Lời mở đầu
ở nớc ta hiện nay, với cơ chế thị trờng có sự quản lý của nhà nớc, xây dựng
trở thành một ngành sản xuất kinh doanh độc lập. Nó chiếm một vị trí quan trọng
trong quá trình xây dựng cơ sở vật chất kỹ thuật cho con đờng tiến lên chủ nghĩa
xã hội ở nớc ta. Xây dựng bao gồm các tổ chức chuyên nhận thi công, cung cấp
các dịch vụ về xây dựng . Các tổ chức này đều phảI tự hạch toán kinh doanh nới
hình thức xây dựng theo kiểu giao nhận thầu giữa chủ đầu t và chủ thầu xây dựng
là chủ yếu. Điều thay đổi này đã tạo sự phát triển vợt bậc trong ngành xây dựng
của nớc ta về số lợng các doanh nghiệp xây dựng, số lợng và chất lợng các công
trình xây dựng, điều này đã đáp ứng đợc các yêu cầu phát triển của nền kinh tế.
Tuy nhiên, nói tới nền kinh tế thị trờng ngời ta không thể nói tới tính cạnh
tranh khốc liệt của nó. Trong các doanh nghiệp xây dựng cũng vậy, có những
doanh nghiệp luôn trúng thầu, thờng xuyên làm ăn có lãI, mở rộng quy mô, tạo
công ăn việc làm cho cán bộ công nhân viên trong doanh nghiệp. Nhng ngợc lại
cũng có những doanh nghiệp làm ăn thua lỗ, cán bộ công nhân viên không có việc
làm, đời sống khó khăn. Điều này xuất phát từ nhiều vấn đề, nhng trong nền kinh
tế thị trờng, thì vấn đề quan trọng nhất để thắng thế trong cạnh tranh là tăng chất l-
ợng công trình và hạ giá thành sản phẩm. Vì vậy, việc xác định chính xác giá
thành snả phẩm là việc làm rất cần thiết. Nó giúp các nhà quản lý điều hành phân
tích, ra quyết định chủ động đúng đắn về giá cả và sử dụng hợp lý hơn nữa các yếu
tố chi phí cấu thành nên sản phẩm xây lắp. Muốn xác định đợc chính xác giá
thành sản phẩm, thí doanh nghiệp phảI hạch toán đầy đủ, chính xác chi phí sản
xuất, tính đúng và tính đủ giá thành snả phẩm xây lắp.
Nhận thức đợc sự cần thiết của vấn đè trên, sau một thời gian thực tập tại
công ty cổ phần xây dựng số 9- VINACONEX 9, đồng thời đợc sự chỉ bảo và h-
ớng dẫn tận tình của cô giáo Trần Thị Mẽ, bác kế toán trởng Lại Văn Thăng, cùng
các cô chú, anh chị trong công ty em đã lựa chọn và hoàn thành chuyên đề thực
tập tốt nghiệp của mình là: Kế toán tập hợp chi phí sản xuất và tính giá thành
sản phẩm xây lắp tại công ty cổ phần xây dựng số 9.
1
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp gồm ba phần:
phảI trả cho công nhân sản xuất hình thành nên hoa phí lao động sống. Trong nền
sản xuất hàng hoá, các hoa phí trên đợc biểu hiện bằng tiền gọi là chi phí sản xuất.
Vậy chi phí sản xuất của doanh nghiệp xây lắp là biểu hiện bằng tiền của
toàn bộ hao phi lao động sống và hao phí lao động vật hoá phát sinh trong quá
trình xây lắp, trong mỗi kỳ nhất định.
Tuy nhiên, hiện nay có một số khoản không thuộc hao phí trên, phát sinh
trong quá trình sản xuất. Ví dụ: Thuế sử dụng đất nông nghiệp, VAT không đợc
khấu trừ, vẫn qui định là chi phí sản xuất.Vai trò và nhiệm vụ
b/ Giá thành sản phẩm xây lắp:
Giá thành sản phẩm xây lắp là toàn bộ chi phí sản xuất tính cho tong công
trình, hạng mụccông trình hay khối lợng xây lắp hoàn thành cho đến giai đoạn quy
ớc hoàn thành nghiệm thu bàn giao và đợc chấp nhận thanh toán.
Do sản phẩm xây lắp mang tính đơn chiếc, kết cấu phức tạp không công
trình nào giống công trình nào, nên mỗi công trình, hạng mục công trình, khối l-
ợng xây lắp hoàn thành đều có giá trị riêng.
3
Mặt khác trong doanh nghiệp xây lắp, giá bán( giá dự thầu) có trớc giá
thành sản xuất. Vì vậy càng hạ giá thành sản xuất mà chất lợng công trình không
thay đổi thì càng có lợi, càng có nhiều khả năng cạnh tranh hơn nên các doanh
nghiệp xây lắpcó giá thành kế hoạch để phấn đấu hạ giá thành.
Sản phẩm xây lắp có kết cấu phức tạp, thi công ngoài trời nên dễ phát sinh
nhiều chi phí, xa nơI hạch toán, khó kiểm soát. Để quản lý chặt chẽ chi phí và đảm
bảo khả năng có lãi, các doanh nghiệp xây lắp có giá thành dự toán để giới hạn
mức chi phí cao nhất mà đơn vị có thể chia ra cho mỗi công trình. Đồng thời để
nâng cao hiệu quả của hoạt động xây lắp, các doanh nghiệp thờng khoán sản phẩm
xây lắp cho tong tổ đội xây lắp. Cũng nh các doanh nghiệp công nghiệp, doanh
nghiệp xây lắp cũng cần có giá thành thực tế để phản ánh chất lợng snae xuất.
1.1.2/ Bản chất chi phí sản xuất và giá thành sản phẩm
Về mặt bản chất, chi phí sản xuất và giá thành sản phẩm là biểu hiện hai
mặt của quá trình sản xuất kinh doanh. Cũng giống nhau về chất vì đều cùng biểu
trong doanh nghiệp xây lắp
Để tiến hành sản xuất kinh doanh nói chung, xây dựng cơ bản nói riêng các
doanh nghiệp phảI bỏ ra một khoản chi phí về lao động sống, đó là tiền thởng và
các khoản phảI trả cho ngời lao động cùng các chi phí khác về lao động vật hoá
nh: chi phí nguyên vật liệu, phụ ting, dịch vụ mua ngoài, chi phí khấu hao tài sản
cố định
Các loại chi phí này thờng xuyên phát sinh và gắn liền với các hoạt động
của doanh nghiệp. Nhận biết đợc tầm quan trọng của quản lý chi phí sản xuất nh
vậy mà trong mỗi loại hình doanh nghiệp có những hình thức quản lý chi phí sản
xuất khác nhau. Tuy vậy, yêu cầu quản lý chi phí sản xuất trong các doanh nghiệp
xây dựng cơ bản là quản lyc chi phí theo dự toán. Dự toán đợc lập trên cơ sở các
định mức kinh tế kỹ thuật, định giá xây dựng cơ bản, tỷ xuất vốn đầu t, lợi nhuận
định mức, các thông t, chế đọ quản lý theo chế độ hiệ hành của nhà nớc.
Tổng dự toán công trình là tổng chi phí cần thiết cho việc đầu t xây dựng
công trình gồm các khoản chi phí có liên quan nh: Chi phí xây lắp, chi phí mua
sắm thiết bị, chi phí dự phòng và các chi phí khác.
1.3/ Vai trò và nhiệm vụ của kế toán chi phí sản xuất và tính giá thành
sản phẩm trong doanh nghiệp xây lắp
5
Ngành xây dựng cơ bản và sản phẩm xây dựng có những đặc trng riêng với
các ngành khác, do vậy việc quản lý quá trình đầu t và xây dựng cơ bản là cả một
quá trình khó khăn phức tạp. Trong đó tiết kiệm chi phí sản xuất, hạ giá thành sản
phẩm là một trong những vấn đề đợc quan tâm hàng đầu trong các doanh nghiệp.
Theo qui định hiện hành trong xây dựng cơ bản hiện nay chỉ áp dụng hình
thức đấu thầu và chỉ định thầu, không áp dụng hình thức giao thầu. Vì vậy để
trúng thầu xây dựng thi công một công trình thì phảI xây dựng một giá thầu hợp lý
cho công trình đó dựa trên cơ sở định mức đơn giá xây dựng do nhà nớc ban hành
trên cơ sở giá thành của doanh nghiệp đồng thời phảI đảm bảo kinh doanh có lãi.
Để thực hiện đợc những điều trên, kế toán cần phảI thực hiện tốt các nhiệm
vụ sau:
Để thực hiện đợc yêu cầu đó phảI tăng cờng công tác quản lý sản xuất nói
chung và quản lý chi phí sản xuất , tính giá thành nói riêng
II/ Phân loại chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm trong doanh
nghiệp xây lắp
2.1/ Phân loại chi phí sản xuất trong doanh nghiệp
Chi phí sản xuất gồm nhiều loại, nhiều khoản có nội dung, tính chấ kinh tế
và có yêu cầu quản lý khác nhau. Vì vậy, trong công tác quản lý, công tác tập hợp
chi phí sản xuất phảI thực hiện đối với tong loại. Do đó phảI phân loại chi phí sản
xuất(CPSX) theo các tiêu thức khác nhau. Sau đây là hai cách phân loại CPSX chủ
yếu dùng trong doanh nghiệp sản xuất.
2.1.1/ Phân loại chi phí sản xuất theo nội dung tính chất kinh tế của chi
phí
Đặc điểm chủ yếu của cách phân loại này là dựa vào nội dung, tính chất
kinh tế hoặc hình tháI nguyên thuỷ ban đầu của CPSX trong kỳ để sắp xếp các chi
phí có cùng nội dung kinh tế vào một loại mà không phân biệt chi phí đó phát sinh
ở đâu và nơI nào chịu chi phí.
Theo cách phân loại này toàn bộ chi phí sản xuất của doanh nghiệp đợc
phân thành 5 yếu tố:
- Chi phí nguyên vật liệu gồm: Vật liệu chính, vật liệu phụ, nhiên liệu,
phụ tùng thay thế, công cụ dụng cụ Tuy nhiên yếu tố này cần phảI loại trừ giá
trị vật liệu dùng không hết nhập kho và phế liệu thu hồi( không gồm các thiết bị
do chủ đầu t bàn giao).
- Chi phí nhân công gồm: Tiền lơng, tiền công phảI trả, các khoản trích
theo lơng tính vào chi phí công nhân viên.
- Chi phí khấu hao TSCĐ gồm toàn bộ số khấu hao trích cho TSCĐ, phục
vụ sả xuất, quản lý ở tổ, đội
7
Chi phí dịch vụ mua ngoài gồm toàn bộ số tiền doanh nghiệp phảI chi trả về
các dịch vụ mua từ bên ngoài nh tiền điện, nớc, phục vụ cho hoạt động sản xuất,
quản lý tổ, đội xây lắp trong kỳ.
8
tính vào chi phí snả xuất chung, BHYT, KPCĐ, BHXH của toàn cán bộ công nhân
viên
* Tác dụng của cách phân loại này: Là căn cứ cho việc tập hợp chi phí sane
xuất và tính giá thành theo khoản mục và xác định kết quả hoạt động sản xuất
kinh doanh. Đồng thời nó cũng là căn cứ để phân tích tình hình thực hiện kế hoạch
giá thành sản phẩm, là cơ sở để lập định mức, quản lý chi phí sản xuất và lập kế
hoạch giá thành sản phẩm cho kỳ sau
2.2/ Phân loại giá thành sản phẩm trong doanh nghiệp xây lắp
- Căn cứ vào phạm vi tính toán và nội dung của chi phí cấu thành nên giá
thành thì giá thành sản phẩm xây lắp gồm hai loại:
+ Giá thành sản xuất bao gồm chi phí nguyên liệu sản xuất, chi hpí nhân
công trực tiếp, chi phí sử dụng máy thi công và chi phí sản xuất chung. Các chi phí
này là căn cứ ghi sổ trị giá vốn công trình, hạng mục công trình hoàn thành bàn
giao và tính gộp lãi
+ Giá thành toàn bộ: Gồm giá thành sản xuất, chi phí bán hàng và chi phí
quản lý doanh nghiệp phân bổ cho từng công trình, hạng mục công trình. Đây là
căn cứ để tính lợi nhuận trớc thuế
- Căn cứ vào số liệu và thời điểm tính giá. Giá thành sản phẩm xây lắp
gồm 3 loại
+ Giá thành dự toán: Là tổng chi phí dự toán để hoàn thành sản phẩm xây
lắp và đợc xác định trên cơ sở định mức kinh tế kỹ thuật, đơn giá của nhà nớc
Giá thành dự toán =giá dự toán-thu nhập chịu thuế tính trớc-thuế GTGT đầu
ra
Giá trị dự toán của sản phẩm xây lắp là giá trị mà bên A đã duyệt. Giá thành
dự toán bao gồm các chi phí sản xuất trực tiếp
+ Giá thành kế hoạch: Đợc xây dựng trên cơ sở giá thành dự toán và mức
phấn đấu hạ giá thành do bộ phận kế hoạch lập
Giá thành kế hoạch=giá thành dự toán của sản phẩm xây lắp-mức hạ giá
thành kế hoạch
việc phát sinh chi phí sản xuất luon gắn liền với nơI diễn ra hoạt động sản
xuất( đội, tổ), và với sản phẩm sản xuất. Vì vậy khâu quan trọng đầu tiên của kế
toán tập hợp chi phí sản xuất là xác định phạm vi tập hợp chi phí sản xuất tức là
xác định chi phí đó liên quan đến phân xởng, bộ phận sản xuất nào. Sau đó tập hợp
10
chi phí sản xuất theo yếu tố, khoản mục chi phí đã phân laọi theo từng đối tợng tập
hợp.
Sở dĩ kế toán chi phí sản xuất phảI xác định đối tợng tập hợp chi phí sản
xuất vì việc tập hợp chi phí sản xuất phục vụ cho việc tính giá thành. Xác định đối
tợng tập hợp chi phí đúng đắn là cơ sở cho việc tính giá thành dễ dàng và chính
xác vì đối tợng tập hợp chi phí sản xuất có quan hệ với đối tợng giá thành, và đôi
khi chúng còn phù hợp với nhau. Mặt khác chúng còn phù hợp với nhau mặt khác
việc tập hợp chi phí sản xuất theo đối tợng còn giúp công việc của ngời quản lý
thực hiện dễ dàng hơn: Biết đợc nơi phát sinh chi phí để quy trách nhiệm vật chất
về những chi phí đã chi ra nếu nếu nh chi phí đó là cha hơp lý.
Đối tợng tập hợp chi phí sản xuất là phạm, vi giới hạn mà các chi phí sản
xuất trong kỳ cần đợc cần đợc tổ chức tập hợp theo phạm vi, giới hạn đó nhằm
phục vụ cho việc kiểm tra, giám sát tổng hợp chi phí và tính giá thành sản phẩm.
Để xác định đối tợng kế toán tập hợp chi phí sản xuất, ngời ta căn cứ vào;
Đặc điểm sản xuất đơn vị (phân xởng tổ đội )
Loại hình sản xuất (đơn chiếc hay hàng loạt )
Quy trình công nghệ sản xuất (giản đơn hay phức tạp )
Yêu cầu và trình độ kế toán
Do đặc điểm tổ chức của đơn vị xây lắp là chia thành các tổ, đội xây lắp là
các công trình kiến trúc có quy mô lớn, kết cấu phức tạp, mỗi công trình lại bao
hàm nhiều hạng mục công trình, sản xuất theo đơn đặt hàng và thờng đợc xác định
là ngay sau khi hoàn thành. Vậy đối tợng kết toán là tập hợp chi phí sản xuất của
doanh nghiệp xây lắp là các công trình và hạng mục công trình, phần kỹ thuật
phần kỹ thuật và cũng có thể là tổ, đội sản xuất, đơn đặt hàng. Đối tợng tập hợp
chi phí sản xuất là cái gì thì chi phí phát sinh của nó sẽ đợc tập hợp theo đúng đối
Chất lợng công tác kiểm kê khối lợng xây lắp dở dang có ảnh hởng lớn đến
tính chính xác của việc đánh giá sản phẩm dở dang và tính giá thành.
Đặc điểm của việc xây dựng cơ bản là có kết cấu phức tạp, do đó việc xác
định chính xác mức độ hoàn thành của nó rất khó. Vì vậy khi đánh giá sản phẩm
làm dở kế toán cần kết hợp chặt chẽ với mức độ hoàn thành của khối lợng xây lắp
dở dang một cách chính xác.
Đối với doanh nghiệp xây lắp thờng áp dụng một trong những phơng pháp
đánh giá sản phẩm dở dang sau.
3.3.1 Đánh giá sản phẩm dở dang theo chi phí nguyên vât liệu chính
trực tiếp hoặc chi phí nguyên vật liệu trực tiếp
Theo phơng pháp này giá trị sản phẩm dở dang chi cần tính nguyên vật liệu
trực tiếp hoặc chi phí nguyên vật liệu trực tiếp, còn các khoản chi phí khác tính cả
cho sản phẩm hoàn thành. Măt khác, khi tính theo phơng pháp này, để đơn giản,
giảm bớt khối lợng tính toán, kế toán thờng quan niệm chi phi nguyên vật liệu
12
chính trực tiếp, nguyên vật liệu trực tiếp bỏ hết một lần ngay từ đầu quy trình sản
xuất. Vì vậy, giá trị sản phẩm dở dang cuối kỳ tính bằng công thức:
Giá trị sản phẩm Chi phí phát sinh
Giá trị sản dở dang đầu kỳ + trong kỳ Số l ợng
sản phẩm dở = * phẩm dở dang
dang c/ kỳ Số lợng sản phẩm + Số lợng sản phẩm cuối kỳ
hoàn thành dở dang cuối kỳ
Đối với những doanh nghiệp có quy trình công nghệ sản xuất sản phẩm, chế
biến phức tạp kiểu liên tục, sản phẩm phải trải qua nhiều gia đoạn chế biến liên
tục, khi áp dụng phơng pháp đánh giá sản phẩm dở dang này thì giá trị của sản
phẩm dở dang cuối kỳ của gia đoạn hai trở đi đợc đánh giá theo giá trị của nửa
thành phẩm giai đoạn trớc chuyển sang.
3.3.2. Đánh giá sản phẩm dở dang theo khối lợng sản phẩm hoàn thành
tơng đơng
Theo phơng pháp này, phải tính tất cả các khoản mục chi phi cho sản phẩm
So với phơng pháp đánh giá sản phẩm dở dangtheo chi phí nguyên vật liệu
trực tiếp, phơng pháp đánh giá sản phẩm dở dang theo khối lợng sản phẩm hoàn
thành tơng đơng đảm bảo tính hợp lý hơn và độ tin cậy cao hơn của chi phí sản
xuất kinh doanh dở dang cũng nh chỉ tiêu thành phẩm và giá vốn hàng bán trong
báo cáo kế toán. Tuy vậy, phơng pháp này cũng có nhợc điểm là khối lợng tính
toán nhiều, hơn nữa việc xác định mức độ chế biến hoàn thành của sản phẩm dở
dang là một công việc phức tạp mang nặng tính chủ quan.
3.3.3/ Đánh giá sản phẩm dở dang theo chi phí sản xuất định mức
Đối với các doanh nghiệp đã xây dựng đợc hệ thống định mức và dự toán
chi phí cho từng loại sản phẩm thì doanh nghiệp có thể áp dụng phơng pháp đánh
giá sản phẩm dở dang theo chi phí sản xuất định mức.
Theo phơng pháp này, kế toán căn cứ vào khối lợng sản phẩm dở dang,
mức đọ hoàn thành của sản phẩm dở dang ở rừng công đoạn sản xuất và định mức
từng khoản mục chi phí ở từng công đoạ sản xuất để tính ra giá trị sản phẩm dở
dang theo chi phí định mức.
Đánh giá sản phẩm dở dang theo phơng pháp phù hợp với điều kiện cụ thể
của từng doanh nghiệp sẽ là cơ sở để xác định đúng đắn giá trị sản phẩm dở dang,
đây là tiền đề đảm bảo tính đúng đắn của chỉ tiêu giá thành sản phẩm.
3.4/ Quy trình kế toán chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm theo
công việc( đơn đặt hàng)
Đặc trng của kế toán tính giá thành theo công việc là chi phí nguyên vật
liệu trực tiếp, nhân công trực tiếp, chi phí sản xuất chung đợc tính cộng dồn và tích
luỹ theo công việc.
Quá trình xử lý đơn đặt hàng sản xuất và kế toán giá thành theo đơn đặt
hàng đợc tiến hành theo trình tự sau:
14
-Quyết định sản
xuất
-Lệnh sản xuất
- Chi phí sản xuất chung biến đổi đợc phân bổ hết trong kỳ theo chi phí thực tế.
Sơ đồ khái quá trình kế toán chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm theo công
việc(đơn đặt hàng)
Chi tiết Chi tiết
TK 621 TK 154
16
TËp hîp
chi phÝ
NVLTT
Chi tiÕt Chi tiÕt
TK 622 Tk 155
TËp hîp
chi phÝ
NCTT
Chi tiÕt
TK 627
Tæng Chi tiÕt
chi phÝ TK 632
SXC
17
CPNVLTT
CPNCTT
CPSXC
ph©n bæ
Gi¸ thµnh
s¶n phÈm
hoµn thµnh
Gi¸ thµnh s¶n
căn cứ vào các chứng từ phản ánh các khoản chi phí này phát sinh để tập hợp trực
tiếp cho toàn bộ quy trình công nghệ sản xuất. Đối với chi phí sản xuất chung là
các khoản chi phí liên quan đến việc phục vụ và quản lý sản xuất ở các phân xởng,
đội sản xuất vẫn phải đảm bảo nguyên tắc phảI tập hợp theo địa điểm phát sinh chi
phí. Vì vậy, nếu doanh nghiệp tổ chức sản xuất theo phân xởng thì chi phí sản xuất
chung, trớc hết phảI đợc tập hợp theo từng phân xởng, sau đó mới tổng hợp toàn
quy trình công nghệ( toàn doanh nghiệp).
Tuy vậy, đối với chi phí sản xuất chung cố định vẫn phảI đợc phân bổ vào chi phí
chế biến sản phẩm phù hợp với công suất thực tế của máy móc thiết bị; phần chi
phí sản xuất chung không đợc phân bổ, đợc ghi nhận là chi phí sản xuất kinh
doanh trong kỳ.
Sơ đồ kháI quát quy trình kế toán chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm
theo toàn bộ quy trình sản xuất
19
TK152, 153 TK621 TK154 TK155
Xuất kho NVL, CCDC
Dùng cho SXSP và QLPX
Kết chuyển chi phí
NVL trực tiếp
TK 331, 111, 112
Mua NVL, CCDC Giá thành sản phẩm TK632
dùng cho SXSP và QLPX hoàn thành nhập kho
TK133 Giá thành sản phẩm
xuất kho bán trực tiếp
TK 334, 338 TK622
TL phảI trả và các khoản trích theo K/c chi phí
lơng của CNSX và NVQL NCTT
TK214 TK627 Giá thành sản phẩm
Bên có: Thực tế sản phẩm xây lắp hoàn thành trong kỳ.
D nợ: Phản ánh giá trị sản phẩm dở dang cuối kỳ
TK154 đợc mở chi tiết cho từng công trình, các giai đoạn công việc chung của
hạng mục công trình, các công việc hạng mục công trình. Số d cuối kỳ sẽ đợc xác
định trên cơ sở kiểm tra và đánh giá khối lợng đang xây lắp, gia công thiết bị còn
dở dang. Ngoài ra các khoản chi phí sẽ đợc phản ánh trên TK621, 622, 623, 627,
và các TK khác nh: 111, 112,133, 141, 152, 153, 214, 333, 334, 338,511, 642,
911
* Hệ thống chứng từ, sổ sách kế toán sử dụng
Một doanh nghiệp có thể tồn tại đợc trong điều kiện cạnh tranh của nền kinh tế
thị trờng thì yếu tố thiết lập hệ thống thông tin là rất cầc thiết, đặc biệt là các
thông tin kết quả về chi phi sản xuất và tính giá thành sản phẩm. Trên cơ sở những
ghi chép ban đầu, dựa vào những chứng từ kế toán và hệ thống TK, kế toán cần
xây dựng hình thức sổ sách thích hợp.
Nếu doanh nghiệp áp dụng theo hình thức Nhật ký chứng từ, hàng ngày căn cứ
vào các chứng tứ gốc đã đợc kiểm tra, làm số liệu ghi trực tiếp vào các Nhật ký
21
chứng từ số 1,2,3,4,5,6,7,8,9 Các bảng kê 4,5,6,7,9,10 và các sổ chi tiết liên
quan. đối với các Nhật ký chứng từ đợc ghi căn cứ vào bảng kê 4 ,5,6 và sổ chi
tiết ,sổ theo dõi thanh toán .Cuối tháng sẽ chuyển số liệu tổng cộng từ các sổ ,bảng
này vào. Nhật ký chứng từ số 1,2,3 và ghi vào bảng kê Nhật ký chứng từ liên quan.
Cuối tháng khoá sổ cộng các số liệu trên các chứng từ đối chiếu với sổ chi tiết để
vào sổ cái theo dõi từng khoả.
Để hoạch toán tổng hợp chi phí sản xuất , tính giá thành sản phẩm, các chi phi
tập hợp từ chứng từ gốc, các bảng phân bổ 1,2,3 bảng kê nhật ký chứng từ liên
quan để vào bảng kê 4,5,6. Từ đó sẽ chuyển vào nhật ký sổ cái TK liên quan còn
để theo dõi chi tiết kế toán phải mở số thẻ ghi chi tiết từng nghiệp vụ kế toán. cuối
tháng căn cứ vào các sổ, thẻ có liên quan để lên bảng chi tiết từng TK để đối chiếu
với sổ cái.
4. Đặc điểm tổ chức kế toán chi phí sản xuất và tính
- Danh mục tài khoản kế toán đợc sử dụng cơ sở, mã hoá cài đặt phần mềm
kế toán.
- Tổ chức tập hợp, kết chuyển hoặc phân bổ chi phí sản xuất theo đúng trình
tự đã xác định.
- Tổ chức xác định các báo cáo cần thiết về chi phí sản xuất và giá thành sản
phẩm để trơng trình tự động xử lý, kế toán chỉ việc xem in và phân tích chi phí sản
xuất và giá thành sản phẩm. Ngoài ra còn xây dựng sổ báo cáo có tính tự động và
xây dựng các chỉ tiêu phân tích cơ bản để thuận tiện cho việc bổ xung và phân
tích.
- Tổ chức kiểm kê, xử lý, cập nhật số lợng dở dang cuối tháng, số lợng sản
phẩm hoàn thành, sản phẩm dở dang đầu tháng , xây dựng phơng pháp đánh giá
sản phẩm dở dang khoa học hợp lý để xác định giá và hạch toán giá thành sản xuất
trong kỳ một cách đầy đủ và chính xác.
4.2 Nguyên tắc và các bớc tiến hành kế toán chi phí sản xuất và tính giá
thành sản phẩm trong điều kiện kế toán máy
Việc tập hợp chi phí sản xuất hoàn toàn do máy tự nhận dữ liệu từ các bộ phận
liên quan và tự may tính toán, phân bổ chi phí sản xuất trong kỳ. Do đó, từng
khoản mục chi phí phải đợc mã hoá ngay từ đầu tơng ứng với các đối tợng chịu chi
phí sản xuất và nhập dữ liệu sản phẩm dở dang cuối kì vào máy.
Lập thao tác các bút toán điều chỉnh, bút toán khai sổ, kết chuyển cuối kì trên
cơ sở hớng dẫn có sẵn.
Căn cứ vào yêu cầu ngời sử dụng thông tin, tiến hành kiểm kê các báo cáo cần
thiết.
23
Trình tự sử lý có thể khái quát theo sơ đồ sau:
Bớc chuẩn bị
Thu thập, xử lý các tài liệu cần thiết sản phẩm dở
dang, số lợng
-Phần mềm kế toán sử dụng
Dữ liệu đầu vào
tắc định khoản tao ra mối liêm hệ đối ứng giữa các tài khoản .
Thông thờng , đối với kế toán chi phí nguyên vật liếu trực tiếp thì việc nhập các
dữ liệu cố định , khai báo các thông số , nhập các dữ liệu vào các mục mà liên
quan đến các phần hành kế toán trớc ,chỉ trừ khi bổ xung , mở rộng quy mô
thêm vào danh mục . ngời sử dụng nhập dữ liệu phát sinh kì báo cáo khi vào
màn hình nhập liệu , xem thông báo và hớng dẫn khi nhập , ngời sử dụng thực
hiện thao tác quy trình nhập liệu mới .
Sau khi nhập liệu xong chơng trình sẽ tự động tính đơn giá bình quân của vật
t ở ô dơn giá kho và đa sẵn vào ô đơn giá .Nhấn nút lu để lu dữ liệu vào máy .
Sơ đồ luân chuyển chi nguyên vật liểu trực tiếp
Hàng tồn kho,
PN, PX,
chuyển kho
thẻ kho
NXT
kho
dữ
liệu
tổng
hợp
Sổ cái TK 621,
sổ chi tiết, nhật
kí