THỞ ÁP LỰC DƯƠNG LIÊN TỤC QUA MŨI TÓM TẮT
Mục tiêu: Xác định tỉ lệ thành công và biến chứng của thở NCPAP trong
điều trị suy hô hấp sơ sinh.
Đối tượng và phương pháp:Mô tả hàng loạt ca, trong thời gian 7 tháng
(11/2006 – 06/2007), chúng tôi khảo sát 150 trẻ sơ sinh suy hô hấp được
điều trị bằng biện pháp thở áp lực dương liên tục qua mũi (NCPAP) với van
Benveniste và cannula hai mũi tại bệnh viện Nhi Đồng 1 và Nhi Đồng 2.
Kết quả: Các bệnh lý nội khoa chiếm tỉ lệ 86,7% gồm: viêm phổi, viêm phổi
hít phân su, bệnh màng trong và cơn khó thở nhanh thoáng qua. Có 122
trường hợp được điều trị thành công với NCPAP. Không có trường hợp nào
tử vong. Sau 1 giờ thở NCPAP có đáp ứng tốt trẻ bớt kích thích, nhịp thở
giảm (p < 0,05), trị số SpO
2
tăng từ 87,5+ 6,7% lên 95,3 + 3,3% (p < 0,005)
và khí máu cải thiện PaO
2
tăng từ 77 + 39,3 mmHg lên 100 + 39,8 mmHg (p
< 0,005); PaO
2
/FiO
2
tăng từ 142,8 + 94 lên 180 + 91 (p < 0,005) và PaCO
2
từ 48 + 16,9 giảm xuống còn 40 + 13,5 mmHg (p < 0,005). Biến chứng
thường gặp, chỉ có 1 trường hợp tràn khí màng phổi, 6 trường hợp chướng
bụng và 8 trường hợp loét mũi.
Kết luận: NCPAP là kỹ thuật học thích hợp vì dễ áp dụng, không xâm lấn, giá
2
from
48 + 16.9 mmHg to 40 + 13.5 (p < 0.005). Common complications were one
case with pneumothorax, six cases with abdominal miasma and eight cases
with ulceration of nose.
Conclusion, NCPAP is an appropriate technique for treatment of neonatal
respiratory distress, depend on easily using, noninvasive, low cost and high
effect.
ĐẶT VẤN ĐỀ
Hiện nay, suy hô hấp vẫn là là hội chứng thường gặp nhất và cũng là nguyên
nhân gây tử vong đứng hàng đầu trong giai đoạn sơ sinh.
Thở áp lực dương liên tục (CPAP) là kiểu thở trợ giúp cho bệnh nhân còn tự
thở được, là một phương pháp điều trị suy hô hấp sơ sinh đơn giản, không
xâm lấn.
Ở thành phố Hồ Chí Minh chưa có nghiên cứu nào đề cập rõ đến chỉ số oxy
hóa máu (PaO
2
/ FiO
2
) và áp dụng áp lực ban đầu của NCPAP là 5 - 6
cmH
2
O trong điều trị suy hô hấp sơ sinh bằng van Benveniste.
Chính tầm quan trọng về bệnh tật và tử vong của suy hô hấp sơ sinh, nên
chúng tôi tiến hành nghiên cứu đề tài này nhằm khảo sát hiệu quả của thở
NCPAP trong điều trị suy hô hấp sơ sinh, góp phần nâng cao chất lượng
điều trị và giảm tỉ lệ tử vong.
Mục tiêu nghiên cứu
Xác định tỉ lệ thành công và biến chứng của thở NCPAP trong điều trị suy
hô hấp sơ sinh tại Bệnh viện Nhi Đồng 1 và Nhi Đồng 2
- PaCO
2
> 65 mmHg.
Thu thập số liệu
Phương pháp tác động
Hỗ trợ hô hấp bằng thở NCPAP với van Benveniste và cannula qua mũi
bệnh nhân. Bắt đầu điều trị NCPAP ở áp lực 5 -6 cmH
2
O, áp lực thấp dùng
cho trẻ nhẹ cân, tỉ lệ oxy hít vào là FiO
2
= 41 – 100% tùy theo mức độ suy
hô hấp. Nếu bệnh nhi tím tái nhiều thì bắt đầu với FiO
2
= 100% để nhanh
chóng đưa bệnh ra khỏi tình trạng suy hô hấp nặng, thiếu oxy máu nặng, sau
đó áp lực CPAP và FiO
2
sẽ được điều chỉnh tùy theo đáp ứng lâm sàng và
SpO
2
sao cho áp lực không quá 8 cmH
2
O và FiO
2
60%. Thở oxy 100%
trong thời gian ngắn trong vòng 4 giờ không sợ nguy cơ tai biến do ngộ độc
oxy. Khi tình trạng suy hô hấp tương đối ổn, mỗi 30 – 60 phút chúng tôi
giảm dần FiO
2
2
O, FiO
2
= 40% - 60%.
+ Mức độ 2
Đáp ứng ở ngưỡng Sau khi đã thở NCPAP áp lực ban đầu của thở NCPAP >
6-8 cmH
2
O, FiO
2
= 60% - 100%.
+ Mức độ 3
Bệnh nhi tím nhiều thì bắt đầu với FiO
2
= 100% trong vòng 4 giờ để nhanh
chóng đưa bệnh ra khỏi tình trạng suy hô hấp nặng, thiếu oxy máu nặng,
theo dõi sát lâm sàng và SpO
2
để giảm FiO
2
dần dần.
Thất bại
Khi có một trong hai tiêu chuẩn sau:
- Khi đang thở NCPAP với áp lực = 8 cmH
2
O và FiO
2
= 100%, bệnh nhi còn tím
tái, SpO
2
N
ữ 54 (36%)
Non tháng
102 (68%)
Đủ tháng 45 (30%)
Tuổi thai
Già tháng 3 (2%)
Rất nhẹ cân 35 (23%)
Nh
ẹ cân 56 (37,7%)
Cân n
ặng lúc
sinh
Không nh
ẹ
cân
59 (39,3%)
1-7 ngày
118
(78,7%)
7-14 ngày 12 (8%)
Ngày tu
ổi kh
ởi
bệnh
> 14 ngày 20 (13,3%)
CPAP
Yếu tố Trước
NCPAP
n = 64
Sau
NCPAP
n = 64
P
Tri giác: Tỉnh
- L
ừ đừ hoặc
bức rức
30
(46,9%)
34
(53,1%)
40
(62,5%)
24
(37,5%)
0,000
Nh
ịp thở 65,8
(16,5)
pH/máu 7,2 (0,1)
7,3 (0,1)
0,000
PaO
2
/ máu
(mmHg)
77 (39,3)
100 (39,8)
0,000
PaCO
2
/máu
(mmHg)
48 (16,9)
40 (13,5)
2
, p =
Đặc điễm
Thành
công
Thất bại
P
tháng (76,5%) (3,5%) 0,043
Đủ
tháng
42/ 45
(93,3%)
3/45
(6,67%)
thai
Già
tháng
2/3
(66,7%)
1/3
(33,3%)
< 1000
g
2/122
(1,64%)
1/28
=
0,101
Ngày
tuổi
1- < 7
93/118
(78,8%)
25/118
(21,2%)
2
, p
=
Đặc điễm
Thành
công
Thất bại
P
7- 14
12/12
(100%)
0
(ngày)
> 14
17/20
(85%)
3/20
(15%)
2
, p
=
0,008
Đặc điễm
Thành
công
Thất bại
P
Cơn
khó
thở
nhanh
thoáng
qua
2/2
(100%)
0
Bệnh ph
ối
hợp
16/20
(80%)
4/20
(20%)
Mức độ suy hô hấp
2
Loét
mũi
S
ố ca (Tỉ
lệ %)
1 (0,7%) 6 (4%) 8
(5,3%)
BÀN LUẬN
Trong tổng số 150 trẻ sơ sinh suy hô hấp, trẻ nam có tần suất mắc bệnh gần gấp 2
lần (1,77/1) so với trẻ nữ, tỉ lệ này phù hợp với các nghiên cứu khác đã tiến hành
trên trẻ sơ sinh suy hô hấp.
Trong nghiên cứu, tỉ lệ trẻ đủ tháng (30%) xấp xỉ bằng ½ trẻ non tháng
(68%), chỉ có 3 trẻ già tháng chiếm tỉ lệ thấp nhất 2%. Tỉ lệ trẻ non tháng
cao hơn kết quả nghiên cứu của các tác giả trước, có thể một phần do chúng
tôi khảo sát bệnh nhân suy hô hấp sơ sinh ở cả hai khoa: Hồi sức sơ sinh và
Sơ sinh của bệnh viện Nhi Đồng 1 và khoa Sơ sinh của bệnh viện Nhi Đồng
2, một phần khác do tỉ lệ trẻ sinh non từ các tỉnh chuyển đến thành phố Hồ
Chí Minh ngày càng tăng dần.
Hơn 2/3 trẻ khởi bệnh trong vòng 7 ngày đầu tiên chiếm 78,7%. Điều này
cho thấy những ngày đầu sau sinh là giai đoạn thật sự khó khăn của trẻ, trẻ
vừa phải thích nghi nhanh chóng, tự cung cấp dưỡng khí bằng hai lá phổi
của mình để thích ứng với cuộc sống mới, vừa phải chống chọi với nhiều
yếu tố nguy cơ nhất là vi trùng từ mẹ, trong cuộc sanh và cả môi trường
bệnh viện, sự khác biệt này cho thấy cần phải phát hiện sớm và điều trị kịp
thời các bệnh gây suy hô hấp sơ sinh.
Có 96,7% trẻ được sinh trong bệnh viện, trong lô nghiên cứu chỉ có 3,3% trẻ
được sinh ngoài bệnh viện (tại nhà, nhà hộ sinh tư ). Hiện tượng này có thể
do nhiều nguyên nhân: người nhà lo lắng, con quí hiếm đòi hỏi sự chăm sóc
cao hơn nên tự đến y tế tuyến trên.
không có trường hợp nào tử vong. Tỉ lệ thành công với thở NCPAP ở trẻ
non tháng là 76,47% cao hơn các tác giả trước, vì trong nghiên cứu của
chúng tôi có 68% bệnh nhân sơ sinh suy hô hấp là trẻ non tháng, và có lẽ do
chúng tôi khảo sát bệnh nhân suy hô hấp ở cả hai khoa: Hồi sức sơ sinh,
khoa Sơ sinh của cả hai bệnh viện Nhi Đồng 1 và 2. Mặt khác, tỉ lệ trẻ non
tháng được chuyển đến từ các tỉnh tập trung về thành phố Hồ Chí Minh
nhiều hơn những năm trước kia. Do ở những trẻ sanh cực non, lớp cơ thành
ngực mỏng nên hiệu quả thở NCPAP hạn chế, còn ở trẻ đủ tháng với hệ thần
kinh phát triển tương đối ổn định nên có tỉ lệ thành công với thở NCPAP cao
nhất là 42/45 (93,33%).
Cân nặng lúc sinh gắn liền với tuổi thai, trẻ càng non tháng, cân nặng lúc
sinh càng thấp, tỉ lệ thành công với thở NCPAP càng thấp. Tỉ lệ thành công
với thở N.CPAP ở nhóm trẻ rất nhẹ cân 22,1% và trẻ nhẹ cân (< 2500g)
chiếm 33,6%
Suy hô hấp ở trẻ sơ sinh Việt Nam cũng xuất hiện sớm. Nghiên cứu của
Phạm Thị Thanh Tâm cho thấy 60% trẻ có biểu hiện lâm sàng trước 24 giờ
tuổi 93% suy hô hấp do bệnh lý hô hấp, 1/3 trường hợp có nhiễm trùng.
Trong nghiên cứu của chúng tôi ngày tuổi khởi bệnh có tỉ lệ thành công với
thở NCPAP ở nhóm trẻ dưới 7 ngày 93/122 (78,81%) và trên 14 ngày tuổi
17/12 (85%)
Về nguyên nhân suy hô hấp, tỉ lệ thành công thở NCPAP cao theo thứ tự
viêm phổi nặng (95,9%), viêm phổi hít phân su (85,7%), bệnh phối hợp
(nhiễm trùng huyết, vàng da, dị tật đi kèm với bệnh nền hô hấp) (80%) và
bệnh màng trong (69,2%). Riêng cơn khó thở nhanh thoáng mặc dù cũng
chiếm tỉ lệ cao nhưng chỉ chiếm 2 trong 150 trẻ sơ sinh suy hô hấp, do đó
không nói được thành công. Điều này chứng tỏ trẻ bị suy hô hấp do bệnh lý
nội khoa và trẻ non tháng ngày càng nhiều hơn. Vì bệnh màng trong là bệnh
xảy ra sau khi khởi phát thở ở trẻ sơ sinh bị thiếu surfactant ở phổi, mà ở trẻ
non tháng nhiều phế nang bị xẹp do thiếu surfactant gây suy hô hấp. Sở dĩ có
sự khác biệt này do chúng tôi sử dụng surfactant sớm và điều trị phối hợp
2
trung bình là 58,7 + 10 %. Có sự khác
biệt ý nghĩa về tỉ lệ thành công thở NCPAP ở nhóm tuổi thai, cân nặng trung
bình lúc sinh ở nhóm thành công là: 2215.7 g + 792 và cân nặng trung bình
lúc sinh ở nhóm thất bại là: 1867 g + 652,7, về tỉ lệ thành công ở nguyên
nhân và độ nặng suy hô hấp. Nhưng không có sự khác biệt về tỉ lệ thành
công thở NCPAP ở ngày tuổi khởi bệnh
Biến chứng của thở NCPAP: có 8 ca bị loét mũi chiếm 5,33%, 6 ca bị
chướng bụng chiếm 4% và 1 ca bị tràn khí màng phổi chiếm 0,7%.