KHẢ NĂNG PHÁT HIỆN KÝ SINH TRÙNG
BẰNG PHỐI HỢP CÁC KỸ THUẬT XÉT NGHIỆM PHÂN TÓM TẮT
Mục tiêu nghiên cứu: Xác định giá trị tiên đoán âm của các phương pháp
phối hợp: soi trực tiếp + Willis, soi trực tiếp + Sasa trên mẫu phân các bệnh nhân
có triệu chứng rối loạn tiêu hóa được bác sĩ lâm sàng bệnh viên 115 đề nghị xét
nghiệm trong thời gian từ 1/2/2003 đến 1/2/2005.
Phương pháp nghiên cứu: nghiên cứu cắt ngang được tiến hành trên 390
bệnh nhân có triệu chứng rối loạn tiêu hóa ở bệnh viện 115 trong thời gian từ
1/2/2003 đến 1/2/2005, mỗi mẫu phân đều được tiến hành khảo sát bằng 3 phương
pháp (soi trực tiếp, tập trung, cấy). Phần mềm SPSS 7.5 được dùng để phân tích
các dữ liệu nghiên cứu và od(Posttest-) để khảo sát khả năng tìm ký sinh trùng
đường ruột giữa phương pháp soi trực tiếp và kết hợp các phương pháp xét
nghiệm.
Kết quả và kết luận: Tỉ lệ nhiễm ký sinh trùng đường ruột chung ở 390
bệnh nhân có triệu chứng rối loạn tiêu hóa đến khám tại bệnh viện 115: 41,3%. Đa
số các nhóm ký sinh trùng đường ruột mà chúng tôi thu thập được là nhóm đơn
bào: E. histolityca, nhóm đa bào: giun móc và S. stercoralis với tỉ lệ nhiễm trên
tổng số mẫu thu thập được lần lượt là 16,4%; 24,1% và 9,5%. Phối hợp 2 phương
pháp soi trực tiếp và tập trung giúp làm tăng khả năng phát hiện giun móc, làm
giảm tỉ lệ âm tính giả gấp 2,7 lần so với khi chỉ áp dụng soi đơn thuần. Ngược lại,
khi tiến hành phối hợp như vậy không làm tăng khả năng phát hiện S. stercoralis
hơn so với phương pháp soi trực tiếp. Phối hợp 2 phương pháp soi trực tiếp và
phương pháp cấy giúp làm tăng khả năng phát hiện giun móc, S. stercoralis và làm
giảm tỉ lệ âm tính giả gấp 5,4 lần so với khi chỉ áp dụng soi đơn thuần ở giun móc
và 7,4 lần ở S. stercoralis.
ABSTRACT
Objectives: To identify the negative predictive value of the combining
methods: direct examination + Willis, direct examination + Sasa on the 390
bệnh nhân có triệu chứng rối loạn tiêu hóa được bác sĩ lâm sàng tại bệnh viện 115
đề nghị trong thời gian từ 1/2/2003 đến 1/2/2005
ĐỐI TƯỢNG - PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Đối tượng nghiên cứu
Bệnh nhân bị rối loạn tiêu hóa được các bác sĩ lâm sàng bệnh viện 115 chỉ
định làm xét nghiệm phân tìm ký sinh trùng đường ruột.
Phương pháp nghiên cứu
Các bệnh nhân thoả 2 tiêu chuẩn (có trên 1 triệu chứng rối loạn tiêu hóa
theo định nghĩa của ANN O’FEL
[1]
nghi do ký sinh trùng đường ruột được gởi từ
bệnh viện 115; Được xét nghiệm đồng thời bởi 3 phương pháp: soi trực tiếp,
Willis, Sasa) được ghi nhận vào khung thu thập những thông tin liên quan đến các
biến số khảo sát trong thời gian từ 1/2/2003 đến 1/2/2005
Cỡ mẫu: n=
Với: Z
1-µ/2
=1,96 ở độ tin cậy 95%
p là tỉ lệ nhiễm ký sinh trùng đường ruột được phát hiện bằng 3 phương
pháp xét nghiệm soi, tập trung, cấy ở các bệnh nhân bị rối loạn tiêu hóa
p = 0,5 do không có thông tin về p, d = 0,05 sai số ước lượng
Vậy n 384; n =390
KẾT QUẢ
Trong số 390 bệnh nhân có triệu chứng rối loạn tiêu hóa nghi ngờ do ký
sinh trùng đường ruột, có 41,3% người có nhiễm ít nhất một loại ký sinh trùng.
Bảng 1: Tỉ lệ nhiễm từng loại ký sinh trùng đường ruột trong dân số khảo
sát
Nhóm Ký
sinh trùng đư
ờng
75,9
Ascaris
lumbricoides
7 1,8 383
98,2
Stronggyloides
stercoralis
37 9,5 353
90,5
Trichuris
trichiura
2 0,51 388
99,5
Sán lá lớn 2 0,51 388
99,5
Sán lá nhỏ 2 0,51 388
99,5
Bảng 2: Tỉ lệ phát hiện từng loại ký sinh trùng qua phương pháp soi trực
tiếp, Willis, Sasa:
Phương pháp
Nhóm
ký sinh
trùng
đường ruột
Soi
+
64 0 64
Soi
trực tiếp
-
30 296 326
Tổng 94 296 390
PV-=
odd(Posttest-)=
Bảng 4:Tỉ lệ phát hiện nhiễm giun móc bằng kết hợp soi trực tiếp – Willis
Nhiễm
Khô
ng
nhiễm
Tổng
+ 83 0 83
Soi-
Willis
-
11 296 307
Tổng 94 296 390
PV-=
Nhiễm
Không
nhiễm
Tổng
+
10 0 10
Soi
trực tiếp
-
27 353 380
Tổng 37 353 390
PV
-
=odd (Posttest
-
) =
Bảng 7: Tỉ lệ phát hiện nhiễm S. stercoralis bằng kết hợp soi trực tiếp- Sasa
Nhiễm
Không
nhiễm
Tổng
. Tuy nhiên, dân số nghiên cứu là những bệnh nhân có
triệu chứng rối loạn tiêu hóa đến khám tại bệnh viện 115, như vậy có thể đã bỏ qua
một số bệnh nhân có triệu chứng nhưng không đến bệnh viện khám. Nên đây có
thể đây là một yếu tố tác động làm cho tỉ lệ nhiễm ký sinh trùng trên bệnh nhân bị
rối loạn tiêu hóa thay đổi.
Tỉ lệ nhiễm từng loại ký sinh trùng đường ruột
Ở bảng 1, tỉ lệ nhiễm G. lamblia; A. lumbricoides; T. trichiura; sán lá lớn, sán
lá nhỏ khá thấp dưới 2%.Trong khi đó, 3 nhóm ký sinh trùng đường ruột nhiễm phổ
biến trong quần thể: E. histolytica (16,4%); giun móc (24,1%); S. stercoralis ( 9,5%).
Như vậy tỉ lệ nhiễm giun móc có thấp hơn so với các nghiên cứu trước, điều này là
phù hợp với dân số thu thập từ nhiều vùng. Tuy nhiên, tỉ lệ nhiễm Strongyloides
stercoralis 9,5% cao hơn hẳn so với các nghiên cứu khác ngay tại vùng dịch tễ. Sự
chênh lệch này có thể giải thích là do nghiên cứu này không chỉ áp dụng phương pháp
soi trực tiếp đơn thuần mà còn xử lý tiếp theo mẫu phân bằng phương pháp tập trung
và cấy. Điều này khác hẳn với các nghiên cứu trên, mẫu phân chỉ được soi trực tiếp
sau khi đã cố định bằng F2AM.
So sánh khả năng phát hiện giữa các phương pháp xét nghiệm:
E. histolytica chỉ có thể phát hiện được qua phương pháp soi trực tiếp (bảng
2), đây là phương pháp đơn giản nhất và hiệu quả nhất. Tuy nhiên, phương pháp
soi trực tiếp để phát hiện E. histolytica hữu hiệu nhất thì cần phải cần có 2 điều
kiện quan trọng là: lấy phân 3 đúng, và phải do kỹ thuật viên lành nghề thực hiện.
Odd(Posttest-)
[4]
của phương pháp soi trực tiếp đơn thuần trong chẩn đoán
giun móc là 9 >1 (bảng 3), điều này nói lên khả năng không có nhiễm giun móc
sau khi xét nghiệm soi trực tiếp âm tính là cao hơn so với khả năng có nhiễm giun
móc khi xét nghiệm âm tính. Tuy nhiên Odd(Posttest-) của hai phương pháp: soi +
Willis (bảng 4) là 24 > odd(Posttest-) của phương pháp soi trực tiếp đơn thuần 9
và >1. có nghĩa là khi kết hợp 2 xét nghiệm soi trực tiếp +Willis thì khả năng bệnh
nhân không nhiễm giun móc khi kết quả âm tính là cao hơn gấp 2,7 lần (
giảm khả năng âm tính giả xuống 7,4 lần so với nếu chỉ xét nghiệm đơn thuần
bằng một phương pháp soi trực tiếp. Kết quả này hoàn toàn phù hợp với nghiên
cứu của Lê Đức Vinh
[3]
. Như vậy ngoài phương pháp tập trung với kỹ thuật
Baermann
[6]
, là một kỹ thuật đặc hiệu chỉ nhằm chẩn đoán S. stercoralis thì
phương pháp cấy Sasa cũng hữu hiệu để phát hiện loại ký sinh trùng đường ruột
này và một số các loại ký sinh trùng khác.
KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ
Qua ứng dụng các kỹ thuật xét nghiệm để tầm soát nguyên nhân gây rối
loạn tiêu hóa ở các bệnh nhân có triệu chứng được chẩn đoán tại bệnh viện 115 từ
1/2/2003 đến 1/2/2005 chúng tôi rút ra được một số kết luận như sau:
1. Tỉ lệ nhiễm ký sinh trùng đường ruột chung ở 390 bệnh nhân có triệu
chứng rối loạn tiêu hóa đến khám tại bệnh viện 115: 41,3%. Đa số các nhóm ký
sinh trùng đường ruột mà chúng tôi thu thập được là nhóm đơn bào: E. histolityca,
nhóm đa bào: giun móc và S. stercoralis với tỉ lệ nhiễm trên tổng số mẫu thu thập
được lần lượt là 16,4%; 24,1% và 9,5%.
2. Phối hợp 2 phương pháp soi trực tiếp và phương pháp tập trung giúp làm
tăng khả năng phát hiện giun móc, làm giảm tỉ lệ âm tính giả gấp 2,7 lần so với khi
chỉ áp dụng soi đơn thuần. Ngược lại, khi tiến hành phối hợp như vậy không làm
tăng khả năng phát hiện S. stercoralis hơn so với phương pháp soi trực tiếp.
3. Phối hợp 2 phương pháp soi trực tiếp và phương pháp cấy giúp làm tăng
khả năng phát hiện giun móc, S. stercoralis và làm giảm tỉ lệ âm tính giả gấp 5,4
lần so với khi chỉ áp dụng soi đơn thuần ở giun móc và 7,4 lần ở S. stercoralis.
Qua các kết quả thu được gợi ý một số đề xuất
1. Các bệnh nhân bị rối loạn tiêu hóa đến khám tại bệnh viện 115 có tỉ lệ
nhiễm ký sinh trùng khá cao (41,3%). Vì vậy các bác sĩ lâm sàng nên lưu ý xét
nghiệm phân để tầm soát tác nhân ký sinh trùng trên nhóm bệnh nhân này trước