Tiểu luận
Tình hình khai thác than
ở Quảng Ninh
Môc lôc
Lời mở đầu 2
I. nhìn chung khai thác than ở Quảng Ninh 3
II. thực trạng ô nhiễm môi trường do khai thác than đá 6
II.1 ô nhiễm không khí vì bụi than 6
II.2 nước thải mỏ_ô nhiễm nguồn nước 7
II.3 Ô nhiễm đất 8
II.4 tác động đến địa hình, cảnh quan 9
III. Quản lí của cơ quan nhà nước trong khai thác than Quảng Ninh 10
III.1 Tích cực 10
III.2 Hạn chế 11
IV. Kết Luận, kiến nghị 12
Tài liệu tham khảo 14
Qu¶n lÝ m«i trêng « nhiÔm m«i trêng do khai th¸c than
2
Lời mở đầu
Trong những năm qua “gần đây” nhờ đường lối đổi mới kinh tế của Đảng
và Nhà nước đã, đang tạo điều kiện thuận lợi cho nền kinh tế phát triển nhanh
chóng, vững chắc và mạnh mẽ. Cùng với sự phát triển kinh tế thì kéo theo nó các
vấn đề môi trường diễn ra ngày càng phức tạp. Nguy cơ môi trường đang ở tình
trạng báo động ở những quốc gia đang phát triển, nơi nhu cầu cuộc sống ngày càng
xung đột mạnh mẽ với sự cần thiết phải bảo vệ tài nguyên nhiên và môi trường.
Nhưng do môi trường là một khái niệm có nội hàm vô cùng rộng lớn và phức tạp
nó chứa đựng rất nhiều vấn đề như: Ô nhiễm không khí, nước, đất, tiếng ồn…
Bất kỳ hoạt động kinh tế xã hội cũng như trong đời sống sinh hoạt con người
đều phải sử dụng các nguồn năng lượng khác nhau. Mặc dù đã có nhiều tiến bộ về
khoa học kỹ thuật trong việc tìm kiếm nguồn năng lượng mới, song chúng chưa thể
thay thế cho nhiên liệu hoá thạch và có khả năng cạn kiệt bất cứ lúc nào như than
Cẩm Phả.Tuy nhiên, hoạt động khai thác than luôn có những diễn biến phức tạp,
gây tác động xấu đến nhiều lĩnh vực.
Một lò than thổ phỉ mới phát
hiện tại phường Cao Xanh - TP Hạ
Long
Một điểm khai thác than "thổ
phỉ" (Quảng Ninh )
Khai thác than trái phép ở KM6,
thị xã Cẩm Phả (Quảng Ninh)
Tiêu thụ than tại cảng Cẩm Phả
Do tốc độ khai thác than tăng nhanh nhưng các doanh nghiệp thuộc Tập
đoàn Công nghiệp Than - Khoáng sản Việt Nam (TKV) lại không đầu tư thiết bị
sản xuất tương xứng và hoàn nguyên môi trường sau khai thác. Điều đó, đã
Qu¶n lÝ m«i trêng « nhiÔm m«i trêng do khai th¸c than
4
làm cho môi trường ở Quảng Ninh bị huỷ hoại, tàn phá nặng nề, và người dân nơi
đây đang từng ngày phải đương đầu, gánh chịu hậu quả.
Việc khai thác than trong nhiều năm qua, đã gây ra những biến động xấu
về môi trường. Tại các vùng khai thác than đã xuất hiện những núi đất, đá thải cao
gần 200m, những moong khai thác sâu khoảng 100m. Để sản xuất 1 tấn than, cần
bóc đi từ 8 đến 10 m3 đất phủ, thải từ 1 đến 3m3 nước thải mỏ. Khối lượng chất
thải rắn và nước thải mỏ gây ô nhiễm nặng cho vùng mỏ. Một vài vùng ô
nhiễm đã đến mức báo động như Mạo Khê, Uông Bí, Cẩm Phả
Việc khai thác than ở Quảng Ninh đã phá huỷ hàng trăm km2 rừng, tạo ra
xói mòn, bồi lấp ở các sông suối và làm ô nhiễm Vịnh Hạ Long. Một số mỏ than
còn sử dụng công nghệ khai thác lạc hậu, thiếu chương trình khoa học tổng thể để
xác định sự cần thiết về tăng trưởng công suất cho phù hợp với các yêu cầu bảo vệ
môi trường. Do đó, môi trường đã chịu ảnh hưởng nặng nề bởi những tác động
xấu, nước bị ô nhiễm nặng bởi chất thải rắn lơ lửng, vi trùng và bụi trong không
khí v.v
Một trong những địa phương chịu ảnh hưởng nặng nhất, đó là huyện
Đông Triều, vùng trọng điểm lúa của tỉnh:gần 7.000 ha lúa và hoa màu ở Đông
Triều (Quảng Ninh) đang đối mặt với nạn hạn hán và thiếu nước nghiêm trọng
trong khi nhiều hồ thủy lợi lớn bị ô nhiễm, tài nguyên rừng bị suy thoái , gây cạn
kiệt dòng sinh thuỷ, gây ngập úng và hạn hán cục bộ, làm bồi lắng lòng hồ, ảnh
hưởng không nhỏ đến đời sống dân sinh các khu vực lân cận. Trong tổng số 25 hồ
chứa nước ở huyện Đông Triều đã có gần một nửa bị bồi lấp, nguồn nước bị chua
hoá từ quá trình sản xuất than gây ra, trong đó có nhiều hồ bị chua hoá nặng, độ
PH đều ở mức dưới 3,5 (PH tiêu chuẩn từ 5 – 5,5).Tình trạng ô nhiễm nguồn nước
đang âm thầm huy hoại năng suất cây trồng, vật nuôi và nguy cơ bị cắt đứt toàn bộ
nguồn thuỷ sản trong tương lai gần.
Coi thường luật pháp
Đặc điểm của ngành khai thác than đòi hỏi chiếm dụng một quỹ đất rất lớn để làm
khai trường và làm nơi tập kết chất thải. Trong khi đó, khu vực sản xuất than hầu
hết đều rất gần với đô thị, khu dân cư và các vùng sản xuất khác, nghĩa là đất đai
không chỉ dành riêng cho ngành Than. Thế nhưng, qua cuộc thanh tra thí điểm do
Bộ Tài nguyên và Môi trường thực hiện tại một số đơn vị ngành Than dạo trước
Tết Nguyên đán, cho thấy tình hình sử dụng đất rất tuỳ tiện. Điển hình: Công ty
Than Hà Tu vượt 113ha, Xí nghiệp Than Tân Lập (Công ty Than Hòn Gai) chỉ
thuê 1,4ha nhưng sử dụng đến 10 ha, vỉa 14 Công ty Than Hà Lầm cũng vượt
10ha.
Cũng tại cuộc thanh tra này cho thấy hầu hết các đơn vị đều không có giấy phép
khai thác than, không ký quỹ phục hồi môi trường và đất đai sau khai thác và khi
đóng cửa mỏ, xâm phạm nghiêm trọng Luật Khoáng sản, Luật Môi trường. Đó là
các trường hợp như: Xí nghiệp Khai thác than 148 (Tổng Công ty Đông Bắc), Xí
nghiệp Than Giáp Khẩu (Công ty Than Hòn Gai), Công ty TNHH một thành viên
Than Hồng Thái (Công ty Than Uông Bí), Công ty Cổ phần đầu tư Thương mại và
Qu¶n lÝ m«i trêng « nhiÔm m«i trêng do khai th¸c than
6
Dịch vụ, Công ty TNHH một thành viên Nước khoáng Công đoàn Quanh Hanh.
Nguồn phát sinh bụi lớn nhất là từ các khâu sàng, chế biến, vận chuyển than.
Ngoài ra bụi còn sinh ra từ các bãi thải chưa dừng đổ thải hoặc những bãi thải đã
dừng đổ thải nhưng chưa được cải tạo, phủ thảm thực vật.
Qu¶n lÝ m«i trêng « nhiÔm m«i trêng do khai th¸c than
7
Nhìn chung, hàm lượng bụi tại các khu vực khai thác than, chế biến than đều
vượt tiêu chuẩn cho phép (TCCP) từ 1,2 - 5,2 lần (trung bình trong 24 giờ); hàm
lượng bụi tại các khu dân cư lân cận các khu vực sản xuất, chế biến than tại Quảng
Ninh vượt TCCP 3,3 lần (trung bình 24 giờ).
Hiện nay, mặc dù tỉnh Quảng Ninh đã triển khai nhiều giải pháp quản lý
BVMT, đặc biệt là việc cấm vận chuyển than trên quốc lộ 18A, các phương tiện
vận chuyển theo đường chuyên dụng, quy hoạch, sắp xếp lại các cảng, bến cảng đã
hạn chế được ô nhiễm môi trường trong vận chuyển than đến khu dân cư tập trung.
Tuy nhiên, theo kết quả quan trắc môi trường tỉnh Quảng Ninh năm 2009, tình
trạng ô nhiễm bụi do hoạt động khai thác, chế biến, vận chuyển than vẫn còn tồn
tại.
Chuyện bụi đen đất mỏ, mấy năm gần đây ghi nhận có nhiều chuyển biến
như không vận chuyển than trên quốc lộ, không chuyền tải than trên vịnh Hạ Long.
Tuy nhiên, có nhiều điểm giao lộ với đường dân sinh làm chưa triệt để, đi qua
vùng Mạo Khê, Cẩm Phả bụi than vẫn ngập đường. Điều này cũng chưa phải hoàn
toàn do lỗi của Tập đoàn Than - khoáng sản VN (TKV) vì hiện tượng vận chuyển
than trái phép vẫn còn và chính quyền chưa triệt được tận gốc nên vẫn gây ra bụi.
II.2 Nước thải mỏ_ô nhiễm nguồn nước :
Tại vùng than, theo số liệu kê khai, nộp phí BVMT đối với nước thải công
nghiệp của các đơn vị thuộc ngành than thì tổng lượng nước thải mỏ năm 2009 đã
kê khai là 38.914.075 m
3
. Tuy nhiên, lượng nước thải này chưa tính đến nước rửa
trôi từ các bãi thải mỏ. Hai thông số điển hình tác động đến môi trường là tính axit
và cặn lơ lửng, bên cạnh đó là hàm lượng Fe và Mn. Độ pH của nước thải mỏ dao
hàng loạt hồ bị bồi lắng, nhiễm chua và nguy hiểm hơn cả là bị lấp và cắt mất
nguồn sinh thủy của các hồ khiến việc điều tiết nước của phần lớn hồ thủy lợi bị
suy giảm đáng kể”.
Nghiêm trọng hơn cả, theo ông Chiến là có nhiều hồ đã bị lấp và hoàn toàn
thành bãi thải. Hệ thống các hồ nhỏ bị chia cắt khiến cho nước tập trung tại hồ
Qu¶n lÝ m«i trêng « nhiÔm m«i trêng do khai th¸c than
Tình trạng khai thác than đầu nguồn lấp
mất nguồn sinh thủy các hồ thủy lợi
9
chính dẫn tới xả tràn ngay trong mùa khô, điều chưa từng xảy ra với hệ thống hồ
thủy lợi tại đây trong khi nhu cầu nước tưới ngày càng lớn…
Hiện đã có 9/15 hồ đang bị ảnh hưởng nghiêm trọng gồm Nội Hoàng, Cầu
Cuốn, Cổ Lễ, Khe Ươn 1, 2, Rộc Chày, Yên Dưỡng, Tân Yên, Bến Châu từ hoạt
động khai thác than của Xí nghiệp Than Hồng Thái - Cty Than Uông Bí, Cty Than
Mạo Khê và cả các chủ khai thác than trái phép. Tất cả các khai trường đều thuộc
lưu vực hướng nước đổ về các hồ thuỷ lợi nói trên.
Trong khi đó, phạm vi khai trường san gạt lộ thiên lại gần kề các hồ thủy lợi
nên đã đổ san gạt đất, đá xít lấp hồ và lấp cả suối đầu nguồn của hồ Nội Hoàng, hồ
Cầu Cuốn. Bảy hồ còn lại đất đá được san gạt lấp mất nguồn sinh thủy.
Thậm chí các đơn vị khai thác than tự ý lấp hồ tạo các đường vận tải, đã chia
cắt phần lớn lưu vực hướng nước của các hồ Khe Ươn 1, 2 nên nước đã tập trung
vào các hồ Nội Hoàng, Cổ Lễ và nguy cơ vỡ đập là rất lớn, ảnh hưởng trực tiếp tới
cây trồng vật nuôi và đời sống nhân dân 9 xã trong huyện là các xã Đông Hồng
Thái, Tây Hồng Thái, Hoàng Quế, Mạo Khê, Kim Sơn, Xuân Bình, Xuân Sơn,
Tràng An, Bình Khê.
II.3 Ô nhiễm đất :
Các bãi thải của những mỏ khai thác than lộ thiên đáng lẽ ra phải đổ theo
phân tầng, kiểu như ruộng bậc thang thì sẽ rất ổn khi xử lý trồng cây, thậm chí
canh tác. Nhưng các mỏ khai thác than lộ thiên hiện nay sau khi bóc lớp đất, đá lại
cứ đổ tràn từ trên xuống, bên dưới có thể xây kè chắn. Mưa to kè nào chịu nổi một
nay nếu không quan tâm đến môi trường vùng mỏ Quảng Ninh mà cứ để “thả
lỏng” thì sau này đầu tư hàng ngàn tỉ đồng vào đó cũng khó khắc phục được
nguyên trạng.
II.4 Tác động đến địa hình, cảnh quan:
Biến đổi địa hình và cảnh quan. Những biến đổi mạnh nhất diễn ra chủ yếu ở
những khu vực có khai thác than lộ thiên. Các bãi đổ thải tạo nên những quả đồi ở
Cọc Sáu cao 280 m, Nam Đèo Nai có độ cao 200 m, Đông Cao Sơn cao 250 m,
Đông Bắc Bàng Nâu cao 150 m và Núi Béo cao 240 m và nhiều bãi thải trên các
sườn đồi. Bãi thải thường có sườn dốc tới 350. Nhiều mong khai thác lộ thiên tạo
nên địa hình âm có độ sâu từ - 50 m đến - 150 m dưới mực nước biển trung bình
(các mỏ Cọc Sáu, Hà Tu, Núi Béo ).
Nhiều khu vực tập trung dân cư tại Mạo Khê (Đông Triều), Vàng Danh,
Quang Trung (Uông Bí), Hà Khẩu, Cao Xanh, Hà Khánh, Hà Lầm, Cao Thắng, Hà
Trung, Hà Tu, Hà Phong (Hạ Long) và toàn bộ thị xã Cẩm Phả chịu tác động mạnh
do các nguồn gây ô nhiễm từ các hoạt động khoáng sản, trở thành những vấn đề
bức xúc, ảnh hưởng nghiêm trọng đến sức khỏe và đời sống của nhân dân.
Hoạt động khai thác khoáng sản là một trong những nguyên nhân làm giảm
độ che phủ do rừng cây bị chặt hạ, lớp phủ thực vật bị suy giảm. Hoạt động khai
thác khoáng sản cũng làm cho thực vật, động vật bị giảm số lượng hoặc tuyệt
chủng do
các điều kiện sinh sống ở rừng cây, đồng cỏ và sông nước xấu đi. Một số
loài thực vật bị giảm số lượng, động vật phải di cư sang nơi khác
Qu¶n lÝ m«i trêng « nhiÔm m«i trêng do khai th¸c than
11
III. quản lí của cơ quan nhà n ớc trong khai thác
than quảng ninh:
III.1 Mt tớch cc:
Lónh o tnh Qung Ninh cho bit t u nm, UBND tnh ó ban hnh cỏc
vn bn tng cng cụng tỏc qun lý Nh nc nhm ngn chn tỡnh trng tỏi
din khai thỏc vn chuyn than trỏi phộp, gõy ụ nhim mụi trng do khai thỏc
hin cỏc quyn v ngha v ca mt ch m theo quy nh ca Nh nc. Cỏc c
s khai thỏc than ngoi quc doanh, cỏc n v quõn i, cụng an, cỏc t chc on
Quản lí môi trờng ô nhiễm môi trờng do khai thác than
12
thể xã hội như thanh niên, trường học các bộ phận không có nhiệm vụ trực tiếp
khai thác than (Xây dựng cơ bản, cơ khí ) muốn tham gia khai thác than phải
nhận thầu của các chủ mỏ và phải bán toàn bộ than khai thác được cho chủ mỏ
theo giá thoả thuận ghi trong Hợp đồng nhận thầu khai thác và phải tuân theo
những quy định của chủ mỏ nhằm đảm bảo trật tự, an toàn khai thác và các quy
định về bảo vệ tài nguyên và môi trường. Hợp dồng khai thác có thời hạn nhất
định, nội dung phải nêu rõ trách nhiệm, nghĩa vụ và Quyền lợi của các bên ký kết
theo quy định trong Pháp lệnh về hợp đồng kinh tế. Chủ mỏ có quyền giao thầu
từng phần việc của quá trình khai thác mỏ hoặc giao thầu toàn bộ việc khai thác
một phần mỏ trong quy hoạch khai thác chung của mỏ với điều kiện được cơ quan
quản lý cấp trên đồng ý.
III.2 Hạn chế còn tồn tại:
Chiếm 90% sản lượng than cả nước, công nghiệp khai thác, sản xuất, chế
biến than đã trở thành ngành kinh tế chủ lực của Quảng Ninh, tuy nhiên cũng là
một thách thức lớn về môi trường. Rất cần một cơ chế giám sát các vấn đề môi
trường có sự tham gia của người dân.
Theo bà Nguyễn Thu Thủy, Chi cục phó, Chi cục Bảo vệ môi trường Quảng
Ninh, "dưới đất là than và trên là dân, chính quyền địa phương và người dân cần có
tiếng nói trong giám sát môi trường. Đồng thời cần có quy định trách nhiệm rõ
ràng giữa doanh nghiệp khai thác than và chính quyền".
Ngoài ô nhiễm bụi, không khí cao gấp 1,2-5,2 lần tiêu chuẩn cho phép, mới
xử lý được 1/25-1/30 lượng nước thải do khai thác than ảnh hưởng nghiêm trọng
đến đời sống người dân, thì những bãi thải cũng là mối nguy lớn. Các công ty khai
thác than và chính quyền đã nhiều phen khốn đốn, tốn không ít tiền của để cải
thiện đời sống người dân sau mỗi trận mưa lớn khiến nước, đất đá tràn vào nhà
dân.
Ph, Yờn Hng c trin khai xõy dng.
Tuy nhiờn cụng tỏc BVMT ca tnh hin nay cha theo kp yờu cu phỏt trin kinh
t - xó hi; qun lý nh nc v BVMT cũn thiu c th; vic thc hin cỏc bin
phỏp, ch ti nhiu lnh vc cha mnh; tuyờn truyn cha sõu rng.
Nhiu ý kin ti cuc hp quan tõm n n lc ca ngnh Than trong bo v mụi
trng; c bit l vn n chm dt vic vn chuyn than bng ng b; cht
thi rn phỏt sinh ca cỏc bnh vin; mc nh hng mụi trng ca cỏc nh
mỏy in, xi mng
bo v mụi trng tt hn trong thi gian ti cn tng cng s lónh o ca
cỏc cp y ng, s vo cuc ca c h thng chớnh tr; y mnh cụng tỏc tuyờn
truyn; tng cng s phi hp qun lý gia cỏc cp, ngnh .
Quản lí môi trờng ô nhiễm môi trờng do khai thác than
14
Tài liệu tham khảo
Internet:
1) www.google.com.vn
2) www.khoahoc.com.vn
3) www.vietbao.vn
4) www.vi.wikipedia.org
5) www.vnexpress.net
6) www.monre.gov.vn
7) www.quangninh.gov.vn
8) www.baoquangninh.com.vn
9) www.yeumoitruong.com
và một số tài liệu liên quan khác.
Qu¶n lÝ m«i trêng « nhiÔm m«i trêng do khai th¸c than
15