TIỂU LUẬN: Tình hình sản xuất kinh doanh ở công ty Vật liệu đIện và Dụng cụ cơ khí doc - Pdf 12



TIỂU LUẬN:
Tình hình sản xuất kinh doanh
ở công ty Vật liệu đIện và
Dụng cụ cơ khí

Phần một
Tổng quan chung về tình hình sản xuất kinh doanh ở công ty Vật liệu đIện và Dụng
cụ cơ khí

I. Tóm tắt một số nét cơ bản
Tên đầy đủ : Công ty Vật liệu điện và Dụng cụ cơ khí
Tên tiếng anh : Electrical Material and Mechanical Instrucment Corporation
Tên giao dịch : ELMACO
Trụ sở chính :240-242 Tôn Đức Thắng-Đống Đa – Hà Nội

I. Quá trình hình thành và phát triển công ty:
Vật liệu điện và dụng cụ cơ khí là tên gọi hai nhóm hàng và cũng là tên gọi chính

Năm 1993, theo nghị định 388/HĐBT, công ty được thành lập lại theo quyết định
số 613/TM-TCCB ngày 28/5/1993 của bộ trưởng bộ Thương Mại và đến năm 1994,
công ty chính thức trực thuộc bộ Thương Mại.
Từ năm 1989 do quan hệ giao dịch quốc tế ngày càng tăng, công ty bắt đầu sử
dụng tên giao dịch viết tắt là ELMACO và từ đó đến nay, thương hiệu và biểu tượng
ELMACO đã trở thành quen thuộc với khách hàng trong và ngoài nước.
30 năm không chỉ một chặng đường, với nhiều sự thành công, phát triển cũng
như suy giảm nhưng ELMACO vẫn đứng vững và phát triển cho đến ngày nay chính
là nhờ vào lớp lớp cán bộ công nhân viên đã làm việc hết sức khoa học và sáng tạo,
trong suốt thời gian dài phấn đấu không mệt mỏi để nghiên cứu, tìm tòi,phát huy thế
mạnh vốn có và hạn chế những yếu kém. Điều này đã giúp công ty vững bước đi
trên con đường công nghiệp hoá-hiện đại hoá ngày nay.
Hiện nay, ngoài trụ sở chính đặt ở 240-Tôn Đức Thắng, công ty còn có 2 nhà
máy trực tiếp sản xuất và chế tạo được đặt tại Quận Long Biên, cùng rất nhiều các
chi nhánh ở TPHCM, Quảng Trị,Thái Nguyên, Quảng Ninh…,Ngoài ra ELMACO
còn thiết lập mối quan hệ bạn hàng với các doanh nghiệp nước ngoài như Trung
Quốc, Hàn Quốc, Đài Loan, Braxin,….

2. Chức năng-nhiệm vụ và quyền hạn của công ty
 Chức năng của công ty:
Là một doanh nghiệp Nhà nước được phân công tổ chức kinh doanh ngành hàng
Vật liệu điện và Dụng cụ cơ khí, các loại vật tư thiết bị tổng hợp phục vụ sản xuất
tiêu dùng và xuất khẩu công ty có những chức năng sau:
- Kinh doanh các loại vật tư, hàng hoá thuộc ngàng vật liệu điện và dụng cụ cơ khí.
- Trực tiếp xuất khẩu các loại hàng hoá phục vụ cho sản xuất tiêu dùng và các nhu
cầu khác, đồng thời nhận uỷ thác xuất khẩu các loại vật tư, hàng hoá thuộc phạm vi
kinh doanh của công ty. Chú trọng nhập khẩu hàng vật liệu điện và dụng cụ cơ khí.
- Trực tiếp ký hợp đồng,bao tiêu hàng hoá sản xuất trong nước và khai thác hàng tồn
kho cũng như hàng phi mậu dịch để phục vụ cho mọi nhu cầu.
- Tổ chức bán vật tư hàng hoá, phục vụ cho mọi đối tượng chú trọng phục vụ trực

với các tổ chức kinh tế trong và ngoài nước đảm bảo đúng chính sách của ngành và
của Nhà nước.
- Được quyền huy động vốn ở các tổ chức, cá nhân trong nước. Đựơc quyền hợp tác
đầu tư sản xuất kinh doanh với các tổ chức kinh tế trong và ngoài nước theo đúng
luật của Nhà nước hiện hành và hướng dẫn của Tổng công ty.
- Được tham gia các cuộc hội nghị, hội thảo chuyên đề có liên quan đến kinh doanh
tại thị trường trong nước và quốc tế.
- Được chủ động trong việc tổ chức mạng lưới kinh doanh theo sự phân công của
tổng công ty cho phù hợp, đảm bảo kinh doanh có lãi và chiếm lĩnh thị trường của
ngành hàng.
- Được quyền tuyển dụng và cho thôi việc đối với cán bộ công nhân viên trong công
ty theo đúng chế độ chính sách.
- Được quyền quy hoạch, đào tạo bồi dưỡng bổ nhiệm và miễn nhiệm các cán bộ cấp
trưởng phòng, giám đốc xí nghiệp trong công ty. Đồng thời đề nghị lên tổng công ty
và bộ bổ nhiệm chức phó giám đốc và giám đốc công ty.

- Căn cứ vào quy chế và khả năng kinh doanh, công ty được phép cử cán bộ đi nước
ngoài và được mời khách nước ngoài vào Việt nam để tìm hiểu, đàm phán ký kết
hợp đồng kinh tế phục vụ kinh doanh của công ty, thực hiện chính sách của ngành
và pháp luật của Nhà nước, đảm bảo an ninh bí mật.
3. Bộ máy tổ chức kinh doanh trong công ty
 Đặc điểm của bộ máy tổ chức kinh doanh của công ty

Để thực hiện tốt các chức năng và nhiệm vụ của mình, công ty Vật liệu điện và
Dụng cụ cơ khí đã xây dựng một cơ cấu tổ chức theo mô hình trực tuyến-chức
năng.Theo đó, bộ máy tổ chức của công ty bao gồm các bộ phận: Ban giám đốc
(gồm 1 giám đốc và 2 phó giám đốc), các phòng ban (phòng kế hoạch và đầu tư,
phòng Tài chính kế toán,phòng tổ chức hành chính), hệ thống các xí nghiệp kinh
doanh, các nhà máy sản xuất và các chi nhánh của công ty.
 Chức năng-Nhiệm vụ của giám đốc, phó giám đốc, các phòng ban chức năng

công ty,lập báo cáo tài chính, xây dựng kế hoạch tài chính và cung cấp thông tin về
tài chính cho ban giám đốc.Thực hiện các kế hoạch chi trong nội bộ và bên ngoài
công ty về các khoản vay nợ cũng như thạnh toán hợp đồng.
- Phòng Tổ chức hành chính: Có nhiệm vụ sắp xếp tổ chức lực lượng lao động,
tuyển dụng, đào tạo cán bộ, giải quyết các chế độ chính sách về tiền lương,bảo hiểm
xã hội cho người lao động.Đồng thời tổ chức công tác thanh tra, kiểm tra toàn bộ
hoạt động sản xuất kinh doanh, giải quyết các đơn thư khiếu nại và đề xuất biện
pháp xử lý lên giám đốc.
- Hệ thống các xí nghiệp kinh doanh, các nhà máy sản xuất và các chi nhánh của
công ty,tổ chức thực hiện các hoạt động sản xuất kinh doanh theo lệnh và các quyết
định của giám đốc. Đồng thời chịu sự kiểm tra giám sát của các phó giám đốc.

II. Đ ặc điểm hoạt động kinh doanh của công ty Vật liệu điện và Dụng cụ cơ
khí (ELMACO)

Để đánh giá hiệu quả sản xuất kinh doanh của một công ty làm ăn tốt hay sấu,ta
có thể căn cứ vào một số chỉ tiêu nhất định dùng nó để đánh giá chung. Kết quả sản
xuất kinh doanh của công ty được phản ánh qua 3 chỉ tiêu: Doanh thu; sản lượng và
lợi nhuận.
Sản lượng:
Các chỉ tiêu phản ánh khối lượng sản xuất thường được đánh giá bởi 3 loại thước
đo: Thước đo hiện vật (số lượng sản phẩm, số tấm, cái, chiếc…);Thước đo bằng giờ
lao động (số giờ lao động định mức để hoàn thành kế hoạch cho một đơn vị sản
phẩm…) và cuối cùng là thước đo giá trị (bằng tiến)
Trong 3 loại thước đo trên thì thuớc đo giá trị được sử dụng nhiều hơn cả,nếu đo
bằng giá trị thì: Giá trị tổng sản lượng là chỉ tiêu biểu hiện bằng tiền, phản ánh toàn
bộ kết quả sản xuất kinh doanh trực tiếp hưu ích của doanh nghiệp trong một thời kỳ
nhất định (thường là một năm).Sau đây là kết quả thực hiện chỉ tiêu giá trị tổng sản
lượng ở công ty ELMACO qua 3 năm 2000,2001,2002


%

Giá t

tổng
sản
lượng

14.466

16.600

28.000

2134

14.75

11.400

68.67
Nguồn: Báo cáo tiêu thụ lỗ lãi, Phòng Tài chính kế toán Có thể thấy chỉ tiêu giá trị tổng sản lượng của công ty năm sau đều cao hơn năm
trước cả về số tương đối và tuyệt đối.Đặc biệt năm 2002,giá trị tổng sản lượng của
công ty tăng rất nhanh,tăng 68.67% so với năm 2001 tương ứng với số tương đối là
11.400 triệu đồng, do thị trường của công ty có nhiều thuận lợi, sản xuất được mở
rộng nên tổng giá trị tổng sản lượng tăng cao so với năm 2001.
1. Doanh thu:

64,78 77098,6

31,19
Thu nhập TC 935.3 1507,5 1083 572,2 61,18 -424,5 -28,16

Thu nh
ập BT

143,4

19,3

1273,8

-
124.2

-
86,5

1254.5

6493,
8
Nguồn: Báo cáo tiêu thụ lỗ, lãi-Phòng Tài chính kế toán

Qua số liệu trên ta thấy tổng doanh thu của công ty ELMACO tăng đều qua các
năm. Đặc biệt năm 2002 doanh thu nội bộ và doanh thu xuất khẩu đều tăng nhanh
rất nhiều so với năm 2001 và 2001, cụ thể năm 2002 doanh thu nội bộ của công ty



C
hênh l
ệchChỉ tiêu 2000 2001 2002 2001/2000 2002/2001
Số tiền % Số tiền %
Tổng DT 148789,7

244996,9 323710,2 96207,2

64,7 78713,4

32,1
Lãi gộp 8720,3 12124,8 1555,1 3404,5 39,04 3830,2 31,6
Lãi thu
ần
KD
-
1659,4

5513,8

4907,6

7173,2

432,3


T
ổng lãi

709

71

264,1

1418,8

200

-
445,7

62,8

Nguồn: Báo cáo kết quả sản xuất kinh doanh; Phòng: Kinh doanh tổng hợp

Qua bảng số liệu trên ta thấy tổng doanh thu và lãi gộp của công ty đều tăng cả
về số tương đối lẫn tuyệt đối. Nhưng trong cơ cấu tổng lãi của công ty thì lãi thuần
từ hoạt động kinh doanh là bộ phận quan trong nhất,năm 2001,lãI thuần từ hoạt
động kinh doanh tăng 432,3% so với năm 2000, so với số tuyệt đối tăng 7173,2 triệu
đồng,nhưng đến năm 2002 lãi thuần từ hoạt động kinh doanh lại giảm 11% so với
năm 2001, tuơng ứng với số tuyệt đối giảm 606,2 triệu đồng. Bên cạnh đó mức biến
động của bộ phận lãi hoạt động tài chính và lãi hoạt động bất thường lại tăng, giảm
không đều đặn giữa các năm làm ảnh huởng đến lợi nhuận của doanh nghiệp. Nếu ta
đem so sánh giữa tổng doanh thu và tổng lãi thì ta thấy tổng doanh thu của năm
2002 cao hơn tổng doanh thu của năm 2001 nhưng tổng lãi lại thấp hơn (cụ thể, tổng

Chi phí dịch vụ mua ngoài 300.403.608
Chi phí khác bằng tiền 1.980.787.170
Tổng cộng 39.669.884.123
Nguồn: Phòng Tài chính kế toán
3. Tình hình nộp ngân sách Nhà nước.
Bảng Tình hình nộp ngân sách của ELMACO một số năm
Đơn vị tính: Triệu đồng
Ch
ỉ tiêu

Th
ực hiện 2001

Ư
ớc TH 2002

Th
ực hiện 2002

Thuế GTGT 10.504 11.500 12.047
Thu
ế XNK

11.052

10.260

10.231

Thuế TNDN 15.021 51.2 49.6

28.23

31.22

10.20

156.57

2.99

110.59

Nguồn: Phòng Tài chính kế toán
Như vậy, doanh thu của công ty và doanh thu thị trường qua các năm đều
tăng,tuy nhiên,tốc độ tăng doanh thu của công ty cao hơn tốc độ tăng doanh thu của
thị trường,do đó thị phần của công ty ngày càng chiếm tỷ trọng lớn hơn.

Nếu phân chia tình hình hoạt động của công ty theo từng khu vực thị trường cụ
thể thì thấy rằng doanh thu tại những thị trường này đều tăng hàng năm. Mỗi một
khu vực thị trường đều đóng góp quan trọng cho thành tích chung của công ty là thị
phần của ELMACO vẫn đang tiếp tục gia tăng trong lúc doanh thu thị trường chung
cũng trong giai đoạn khả quan.
5. Lĩnh vực thị trường
Khi nói đến lĩnh vực thị trường cần phải hiểu rõ là bao gồm cả hoạt động mua và
hoạt động bán. Hoạt động mua, được hiểu là quá trình tìm kiếm các nguồn đầu vào
cho hoạt động sản xuất hoặc đơn giản chỉ là hoạt động mua để bán.Với ELMACO,
trong hoạt động này nó bao hàm đầy đủ ý nghĩa tức là công ty vừa mua các yếu tố
đầu vào phục vụ cho sản xuất vừa mua chỉ để bán đều có thể diễn ra trên cả hai thị
trường TLSX lẫn TLTD.
Trong ELMACO thương mại được coi là hoạt động kinh doanh chính, hiểu đơn

trong danh mục quản lý của Nhà nước mà do các đơn vị tự mày mò nghiên cứu, cân
đối thông qua nhu cầu và hợp đồng mua bán, sau đó đăng ký với các cơ quan chủ
quản và được chấp nhận.
Để tổ chức công tác tiêu thụ sản phẩm, trong hệ thống tổ chức kinh doanh của
ELMACO được chia thành nhiều trung tâm kinh doanh, thành các xí nghiệp kinh
doanh, nhà máy trực tiếp sản xuất và các chi nhánh thực hiện một số chức năng nhất
định. Chẳng hạn, đối với trung tâm kinh doanh vật liệu điện và dụng cụ cơ khí trụ sở
240-Tôn Đức Thắng có nhiệm vụ tổ chức kinh doanh các mặt hàng chủ yếu của
ELMACO, ngoài việc tổ chức tiếp thị để cung cấp đến thẳng tay khách hàng và bán
buôn là chủ yếu, trung tâm còn tổ chức một số quầy hàng giới thiệu và bán lẻ một số
mặt hàng mang tính chất tiêu dùng nhỏ lẻ….
Một số sản phẩm nhập khẩu chủ yếu của công ty là:Sản phẩm cáp điện,Sản phẩm
dây điện từ, Sản phẩm carton cách điện, Sản phẩm đồng, Nhôm, kẽm, Sản phẩm lốp
ô tô, Sản phẩm que hàn và lưỡi cưa vòng…
Một số sản phẩm xuất khẩu chủ yếu của công ty: Cao su tự nhiên; Quặng rutile;
Tùng hương; Quặng sắt; Nhựa thông; Quặng kẽm…

Sản phẩm của công ty là sản phẩm đồng nhất, do đó bị cạnh tranh gay gắt cả thị
trường trong và ngoài nước.Như vậy để sản phẩm của mình có thể trụ vững và cạnh
tranh được trên thị trường trong và ngoài nước thì nhất định họ phải có một chiến
lựơc thật cụ thể cùng với những sản phẩm có chất lượng mang tính cạnh tranh cao,
có được như vậy thì những sản phẩm của công ty mới thực sự đi sâu vào thị trường,
đến tay người tiêu dùng một cách tốt nhất. Phần hai
Đánh giá một số công tác thực hiện chiến lược ở công ty Vật liệu điện và dụng cụ cơ
khí.

1. Nguồn vốn cho hoạt động sản xuất kinh doanh

Xem xét tình hình nguồn vốn và cơ cấu nguồn vốn tại một thời điểm và sự biến
động của nó trong một thời kỳ nhất định cho phép chúng ta đánh giá được quy mô
và cơ cấu tài sản.Trong cơ cấu tài sản của ELMACO, tài sản lưu động luôn chiếm tỷ
trọng lớn trong tổng số vốn kinh doanh khoảng trên 70%, nó phản ánh chức năng
kinh doanh chính là kinh doanh thương mại của công ty Vật liệu điện và Dụng cụ cơ
khí. Nhu cầu lớn về tài sản lưu động cũng chính là một lý do chính dẫn đến nhu cầu
nguồn vay ngắn hạn cao mà ta đã đề cặp đến ở phần trước.
Trong bảng về tình hình tăng giảm về vốn và nguồn vốn thấy rõ nhu cầu về tài
sản lưu động qua các năm tăng lên là hoàn toàn phù hợp với mục đích của công ty
theo xu hướng mở rộng quy mô hoạt động. Tuy nhiên cơ cấu của tài sản lưu động lại
tỏ ra chưa hợp lý, lượng tiền mặt chỉ chiếm một tỷ trọng nhỏ trong tổng tài sản,
trong khi đó các khoản phải thu là hàng tồn kho chiếm một tỷ lệ lớn và có xu hướng
tăng lên.Thực tế này dẫn đến khả năng thanh toán nợ ngắn hạn của công ty bị giảm
sút, trong khi nguồn vốn vay ngắn hạn càng tăng. Song sở dĩ các khoản phải thu của
khách hàng từ năm 2000 đến năm 2002 đều tăng là do đặc điểm hàng hoá tiêu thụ

của công ty chủ yếu vào thầu các công trình xây dựng, cải tạo hệ thống điện, công
trình xây lắp và các dự án, cho nên hàng hoá kinh doanh hoạt động của công ty
thường sau khi hoàn tất giao hàng, cơ bản nghiệm thu mới được thanh toán tiền
hàng (thể hiện trong hợp đồng kinh tế), đồng thời đa số các nhà máy, xí nghiệp là
bạn hàng truyền thống của công ty, thường xuyên mua vật tư là nguyên liệu cho đầu
vào của sản xuất thực hiện nhận hàng kỳ sau thanh toán tiền hàng kỳ trước tạo thành
công nợ luân chuyển nên công nợ phải thu của công ty cao. Đặc điểm này cùng với
việc quy mô hoạt động tăng trưởng không ngừng nên dễ hiểu vì sao các khoản phải
thu tăng theo thời gian.
Như nếu đem toàn bộ số công nợ phải thu tính trên đầu mỗi đơn vị (công ty có
tổng cộng 26 đơn vị nằm tại các tỉnh và thành phố lớn) thì con số này không cao.
Hơn nữa,hầu hết các khoản công nợ này đều được bảo đảm bằng tài sản và hợp đồng
kinh tế, do đó không phải thuộc dạng nợ phải thu khó đòi hoặc không đòi được…Vì
vậy, trên thực tế tài sản lưu động vẫn là yếu tố đảm bảo cho hoạt động sản xuất kinh

máy sản xuất sắn, sản xuất thức ăn gia súc,…,nên chắc chắn cần đòi hỏi một lượng
máy móc, trang thiết bị hiện đại nhằm thực hiện các mục tiêu đề ra.
3 .Hoạt động xuất khẩu
Mặc dù không phải là một doanh nghiệp chuyên thực hiện chức năng xuất nhập
khẩu nhưng ELMACO được quyền xuất nhập khẩu bằng con đường trực tiếp và
nhận xuất khẩu uỷ thác.
Nhìn chung thị trường xuất khẩu chủ yếu nà thường xuyên của công ty là: Thái
lan; Trung quốc và Hàn quốc.
Năm 2002, sau khi đã ổn định thị trường nguyên liệu và mở rộng quy mô hoạt
động, thị trường xuất khẩu của công ty Vật liệu điện và Dụng cụ cơ khí đã xuất hiện
một số tên mới như Myanmar; ấn độ; Bangladét,…Đây là những thị trường tiềm
năng vẫn đang được công ty khai thác và có thể những năm tới vẫn là các bạn hàng
có ảnh hưởng đến kim ngạch xuất khẩu của công ty.
So sánh năm 2001 và năm 2002,ta thấy rằng về mặt tổng giá trị xuất khẩu (tính
=USD) thì năm 2001 lớn hơn năm 2002 một lượng là 55.996,95.Tuy nhiên xem kỹ
số liệu nhận thấy một dấu hiệu khả quan là giá trị xuất khẩu trực tiếp là hoạt động
chủ yếu của và thường xuyên của ELMACO trong khi xuất khẩu uỷ thác mang tính
chất không ổn định và điều đó không phải là lợi thế của ELMACO.
Năm 2002 cũng là năm ghi nhận sự nỗ lực của toàn thể cán bộ công nhân viên
trong công ty Vật liệu điện và Dụng cụ cơ khí trong việc giữ vững, tìm kiếm và mở
rộng thị trường xuất khẩu. Hiện tại, không những chỉ có các bạn hàng ở các nước
Châu á lân cận, công ty đã thiết lập được thêm nhiều bạn hàng mới ở Châu âu, Nam

mỹ,…trong khi thị trường xuất khẩu được mở rộng thì đồng thời cơ cấu các mặt
hàng cũng gia tăng.
Năm 2001 chỉ xuất khẩu trực tiếp được 2 mặt hàng chủ yếu là Cao su tự nhiên và
Tùng hương thì đến năm 2002 có thêm các mặt hàng chủ yếu là Nhựa thông ,Quạt
điện,…,tham gia vào các lô hàng xuất bán thu ngoại tệ cho công ty. Chính điều này
đã đóng góp phần không nhỏ vào việc làm tăng doanh thu toàn công ty. Như vậy,
với việc mở rộng thị trường trong và ngoài nước, đồng thời mở rộng mối quan hệ

Trung học CN 141 34,4 150 36.1 155 36.1
CNKTbậc 4 trở lên 73 17,8 68 16.4 69 16.2
CNKTdưới bậc 4 34 8,3 34 8,2 40 9,3
CNKT chưa đào t
ạo

45

10,9

44

16,6

45

10,5

Tổng lao động 410 100 415 100 429 100
Nguồn: Phòng Tổ chức hành chính

Qua bảng tình hình lao động số người có trình độ cao đẳng tăng dần, lao động
trung học chuyên nghiệp tăng. Do đó có thể dự đoán được phát triẻn của doanh
nghiệp theo hướng thương mại nên công nhân kỹ thuật có tay nghề trên bậc 4 cũng
giảm, dưói bậc 4 giảm.Với cơ cấu công ty có chiều dài tồn tại phát triển mà lượng
lao động có tay nghề không tăng qua các năm, thực sự phải quan tâm tới vấn đề này
bởi công nhân kỹ thuật trên bậc 4 năm 2000 chiếm 17,8% trong tổng số lao động,
năm 2001 giảm xuống chỉ còn 16,4% cho đến năm 2002 là 16,2%.Trong khi đó
lượng công nhân kỹ thuật chưa đào tạo lại tăng từ 10,9 năm 2000 lên 16,6% năm
2001, tuy năm 2002 có giảm xuống còn 10,5%. Tỷ lệ lao động chưa đào tạo chiếm

lệ(%)


Thương mại
DV
280 68,3 285 68,7 292 68,1
LĐ tr
ực tiếp

220

53,7

223

53,7

225

52,5

LĐ gián tiếp 60 14,6 62 15 67 15,6

LĐ sản xuất
130

31,7

130


Lực lượng lao động thương mại và sản xuất được bố trí như trên là hợp lý theo
mục tiêu phát triển của công ty trong thời gian tới.Việc bố trí hợp lý như trên chính
là nhờ vào công tác quản trị nhân sự hoạt động có hiệu quả, đúc kết kinh nghiệm từ
đó phát triển theo chiến lược của công ty. Điều này là một thành công đáng ghi nhận

trong việc phân bổ lao động hợp lý khai thác tối ưu nguồn nhân lực hiện có của công
ty.
Bảng kết cấu độ tuổi lao động Chỉ tiêu
Năm 2000 Năm 2001 Năm 2002
SL(người) Tỷ
lệ(%)
SL(người) Tỷ
lệ(%)
SL(người) Tỷ
lệ(%)
Dưới 30 tuổi 86 20,9 88 21,2 97 22,6
Từ 30-40 tuổi 135 32,9 136 32,8 140 32,6
Từ 42-50 tuổi 100 24,4 103 24,8 105 24,5
T
ừ 51
-
60 tu
ổi

89

21,7

lệ(%)
SL(người) Tỷ
lệ(%)
Tổng lao động 410 100 415 100 429 100
Nam 238 58 245 59 257 60
Nữ 172 42 170 41 172 40
Nguồn: Phòng Tổ chức hành chính

Qua số liệu trên ta thấy lao động nam chiếm tỷ lệ cao trong tổng số lao động của
công ty, điều này hoàn toàn phù hợp với hoạt động sản xuất kinh doanh.Trong 3
năm trở lại đây, số lao động nam, nữ trong công ty thay đổi rất ít, song điều này
không có nghĩa là công tác quản trị nguồn nhân lực sẽ thuậu lợi hơn. Do công ty có
rất nhiều xí nghiệp và chi nhánh trên các địa bàn các tỉnh rộng khắp trải dọc từ bắc
vào nam, khiến cho việc điều động nhân lực hoặc thuyên chuyển gặp rất nhiều khó
khăn.
Qua những kết quả trên cho thấy lực lượng lao động của công ty đồng đều về số
lượng, bố trí công việc hợp lý, sử dụng tối ưu nguồn nhân lực hiện có. Bên cạnh đó
còn có một số nhược điểm cần khắc phục,lượng lao động chưa có trình độ,tay nghề
cao cần có giải pháp phát triển đội ngũ lao động hiện có.Lực lượng lao động trẻ còn
ít cần có những chính sách đãi ngộ hợp lý nhằm thu hút nhân tài từ bên trong và bên
ngoài công ty.
Ngày nay khoa học kỹ thuật phát triển, đội ngũ cán bộ khoa học kỹ thuật chuyên
môn của công ty chưa nhiều, công ty cần cử cán bộ khoa học kỹ thuật đi học thêm
để đáp ứng nhu cầu của thị trường.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status