HIỆU QUẢ CỦA BÓNG CHÈN LÒNG TỬ CUNG ĐIỀU TRỊ BĂNG HUYẾT SAU SANH - Pdf 20

HIỆU QUẢ CỦA BÓNG CHÈN LÒNG TỬ CUNG ĐIỀU TRỊ BĂNG
HUYẾT SAU SANH
TÓM TẮT
Mục tiêu: Đánh giá hiệu quả điều trị và tính an toàn của phương pháp bóng
chèn lòng tử cung trong xử trí băng huyết sau sanh không do tổn thương đường
sinh dục tại bệnh viện Từ Dũ từ tháng 7 năm 2007 đến tháng 5 năm 2008.
Thiết kế nghiên cứu: thử nghiệm lâm sàng không nhóm chứng.
Cách tiến hành: Trong thời gian nghiên cứu từ tháng 07 năm 2007 đến tháng
5 năm 2008, chúng tôi ghi nhận có 56 trường hợp băng huyết sau sanh được
đưa vào nghiên cứu, thực hiện phương pháp bóng chèn lòng tử cung, phỏng
vấn và ghi nhận các yếu tố nguy cơ nhằm đánh giá hiệu quả của phương pháp
bóng chèn trong điều trị băng huyết sau sanh.
Kết quả: qua 56 trường hợp thỏa điều kiện đưa vào nghiên cứu, tỉ lệ thành
công của phương pháp bóng chèn lòng tử cung là 54/56 trường hợp (96,43%).
Thời gian từ lúc băng huyết sau sanh đến khi đặt bóng chèn lòng tử cung trung
bình: 13,6 ± 1,79 (9 – 17 phút). Thời gian trung bình chẩn đoán phương pháp
bóng chèn lòng tử cung có hiệu quả cầm máu từ 10 – 17 phút. Thời gian lưu
bóng chèn lòng tử cung từ 6 -8 giờ. Lượng dịch bơm vào bóng chèn lòng tử
cung từ 130 – 200 ml. Trong nghiên cứu của chúng tôi không có trường hợp
nào gặp tai biến trong suốt quá trình nghiên cứu.
Kết luận: Tỉ lệ thành công của phương pháp bóng chèn lòng tử cung trong xử
trí băng huyết sau sanh không do tổn thương đường sinh dục là 96,43% (54/56
trường hợp). Điều trị băng huyết sau sanh không do tổn thương đường sinh dục
sau điều trị nội khoa thất bại bằng phương pháp bóng chèn lòng tử cung là một
phương pháp điều trị bảo tồn an toàn và hiệu quả.
ABSTRACT
THE EFFICACY OF UTERINE BALLOON TAMPONADE IN
POSTPARTUM HEMORRHAGE

(Error! Reference source not found.,Error! Reference source not found.,Error! Reference
source not found.)
. Tại Việt Nam, tỷ lệ tử vong mẹ trung bình 165/100.000 các
trường hợp sinh sống, tại miền núi, tỷ lệ này còn cao hơn (411/100.000)
(Error!
Reference source not found.)
. Một số tác giả ghi nhận do có một tỷ lệ đáng kể thai phụ bị
thiếu máu thiếu sắt, cao huyết áp do thai, dinh dưỡng kém nên gần 50% sản
phụ việt nam sẽ có tình trạng băng huyết sau sanh nặng hơn, làm tăng bệnh suất
và tử suất ở thai phụ
(Error! Reference source not found.)
.
Tại Bệnh viện Từ Dũ, theo số liệu báo cáo của khoa sanh, băng huyết sau sanh
chiếm tỷ lệ từ 0,22 % đến 0,58 %, trong đó băng huyết sau sanh không do tổn
thương đường sinh dục thường gặp nhất là do tử cung gò kém (55%).
Điều trị băng huyết sau sanh có nhiều phương pháp: nội khoa và ngoại khoa.
Trong 100% các trường hợp băng huyết sau sanh được điều trị nội khoa ban
đầu bằng ocytocin và misoprostol 1.000g, gần 22% cần can thiệp điều trị
ngoại khoa sau đó. Năm 2005 có 14 trường hợp băng huyết sau sanh cắt tử
cung, năm 2006 có 12 trường hợp cắt tử cung, 2 trường hợp thắt động mạch tử
cung và động mạch hạ vị
(Error! Reference source not found.,Error! Reference source not found.)

Phương pháp bóng chèn lòng tử cung trong xử trí băng huyết sau sanh do tử
cung gò kém hay do nhau bám thấp hiện đã và đang nghiên cứu sử dụng tại các
nước trên thế giới. Tại Bệnh viện Hùng Vương, phương pháp bóng chèn lòng
tử cung cũng đã được đưa vào phác đồ điều trị băng huyết sau sanh. Đây là một
phương pháp điều trị bảo tồn tử cung đơn giản, dễ thực hiện. Khi điều trị nội
khoa thất bại, phương pháp này đem lại một cơ hội bảo tồn tử cung cho bệnh
nhân, đặc biệt đối với những người chưa có đủ số con; so với phương pháp

n: cỡ mẫu tối thiểu dùng cho nghiên cứu
α: xác suất sai lầm loại 1, chọn α = 0,05
p: tỷ lệ thành công của phương pháp bóng chèn lòng tử cung, chọn p= 0,875
theo nghiên cứu Condous
(Error! Reference source not found.)
.
d: độ chính xác tuyệt đối đứng về phía tỷ lệ, chọn d = 0,1.
Vậy n = 42,0175.
Như vậy, cỡ mẫu cần thiết cho nghiên cứu là 43 trường hợp. Thực tế, chúng tôi
đã tiến hành 56 trường hợp.
Sản phụ sau khi sổ thai, tiến hành lấy nhau tích cực giai đoạn III chuyển dạ.
Nếu sản phụ thỏa tiêu chuẩn chọn mẫu (có chẩn đoán BHSS) tiến hành: ghi
nhận thời gian chẩn đoán BHSS (thời gian tính từ sau khi sổ thai đến lúc chẩn
đoán BHSS), lượng máu mất khi chẩn đoán BHSS, ghi nhận có sự thay đổi
tổng trạng, sinh hiệu trên lâm sàng.
Xoa ép đáy tử cung qua thành bụng bằng hai tay.
Kết hợp các thuốc điều trị nội khoa.
Nếu sau các bước trên, máu vẫn tiếp tục chảy ra âm đạo.
Thực hiện bóng chèn lòng tử cung:
Ghi nhận các yếu tố: nguyên nhân thất bại, xử trí tiếp theo.
24 - 48 giờ sau khi thực hiện thủ thuật đánh giá biến chứng: viêm nội mạc tử
cung, viêm vùng chậu (có dấu hiệu nhiễm trùng, sốt, sản dịch hôi, tử cung co
hồi kém, có thể có phản ứng thành bụng, bạch cầu > 15.000/ mm
3
, CRP >
6mg/l).
Số liệu được nhập bằng phần mềm Epidata 3.02.
Số liệu trình bày theo tần suất, tỷ lệ %, số trung bình dưới dạng bảng, biểu bằng
phần mềm Excel, Word.
Phân tích thống kê mô tả, so sánh các tỉ lệ, phân tích các yếu tố liên quan bằng

25,00
Công nhân 13 23,21
Buôn bán 3 5,36
Học sinh

sinh viên 2
3,57
Ngh

nghiệp
Khác 6 10,71
Tiền thai Con so 19 33,93
n
% trong
mẫu
Sanh con lần 2

24 42,86
Sanh con lần 3

8 14,29
Sanh con trên
4 lần 5
8,93
Nhận xét:
Sản phụ ở tỉnh và tại thành phố Hồ Chí Minh phân bố gần bằng nhau trong
mẫu nghiên cứu.
Hầu hết các sản phụ có độ tuổi từ 20 – 35 tuổi, chiếm 87,50%. Điều này cũng
phù hợp vì đây là nhóm tuổi trong độ tuổi sinh sản.
Nhóm sản phụ là công nhân viên và công nhân chiếm phân nửa các trường hợp

Tổng 54 100%
Nhận xét: thời gian trung bình chẩn đoán phương pháp bóng chèn lòng tử cung
có hiệu quả cầm máu 14,5 ± 2,06 phút (10 – 17 phút).
Thời gian lưu bóng chèn lòng tử cung
Bảng 4. Phân bố thời gian lưu bóng chèn lòng tử cung

Trường
hợp
Tỷ lệ %
6 -< 7 giờ 19 35,19
7 - 8 giờ 35 64,81
Tổng 54 100%
Nhận xét: Thời gian lưu bóng chèn lòng tử cung trung bình: 7,1 ± 0,82 giờ (6 –
8 giờ).
Đặc điểm 2 trường hợp thất bại
Nhận xét: Trong nghiên cứu có hai trường hợp thất bại, một trường hợp sản
phụ con so và một trường hợp sản phụ con rạ lần hai. Sản phụ con so là thai dị
tật bẩm sinh, đa ối, nhau bám thấp, cân nặng con 2100g. Sản phụ con rạ là thai
bình thường, nhau bám thấp, đa ối, cân nặng con 3400g. Cả hai sản phụ đều có
thời gian theo dõi tại khoa Sanh trên 32 giờ, đều có lượng máu mất lúc chẩn
đoán BHSS trên 700 ml, đều có thời gian can thiệp phương pháp bóng chèn
lòng tử cung sau chẩn đoán BHSS từ 14 đến 16 phút. Lượng máu mất thêm sau
khi đặt bóng chèn lòng tử cung là 200 ml nhưng thời gian lưu bóng chèn lòng
tử cung của hai trường hợp trên là 15 phút và 6 giờ.
Trường hợp 1: lưu bóng chèn lòng tử cung 15 phút chúng tôi thấy máu vẫn tiếp
tục chảy ra qua ống dẫn lưu lòng tử cung nhưng quan trọng hơn là máu đỏ tươi
vẫn tiếp tục chảy từ lòng tử cung như trước khi đặt bóng chèn lòng tử cung. Do
đó chúng tôi đã chuyển qua một phương pháp can thiệp khác là mở bụng và
thắt động mạch tử cung hai bên, khi đó tình trạng BHSS đã được cải thiện,
mạch, huyết áp ổn định.

Hai trường hợp sản phụ có lượng máu mất là 300ml vẫn được chẩn đoán là
BHSS vì có sự thay đổi về sinh hiệu trên lâm sàng như mạch lần lượt là 110 và
115 lần/phút, huyết áp lần lượt là 90/60mmHg và 85/60mmHg, vã mồ hôi và
thấy lạnh. Hai trường hợp này ghi nhận trước khi sanh có tình trạng thiếu máu
nhẹ (Hb 9mg% và Hb 10,5mg%). Hơn nữa, hai trường hợp này có nhiều nguy
cơ BHSS như thời gian chuyển dạ kéo dài (47,3 giờ và 26,05 giờ), con to (3750
và 3850g), vị trí nhau bám thấp. Hai trường hợp này sau đó có lượng máu mất
thêm trước khi đặt bóng chèn lòng tử cung là 250 và 300ml. Hai trường hợp
này đã được chẩn đoán sớm và xử trí tích cực nên tổng lượng máu mất chỉ có
550 và 600ml do đã đề phòng BHSS ngay sau sổ thai và chuẩn bị đầy đủ dụng
cụ hồi sức. Những trường hợp có yếu tố nguy cơ cao đã được các bác sĩ có kinh
nghiệm trực tiếp theo dõi và đỡ sanh.
Nhóm sản phụ có lượng máu mất từ 450 – 500 ml và từ 550 đến 750ml chiếm
tỉ lệ tương đương nhau 46,43% và 44,4%. Có 3 trường hợp sản phụ có lượng
máu mất từ 800 đến 1000ml, đều cho kết quả thành công. Kết quả này tương tự
như kết quả nghiên cứu của tác giả Akhter S., ông đã sử dụng bóng chèn lòng
tử cung trong hai trường hợp máu mất 750 và 1000ml, và cũng cho kết quả tốt.
Tỉ lệ thành công của nghiên cứu
Hầu hết các nghiên cứu trên thế giới đều có số trường hợp thực hiện dưới 20
trường hợp. Chỉ có 1 nghiên cứu của Khoa sản Trường viện Dhaka –
Bangladesh là nghiên cứu 23 trường hợp. Tại Bệnh viện Từ Dũ chúng tôi hằng
năm có trên 45.000 trường hợp vào sanh, và là tuyến cuối điều trị các thai kỳ có
nguy cơ, xử trí các tai biến sản khoa từ tuyến dưới chuyển lên, do vậy số trường
hợp thực hiện trong nghiên cứu của chúng tôi cao gấp 2 lần so với những
nghiên cứu đã được báo cáo trên thế giới.
Tỉ lệ thành công của phương pháp bóng chèn lòng tử cung là 96,43%.
Nghiên cứu của chúng tôi cũng phù hợp với các kết quả nghiên cứu khác, tỷ
lệ thành công từ 87,50% đến 100%
(Error! Reference source not found.,Error! Reference source
not found.,Error! Reference source not found.)

rút bóng chèn lòng tử cung máu vẫn tiếp tục chảy (lưu bóng 6 giờ) có thể do
bóng không chèn được hết vào các vị trí chảy máu trong buồng tử cung và do
ống dẫn lưu theo dõi lượng máu chảy ra từ buồng tử cung bị nghẽn nên cho
hiệu qua cầm máu giả. Do đó, các trường hợp sau khi đặt bóng chèn lòng tử
cung cần được theo dõi sát về tổng trạng, sinh hiệu trên lâm sàng để phát hiện
sớm các trường hợp chảy máu ẩn trong buồng tử cung.
Theo nghiên cứu của Katesmark
(Error! Reference source not found.)
và cộng sự báo cáo
nghiên cứu thực hiện dùng ống thông Sengstaken-Blakemore làm bóng chèn
lòng tử cung phối hợp oxytocin trên 17 trường hợp BHSS điều trị nội thất bại,
ghi nhận có 2 trường hợp thất bại nguyên nhân được nghĩ là do bơm không đủ
lượng dịch vào bóng chèn lòng tử cung. Hai trường hợp này có lượng dịch bơm
vào bóng chèn lòng tử cung là 200 ml và 300 ml. Theo nghiên cứu của Seror và
cộng sự
(Error! Reference source not found.)
, nghiên cứu dùng ống thông Sengstaken-
Blakemore xử trí 17 trường hợp BHSS thất bại với điều trị nội khoa và Hb
trung bình là 4 mg%, có 2 trường hợp thất bại do rách cổ tử cung, 1 trường hợp
có biến chứng nhiễm trùng tử cung.
KẾT LUẬN
Qua nghiên cứu 56 trường hợp bóng chèn lòng tử cung điều trị băng huyết sau
sanh chúng tôi rút ra một số kết luận như sau
Tỉ lệ thành công của phương pháp bóng chèn lòng tử cung trong xử trí băng
huyết sau sanh không do tổn thương đường sinh dục là 96,43% (54/56 trường
hợp). Thời gian trung bình chẩn đoán phương pháp bóng chèn lòng tử cung có
hiệu quả cầm máu từ 10 – 17 phút. Thời gian lưu bóng chèn lòng tử cung từ 6 -
8 giờ. Lượng dịch bơm vào bóng chèn lòng tử cung từ 130 – 200 ml. Lượng
máu mất thêm sau khi đặt bóng chèn lòng tử cung đến khi chẩn đoán phương
pháp thành công không đáng kể: từ 10 đến 50ml. Trong nghiên cứu của chúng


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status