưởng mình nắm được “giáo chỉ Thích Ca” rồi ăn
nói vu vơ vung vít. Cho nên, không thể nói về giáo lý Phật giáo một cách dễ dàng
như bao nhiêu người lầm tưởng. Từ xưa, nhiều người đã diễn tả tình trạng học tập
nghiên cứu khó khăn giáo lý Phật giáo này với câu “Y kinh giải nghĩa tam thế Phật
oan, ly kinh nhất tự tức đồng ma thuyết”(dựa kinh giải nghĩa thì oan cho ba đời
đức Phật, rời kinh một chữ thì giống với thuyết ma).

Dẫu sao đi nữa thì trong lịch sử Phật giáo Việt Nam các đội quân phò giúp hoặc
chống lại triều đình tương đối không nhiều. Và hầu như đây là những trường hợp
cá biệt, đột xuất, do tình thế quá bức bách mà phát sinh. Vai trò của Phật giáo rộng
lớn hơn nhiều trong lịch sử Việt Nam, đó là vai trò văn hóa, vai trò di phong dịch
tục. Chính vai trò này đã tạo cơ hội cho Phật giáo để lại dấu ấn rất sâu đậm trong
dòng lịch sử ấy. Vào những năm cuối thế kỷ thứ 14, vai trò này của Phật giáo vẫn
tiếp tục nổi bật. Ta có thể minh chứng điều này qua các sự việc sau. Đó là trường
hợp thiền sư Đạo Khiêm đã giảng học cho người anh hùng Nguyễn Trãi, mà sau
này Nguyễn Trãi ghi lại việc mình đã từng được giảng học hơn mười năm trời, và
từng ngồi thưởng thức cảnh núi non hùng vĩ của Côn Sơn, như ông mô tả trong bài
thơ đưa nhà sư Đạo Khiêm về núi:

Ký tằng giảng học thập dư niên
Kim hựu tương phùng nhất dạ niên
Thả hỷ trần trung phao tục sự
Tiện tầm thạch thượng thoại tiền duyên.

Nguyễn Trãi sinh năm 1380 và đã già khi viết bài thơ trên vào khoảng những năm
1435. Do thế, vị thiền sư Đạo Khiêm của chúng ta phải sinh ra trước Nguyễn Trãi
ít nhất là mươi lăm năm để có thể giảng cho Nguyễn Trãi học trong hơn mười
năm, khi Nguyễn Trãi sống tại nhà ông ngoại mình là tư đồ Trần Nguyên Đán ở
Côn Sơn, tức khoảng những năm 1386 cho đến trước năm1400, lúc Nguyễn Trãi
dự khóa thi thái học sinh đầu tiên của triều đại nhà Hồ và đã đỗ. Nói khác đi, Đạo
Khiêm phải sinh vào khoảng năm 1370 và có thể sống tiếp ở Côn Sơn ngay cả sau
khi vụ án Lệ chi viên xảy ra vào năm 1442. Niên đại của thiền sư Đạo Khiêm do
thế rơi vào giữa những năm 1370 -1445.

Đồng thời với Đạo Khiêm ta có một vị thiền sư khác biết dưới tên Viên Thái,
người đã dịch tác phẩm Cổ châu Pháp Vân Phật bản hạnh ngữ lục của thiền sư
Kim Sơn ra tiếng Việt quốc âm. Niên đại của vị thiền sư này cho đến ngày nay vẫn
chưa được xác định. Tuy nhiên, qua lối dịch đuổi và cách dùng chữ cho phép ta
giả thiết Viên Thái không thể sống muộn hơn năm 1550. Thêm vào đó, vì Pháp
Tính đã diễn Cổ châu Pháp Vân Phật bản hạnh ngữ lục ra thơ, nên có người đã đề
nghị giả thiết là bản dịch của Viên Thái với tư cách một bản dịch văn xuôi tất phải
xuất hiện trước bản dịch thơ được giả thiết là của Pháp Tính. Và Pháp Tính thì
sống vào khoảng giữa những năm 1470 -1550. Điều này có nghĩa Viên Thái phải
sống trước niên đại đó.1

Ngoài ra hiện còn được bảo lưu một bản dịch bằng tiếng quốc âm kinh Phật thuyết
đại báo phụ mẫu ân trọng mà qua phân tích những chứng cứ nội tại cho phép ta
phải đặt bản dịch này vào nửa đầu thế kỷ thứ 15. Chẳng hạn việc viết chữ húy tên
vua Lê Thái Tổ. Đây là một điểm chỉ cho thấy bản in được xuất hiện trước khi vua
Lê Thánh Tông giải tỏa về việc viết kỡ húy vào năm 1469. Bản dịch cũng như bản
in Phật thuyết đại báo phụ mẫu ân trọng kinh phải ra đời trong khoảng những năm
1428 -1469. Một lần nữa bản dịch tiếng quốc âm bản kinh này lại được thực hiện
theo lối dịch đuổi. Văn phong và ngữ cú của nó có nhiều nét tương tự với bản dịch
tiếng quốc âm Cổ châu Pháp Vân Phật bản hạnh ngữ lục. Vì thế, người ta có thể


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status