VUA TRẦN NHÂN TÔNG VỚI THIỀN PHÁI TRÚC LÂM
3
Chính xuất phát từ tư tưởng Hoa Nghiêm này, mà lần đầu tiên các phạm trù đối
lập nhau trong tư tưởng nhân loại như có và không, thị và phi, phải và trái mới
được giải quyết một cách căn bản. Có và không chỉ tồn tại trong một tương quan
nào đó. Chẳng có cái có tuyệt đối cũng như chẳng có cái không tuyệt đối. Nếu
nhìn dưới góc độ tư tưởng Hoa Nghiêm, có và không chỉ là hai mặt của một vấn
đề. Chúng không đối lập loại trừ lẫn nhau. Cái có chỉ biết là có vì nó liên hệ với
cái không có. Và cái không có cũng thế. Cho nên, vua Trần Nhân Tông trong buổi
giảng tại chùa Sùng Nghiêm vào tháng 12 năm Giáp Thìn 1304, đã cho rằng: Vì
người ta quên khái niệm có, không trong một liên hệ như thế, nên khi bàn luận thì
giống như người chỉ nhìn thấy ngón tay mà không thấy mặt trăng, như kẻ ôm cây
đợi thỏ, như người đi tìm ngựa mà dựa theo bản đồ:
Câu không câu có
Chẳng có chẳng không
Khắc thuyền tìm gươm
Bản đồ kiếm ngựa
Câu có câu không
Đắp đổi hay không
Nón tuyết giày bông
Ôm cây đợi thỏ
Câu có câu không
Từ nay từ xưa
Quên trăng giữ ngón
Chết đuối trên bờ.
(Hữu cú vô cú
Phi hữu phi vô
Khắc chu cầu kiếm
Sách ký án đồ
không chỉ giới hạn trong ba vị tổ ấy. Bên cạnh Huyền Quang mất vào năm 1334,
tức chỉ sau Pháp Loa 4 năm và thọ đúng 80 tuổi, ta còn có những đệ tử khác của
Pháp Loa như Cảnh Huy, Cảnh Ngung, Huệ Chúc và đặc biệt là Kim Sơn.
Kim Sơn là người được vua Trần Minh Tông không những coi là vị thiền sư “được
cốt tủy của Phổ Huệ”, như Thánh đăng ngữ lục tờ 38b4-5 đã ghi, mà còn được vị
vua này suy tôn làm Trúc Lâm tam đại thiền tổ, khi ông sắp mất vào năm 1358.
Thánh đăng ngữ lục tờ 38b7-39a6 đã viết về sự kiện này như sau: “Vua sắp băng
hà, có kệ trình Kim Sơn nói: Đệ tử không ở trong bệnh cảnh gửi cho thiền tổ đời
thứ ba Trúc Lâm. Đệ tử ôm bệnh muốn cả tuần. Đêm nằm, ngày uống thuốc,
không ăn một hạt cơm, nhưng hạt hạt đều nhai hết. Nếu có người hỏi vị nó thế nào
thì đáp chẳng có vị gì hết, lại xin trình bài kệ:
Chứa thuốc muốn trị bệnh
Không bệnh đâu dùng thuốc
Nay có cơm không hạt
Người không miệng nhai hết
Lại viết thư mời Kim Sơn đến tăng phòng Động Tiên xem bệnh”.
Vậy nói tới vị tổ thứ ba của dòng thiền Trúc Lâm, ta phải kể tới Kim Sơn, chứ
không phải Huyền Quang. Trong các tư liệu hiện còn, trừ sách Tam tổ thực lục ra,
không có bất cứ tư liệu nào gọi Huyền Quang là tam đại thiền tổ cả, mà chỉ gọi là
“tự pháp”, tức nối dõi dòng pháp của Pháp Loa. Cần chú ý là Niên phổ của Pháp
Loa trong Tam tổ thực lục tờ 19a6 đã gọi Pháp Loa là “Trúc Lâm đệ nhị đại”. Việc
vua Trần Minh Tông gọi thiền sư Kim Sơn là Trúc Lâm tam đại thiền tổ, do thế,
chính thức coi Kim Sơn là người kế thế dòng thiền Trúc Lâm cho đến ít nhất là
năm 1358, khi vua Trần Minh Tông mất. Dòng thiền Trúc Lâm sau cái chết của
Huyền Quang năm 1334 vẫn tiếp tục phát triển mạnh mẽ dưới sự ngoại hộ của
triều đình nhà Trần.
Việc trình bày lịch sử phát triển của thiền phái Trúc Lâm qua ba vị tổ Trần Nhân
“Việc làm ra mà mọi người giống nhau, nếu có người khác, thì liền nghi. Còn lời
nói ra mà mọi người không giống nhau, nếu có một người chủ trì thì tin. Thế tục
bàn bạc không căn cứ đã lâu rồi, nên ghi ra thì không thể không nghiên cứu.
Sư Huyền Quang là người thời Trần, tu đạo ở chùa Hoa Yên núi Yên Tử, có hiệu
là Trúc Lâm Đệ Tam Tổ. Việc tu trì giới định thì không có bằng chứng gì. Kẻ hiếu
sự truyền rằng sư đã đậu trạng nguyên rồi mới trở về với đạo Phật.
Anh Tông nghi ngờ sư chưa thành thật, lén sai cung nữ thử, quả lấy được vàng
ròng mà vua đã ban để đem về. Người ta theo đó mà làm ra phú và truyện để ghi
thật lại sự việc. Nên sự chân tu của sư rốt cuộc không thể rõ ràng được.
Gần đây ông Nguyễn làng Cổ Đô1 viết hạnh, bắt đầu cắt bỏ những chỗ thừa dư để
sửa khác lại, cũng chỉ nói đến sự thật là sự từ bỏ vinh hoa và ngộ đạo. Còn đến lời
vu cáo phá giới, lẽ có không thì chưa từng được biện bác xác thực.
Phàm mày ngài đãy thúy là chuyện người ta yêu nhất ở trong cung. Mà chỉ vì
không tin nên thử, thì há có chuyện bỏ cái mình yêu nhất để thử người mình không
tin ư? Một người con gái mặt hồng, muôn dặm núi xanh, việc đó là muôn phần
không rõ ràng rồi. Giả như có đi nữa, cửa tùng đêm vắng, án thiền canh thâu, thì
mới đem việc gặp đức Di Lặc Thế Tôn mà trả lời. Lời gái thêu dệt bên ngoài
chẳng phải là chỗ đáng nghe của nhà sư. Vốn là trong sạch chay tịnh mà nhất đán
có tiếng người làm dơ lỗ tai, sư riêng không thể làm anh chàng nước Lỗ chẳng
được ư? chẳng thể chống lại ư? Một cõi rừng thiền, há không có nhà riêng, chỗ
đáng cho con gái nghỉ ngơi sao? Tre gầy hoa xuân, đã không thể thăm lúc mới
vào, thì lòng hoa đào, mình xinh đẹp lại chịu lén lút đi quanh thềm sao? Lòng như
tro bụi, mà một sáng vì không người để mắt, lơ đễnh giữ gìn, sư lại không thể học
theo chỗ được của Liễu Hạ Huệ ư? Sư cố nhiên chẳng thích vàng, người kia mới
đem cái sắc đẹp khuynh thành ra mà nhử ta, lặng lẽ quan sát để làm thương tổn
đến lòng thương cho vàng mà rơi vào cái bả của nó, mà tự chuốc lấy sự dơ dáy đối