ĐẶT ỐNG DẪN LƯU MÀNG PHỔI
TRONG ĐIỀU TRỊ CÁC BỆNH LÝ MÀNG PHỔI
Đặt ống dẫn lưu khoang màng phổi là một thủ thuật ngoại khoa làm thoát dịch
và khí ra khỏi khoang màng phổi nhằm phục hồi tình trạng áp suất âm trong khoang
màng phổi. Trong bài tổng quan này, chúng tôi trình bày một số chỉ định và ứng dụng
của phương pháp đặt ống dẫn lưu màng phổi trong điều trị các trường hợp bệnh lý
màng phổi.
CHỈ ĐỊNH ĐẶT ỐNG DẪN LƯU MÀNG PHỔI
Tràn khí màng phổi
- Tràn khí màng phổi áp lực sau khi đã được giảm bớt áp lực bằng chọc hút
khí bằng kim trước đó.
- Tràn khí màng phổi tái phát hoặc kéo dài sau khi chọc hút khí đơn giản thất
bại.
- Tràn khí màng phổi tự phát thứ phát lượng nhiều ở bệnh nhân trên 50 tuổi.
- Tràn khí màng phổi ở bệnh nhân đang thở máy.
- Tràn khí màng phổi nhiễm trùng
- Tràn khí màng phổi toàn bộ.
Tràn mủ màng phổi và tràn dịch màng phổi cạnh viêm phổi biến chứng
với các biểu hiện của dịch màng phổi:
- Dịch mủ
- Glucose < 40 mg%
- pH < 7,20
- Phát hiện vi khuẩn trên nhuộm Gram
Tràn máu màng phổi tiến triển
Tràn dịch màng phổi ác tính, tái lập nhanh
Tràn dịch màng phổi dưỡng chấp
Tràn khí – tràn máu màng phổi sau chấn thương
Đặt ống dẫn lưu sau phẫu thuật lồng ngực (sau nội soi lồng ngực hoặc sau
phẫu thuật mở lồng ngực)
Dò phế quản – màng phổi
MỘT SỐ ỨNG DỤNG ĐẶT ỐNG DẪN LƯU MÀNG PHỔI
hoặc không nối với hệ thống máy hút khí. Nếu phổi không nở ra lại hoàn toàn một
cách nhanh chóng thì nên kết hợp gắn với hệ thống máy hút khí liên tục. Van
Heimlich có thể được dùng kết hợp thay cho dụng cụ van nước ở những bệnh nhân
tràn khí màng phổi tự phát ổn định được chọn lựa cẩn thận, mặc dù theo khuyến cáo
của các chuyên gia ACCP thì dụng cụ van nước là lựa chọn tốt hơn dành cho hầu hết
bệnh nhân tràn khí màng phổi tự phát, thứ phát.
Một khi ống dẫn lưu màng phổi đã được đặt, có thể tiến hành làm dày dính
màng phổi để ngăn ngừa tràn khí màng phổi tái phát. Tuy nhiên, ở những bệnh nhân
tràn khí màng phổi tự phát nguyên phát, nội soi lồng ngực điều trị là một biện pháp
can thiệp ngăn ngừa tái phát được ưa chuộng hơn sau khi tràn khí màng phổi lần thứ
hai xảy ra. Làm dày dính màng phổi trực tiếp qua ống dẫn lưu màng phổi có thể được
chấp nhận ở những bệnh nhân tràn khí màng phổi tự phát nguyên phát từ chối phẫu
thuật và những bệnh nhân có nhiều nguy cơ tai biến do phẫu thuật (chẳng hạn như
xuất huyết nội). Tác nhân thường gây dày dính màng phổi là Doxycycline hoặc talc.
Ngăn ngừa tái phát bằng nội soi lồng ngực điều trị được chỉ định cho những
bệnh nhân tràn khí màng phổi tự phát, thứ phát sau tràn khí màng phổi lần thứ nhất.
Gây dày dính màng phổi trực tiếp qua ống dẫn lưu màng phổi có thể được sử dụng
trong một số trường hợp nhất định dựa trên tình trạng chống chỉ định với phẫu thuật
của bệnh nhân, tham khảo điều trị, và tiên lượng bệnh lý phổi cơ bản xấu. Cũng như
đối với tràn khí màng phổi tự phát, nguyên phát. Doxycycline hoặc talc là tác nhân
thường gây dày dính màng phổi ở những bệnh nhân tràn khí màng phổi tự phát, thứ
phát.
Tràn khí màng phổi do chấn thương
Tràn khí màng phổi được xếp hàng thứ hai sau gãy xương sườn như là biểu
hiện thường gặp nhất của tổn thương ngực do chấn thương (chiếm 40 – 50% trường
hợp chấn thương ngực).
Nhiều trường hợp tràn khí màng phổi bị che khuất (không phát hiện trên X-
quang phổi ban đầu nhưng được phát hiện bởi những hình ảnh hỗ trợ) có thể xảy
ra ở 50% bệnh nhân chấn thương.
Gần 20% trường hợp chấn thương ngực hoặc đa chấn thương có tràn máu
Tràn mủ màng phổi và tràn dịch màng phổi cạnh viêm phổi
Chưa có phương pháp điều trị thống nhất đối với những trường hợp tràn mủ
màng phổi và tràn dịch màng phổi cạnh viêm phổi. Theo quan điểm trước đây,
tràn mủ màng phổi và tràn dịch màng phổi cạnh viêm phổi có biểu hiện pH dịch
màng phổi < 7,20; đường < 40 mg%; LDH > 200 IU; hoặc xác định vi khuẩn qua
nhuộm Gram hoặc cấy; hoặc có sự hiện diện của mủ là có chỉ định điều trị dẫn lưu
màng phổi. Tuy nhiên, theo hướng dẫn mới của ACCP, tràn mủ màng phổi và tràn
dịch màng phổi cạnh viêm phổi được chia thành 4 nhóm từ mức độ nhẹ đến nặng:
Nhóm 1
Bao gồm trường hợp có mức độ tràn dịch màng phổi tự do rất ít (< 10 mm với
X-quang phổi chụp thẳng vuông góc với thành ngực ở tư thế nằm nghiêng bên) với
cấy, nhuộm gram và pH dịch màng phổi thì không biết.
Nhóm 2
Bao gồm trường hợp có mức độ tràn dịch màng phổi tự do từ ít đến trung bình
(> 10 mm và ít hơn 1/2 của nửa lồng ngực với X-quang phổi chụp thẳng vuông góc
với thành ngực ở tư thế nằm nghiêng bên), nhuộm Gram và cấy vi khuẩn âm tính, pH
dịch màng phổi 7,20.
Nhóm 3
Bao gồm trường hợp có mức độ tràn dịch màng phổi tự do nhiều (bằng hoặc
lớn hơn 1/2 của nửa lồng ngực với X-quang phổi chụp thẳng vuông góc với thành
ngực ở tư thế nằm nghiêng bên), tràn dịch màng phổi khu trú, hoặc tràn dịch với
màng phổi thành dày (86 – 100% trong tràn mủ màng phổi và 56% trong tràn dịch
màng phổi cạnh viêm phổi); cấy và nhuộm Gram có vi khuẩn, pH dịch màng phổi <
7,20.
Nhóm 4
Bao gồm trường hợp tràn mủ màng phổi cùng với đầy đủ đặc tính của nhóm 3.
Những bệnh nhân thuộc nhóm 1 và 2 thì có thể không cần dẫn lưu màng
phổi bằng ống dẫn lưu màng phổi hay bất cứ phương tiện dẫn lưu nào khác.
Những bệnh nhân thuộc nhóm 3 và 4 thì cần phải dẫn lưu màng phổi. Chọc dò
màng phổi điều trị hoặc đặt ống dẫn lưu màng phổi đơn thuần là không đủ đối với
Mặc dù đặt ống dẫn lưu màng phổi kết hợp với làm dày dính màng phổi bằng
hóa chất được chỉ định đối với những trường hợp tràn dịch màng phổi ác tính có triệu
chứng tái phát, nhằm ngăn cản tái lập dịch nhanh, nhưng phương pháp điều trị này
cũng có thể được dùng đối với những trường hợp tràn dịch màng phổi lành tính đã
được chọn lựa.
Tràn dịch màng phổi lành tính
Trong trường hợp tràn dịch màng phổi lành tính tái phát nhiều lần, gây biểu
hiện triệu chứng có ý nghĩa, thì có thể xem xét đến vấn đề điều trị ngăn cản tái lập
dịch. Nếu bệnh nhân không đáp ứng với điều trị căn nguyên của tràn dịch màng phổi
lành tính, thì một trong các phương pháp có thể tiến hành ngăn cản tái lập dịch là làm
dày dính màng phổi bằng hóa chất qua nội soi lồng ngực hoặc qua ống dẫn lưu màng
phổi.
Làm dày dính màng phổi bằng hóa chất qua ống dẫn lưu màng phổi ngăn cản
thành công sự tái lập dịch ở những trường hợp tràn dịch màng phổi dịch thấm và dịch
tiết không ác tính. Phương pháp làm dày dính màng phổi bằng talc (97%) đã chứng tỏ
thành công nhiều hơn các chất làm dày dính màng phổi không chuyên biệt khác kết
hợp lại (60%) trong điều trị các trường hợp tràn dịch màng phổi lành tính. Tỉ lệ thành
công của phương pháp bơm talc làm dày dính màng phổi qua ống dẫn lưu đối với các
trường hợp tràn dịch màng phổi lành tính do suy tim sung huyết (100%); xơ gan cổ
chướng (89%); lupus ban đỏ hệ thống (100%); tràn dịch dưỡng chấp (lành tính gây ra
do lymphangioleomyomatosis) (95%); hội chứng móng vàng (100%); hội chứng thận
hư (100%); và các nguyên nhân không rõ khác (100%). Tuy nhiên, điều quan trọng là
các tràn dịch này có thể chỉ lành tính trong căn nguyên của chúng. Theo Glazer và
cộng sự, 4 trường hợp tràn dịch màng phổi lành tính trong số 16 bệnh nhân (25%) (1
trường hợp suy tim sung huyết, 1 trường hợp xơ gan cổ chướng, 1 trường hợp tràn
dịch dưỡng chấp và 1 trường hợp tràn dịch không rõ chẩn đoán) tử vong trong 2 – 4
tháng sau làm dày dính màng phổi bằng hóa chất.
Tràn dịch màng phổi ác tính
Theo hướng dẫn của Hiệp hội lồng ngực Hoa kỳ (ATS) và Hiệp hội lồng ngực
Anh (BTS) về vai trò đặt ống dẫn lưu trong điều trị tràn dịch màng phổi ác tính, gần
Tuy nhiên, một số nghiên cứu cho thấy vẫn có thể sử dụng ống dẫn lưu loại nhỏ
hơn (10 – 14F) vẫn cho tỉ lệ thành công tương tự. Ngoài ra, sử dụng ống dẫn lưu
loại nhỏ dễ đặt và làm bệnh nhân ít khó chịu hơn ống dẫn lưu loại lớn. Do đó,
ATS và BTS khuyến cáo nên ưu tiên sử dụng ống dẫn lưu loại nhỏ (10 – 14F)
dùng để dẫn lưu màng phổi và làm dày dính màng phổi trong điều trị tràn dịch
màng phổi ác tính.
Theo ATS và BTS, các hóa chất sẵn có dùng làm dày dính màng phổi có tỉ lệ
thành công nhiều nhất theo thứ tự là: Tetracycline (55 – 65%); Doxycycline (65 –
76%); Bleomycin (60 – 80%); Talc (85 – 97%). Trong đó, Bleomycin (60 – 80UI) có
giá thành đắt hơn so với các hóa chất khác (Liều dùng và giá từng hóa chất được
trình bày ở một phần khác).
Chọc dò màng phổi điều trị, đặt ống dẫn lưu màng phổi và bơm talc làm dày
dính màng phổi đều là những điều trị hỗ trợ, điều trị triệu chứng. Điều quan trọng là
tiếp tục điều trị hệ thống, đặc biệt là tràn dịch màng phổi ác tính còn đáp ứng với hóa
trị ung thư (ung thư vú, ung thư tế bào nhỏ, và lymphôm).
Tràn máu màng phổi
Tràn máu màng phổi có thể do chấn thương, do can thiệp y khoa, hoặc tự phát.
Tràn máu màng phổi được định nghĩa khi hematocrit dịch màng phổi 50%
hematocrit của máu ngoại biên. Cần phân biệt rõ ràng tràn máu màng phổi
(hemothorax) và tràn dịch màng phổi dạng máu (bloody effusion). Dẫn lưu tràn máu
màng phổi là cần thiết để hạn chế các biến chứng tiềm ẩn bao gồm nhiễm trùng màng
phổi (tràn mủ màng phổi) (chiếm 1 – 5% trường hợp), máu cục trong khoang màng
phổi (3%), tràn dịch sau khi rút bỏ ống dẫn lưu (13%), và xơ hóa màng phổi (< 1%).
Có mối liên quan giữa tràn khí màng phổi do chấn thương. Theo Trupka và
cộng sự, 20% tràn máu màng phổi cũng như 26% tràn khí màng phổi ở những bệnh
nhân bị chấn thương ngực kín không được phát hiện bằng X-quang phổi thường qui
nhưng được phát hiện bằng CT scan ngực. Do đó, tác giả khuyến cáo đối bệnh nhân
chấn thương ngực kín cần chụp CT scan ngực trước tiên nhằm chẩn đoán sớm, chính
xác hơn và hạn chế chẩn đoán sai của X-quang phổi (nhất là các tràn máu màng phổi
lượng ít dưới 500 ml). Đồng thời, CT scan ngực giúp chỉ định dẫn lưu tràn máu màng