ĐỀ ÁN
Giải pháp đẩy mạnh tiêu thụ sản phẩm
bia của công ty CPTM SABECO Bắc
Trung Bộ tại địa bàn Hà Tĩnh
1
PHẦN I
LỜI MỞ ĐẦU
1.1. Tính cấp thiết của đề tài
Hiện nay với sự phát triển mạnh mẽ của nền kinh tế cùng với sự cạnh tranh
khốc liệt, xu hướng hội nhập nền kinh tế với các nước trong khu vực và trên thế
giới đòi hỏi các nước phải năng động, sáng tạo. Đến năm 2006 Việt Nam gia nhập
WTO và 2020 cơ bản trở thành một nước công nghiệp điều đó mở ra nhiều cơ hội
cũng như thách thức đối với DN Việt Nam, để có thể đứng vững và phát triển được
đòi hỏi DN phải năng động, vươn lên để tự khẳng định mình.
Mỗi DN muốn đứng vững trên thị trường phải giải quyết tốt các vấn đề
sau: sản xuất cái gì? sản xuất cho ai? sản xuất như thế nào? dịch vụ cho ai?
đồng thời phải chuyển đổi theo hướng giảm dần vai trò cạnh tranh theo giá và
tăng dần cạnh tranh phi giá, DN phải làm tốt công tác tiêu thụ vì đã sản xuất
phải có tiêu thụ mới có doanh thu vì vâ có tiêu thụ DN mới tồn tại và phát triển.
Công tác tiêu thụ sản phẩm của DN thành công hay thất bại phụ thuộc vào yếu
tố chủ quan là: khả năng tổ chức, điều hành, chất lượng, sản phẩm, mẫu mã…
yếu tố khách quan là: thị trường, chính sách, thị hiếu, giá cả…
Như vậy để đẩy mạnh tiêu thụ sản phẩm cần phải nghiên cứu xem xét
mức độ ảnh hưởng của các yếu tố từ đó đề ra những giải pháp và biện pháp
khắc phục kịp thời.
Công ty CPTM SABECO Bắc Trung Bộ là một DN có quy mô khá lớn
trên thị trường miền trung. Các mặt hàng của công ty đã tạo được uy tín lớn đối
với người dân trong và ngoài nước. Song trước sức ép của thị trường hiện nay
2
công ty CPTM SABECO Bắc trung Bộ chịu sự cạnh tranh mạnh mẽ của các
công ty giải khát trong nước như: công ty Bia Rượu Nước giải khát Hà Nôi
2.1. Cơ sở lý luận
2.1.1. Một số lý luận về sản phẩm hàng hoá
Theo Mác: Sản phẩm hàng hoá là vật hữu hình, có đặc tính vật lý, hoá
học được sản xuất ra chủ yếu để bán, nhằm thoả mãn nhu cầu của con người.
Theo quan điểm truyền thống: Sản phẩm là tổng hợp các đặc tính vật lý, hoá
học được tập hợp thành một hình thức đồng nhất mang giá trị sự dụng.
Khi nền kinh tế thị trường ra đời, sự cạnh tranh gay gắt trên thị trường đã làm
cho khái niệm vể hàng hoá được mở rộng hơn: Sản phẩm hàng hoá là tổng hợp
mọi sự thoả mãn về vật chất, tâm lý, xã hội… mà người mua nhận được từ việc
sở hữu và sử dụng.
Tóm lại: Khái niện về sản phẩm hàng hoá ngày càng hoàn thiện hơn để
phù hợp với thị trường hiện nay. Sản phẩm hàng hoá không chỉ dừng lại ở các
dạng vật chất hữu hình như các quan điểm của Các Mác và nhà kinh tế học cổ
điển đã nêu. Hiện nay sản phẩm hàng hoá được hiểu là bất cứ thứ gì có thể bán
trên thị trường nhằm thoả mãn nhu cầu khác nhau của người tiêu dùng và mang
lại lợi nhuận cho người bán.
4
2.1.2. Một số lý luận về tiêu thụ sản phẩm
2.1.2.1. Những khái niệm cơ bản về tiêu thụ sản phẩm
Tiêu thụ sản phẩm là hoạt động quyết định sự thành bại của một doanh
nghiệp,để quá trình sản xuất diễn ra một cach liên tục thì các doanh nghiệp phải
tiêu thụ được sản phẩm của mình đã sản xuất ra. Tiêu thụ sản phẩm còn là một
trong sáu chứ năng cơ bản của doanh nghiệp: tiêu thụ, hậu cần, kinh doanh, tài
chính, kế toán, và quản trị doanh nghiệp. Vậy tiêu thụ là gì?
Quản trị kinh doanh truyền thống quan niệm tiêu thụ là hoạt động đi sau
sản xuất, chỉ được thực hiện khi đã sản xuất được sản phẩm. Theo quan điểm
hiện đại thì tiêu thụ sản phẩm là một quá trình thực hiện tổng thể các hoạt động
có mối quan hệ lôgíc và chặt chẽ bởi một tập hợp các cá nhân, doanh nghiệp
phụ thuộc lẫn nhau nhằm thực hiện quá trình chuyển hàng hóa từ nơi sản xuất
đến nơi tiêu dùng. Cùng với sự phát triển của nền kinh tế thị trường thì quan
2.1.2.2.2 Nhiệm vụ
Mục tiêu thụ là bán hết hàng với doanh thu tối đa và chi phí kinh doanh
cho hoạt động tiêu thụ là tối thiểu, để thực hiện mục tiêu này thì hoạt động tiêu
thụ sẽ có các nhiệm vụ sau:
Tiêu thụ sản phẩm phải có nhiệm vụ chủ động từ việc nghiên cứu thị
trường xác định cầu của thị trường đối với sản phẩm, cho đến đánh giá khả
năng sản xuất của doanh nghiệp để từ đó có các quyết định đầu tư tối ưu.
6
Cần tiến hành các hoạt động quảng cáo nhằm giới thiệu và thu hút khách
hàng: Trong thời buổi bùng nổ thông tin như hiện nay thì vai trò của hoạt động
quảng cáo là rất lớn, nó sẽ khuyếch trương sản phẩm của doanh nghiệp, khơi
gợi khả năng tiềm ẩn của cầu.
Tổ chức bán hàng và thực hiện các dịch vụ sau bán hàng nhằm bán được
nhiều hàng nhất với chi phí thấp nhất: ngày nay với sự phát triển củakhoa học
kỹ thuật, do đó trình độ sản xuất của các doanh nghiệp gần như là mạnh tiêu thụ
sản phẩm đối với các doanh nghiệp công nghiệp ở nước ta hiện nay tương
đương nhau, vì vậy nếu doanh nghiệp nào có dịch vụ sau bán hàng tốt hơn thì
doanh nghiệp đó sẽ bán được nhiều hàng hơn.
2.1.2.3. Những nội dung của hoạt động tiêu thụ trong các doanh nghiệp
2.1.2.3.1. Nghiên cứu thị trường
a) Khái quát
* Thị trường
- Thị trường là tổng hợp các mối quan hệ kinh tế phát sinh liên quan đến
hoạt động mua bán. Thị trường phát triển theo quá trình phát triển của hàng
hóa. Từ chỗ người mua và ngươì bán cần một nơi trao đổi cụ thể dẫn đến chỗ là
họ trao đổi qua các phương tiện thông tin, từ chỗ thị trường chỉ dành cho một
hoặc một số hàng hóa cụ thể nào đó đến việc hình thành thị trường cho những
hàng hóa có giá trị như lao động, chứng khoán, bất động sản.
- Phân loại thị trường:
+ Thị trường người mua và thị trường người bán
cầu về sản phẩm hàng hoá và cầu về dịch vụ. Đối với cầu về sản phẩm hàng hoá
thì lại chia ra thành cầu về tư liệu tiêu dùng và tư liệu sản xuất. Cầu về dịch vụ
lại chia thành các loại dịch vụ khác nhau và để nghiên cứu cầu thì phải tiến
hành thông qua đối tượng có cầu, đó có thể là cá nhân, các hộ gia đình, các
doanh nghiệp hoặc các tổ chức xã hội.
Do nhu cầu của con người là luôn thay đổi, nó đòi hỏi các doanh nghiệp
cần phải tìm ra các nhân tố ảnh hưởng tới cầu về sản phẩm như: giá cả, thu
nhập, giá cả của hàng hoá thay thế, giá cả của hàng hoá bổ xung, thị hiếu,
Trong đó phải chú trọng vào yếu tố giá cả của sản phẩm và phản ứng của các
đối thủ cạnh tranh đối với các chính sách tiêu thụ của doanh nghiệp.
* Nghiên cứu cung
Nghiên cứu cung là việc nghiên cứu số lượng các đối thủ cạnh tranh, các
nhân tố có ý nghĩa trong hoạt động của các đối thủ cạnh tranh. đặc biệt là nhân
tố giá cả, chất lượng sản phẩm. Nghiên cứu cung cũng phải nghiên cứu phản
ứng của doanh nghiệp cạnh tranh trước biện pháp đẩy nhanh tiêu thụ của doanh
nghiệp. Nghiên cứu cung không chỉ giớ hạn trong các đối thủ hiện tại mà còn
phải chú ý đến các đối thủ sẽ xuất hiện trong tương lai, các doanh nghiệp có sản
phẩm thay thế thông qua hệ số co dãn chéo.
* Nghiên cứu mạng lưới tiêu thụ
Để tiêu thụ sản phẩm có hiệu quả, nhanh chóng thì doanh nghiệp phải
nghiên cứu, tổ chức mạng lưới tiêu thụ cho phù hợp với đặc điểm của sản
phẩm, phụ thuộc vào chiến lược kinh doanh, phụ thuộc vào chính sách cũng
như kế hoạch tiêu thụ sản phẩm của doanh nghiệp.
Mạng lưới tiêu thụ của doanh nghiệp được cấu tạo bởi các kênh tiêu thụ
hoặc là kênh phân phối: đó là tập hợp các công ty tự đảm nhận hay giúp việc
9
chuyển giao quyền sở hữu một sản phẩm cụ thể hoặc dịch vụ cho người khác
trên con đường từ nhà sản xuất cho đến người tiêu dùng. Nội dung của nghiên
cứu kênh tiêu thụ là phải chỉ ra ưu nhực điểm của từng kênh và các nhân tố ảnh
hưởng đến hoạt động của tường kênh, lượng hoá từng nhân tố đó.
+Đề ra chương trình hành động và dự toán ngân sách
* Kế hoạch hóa quảng cáo
Mục tiêu của quảng cáo là nhằm mở rộng việc tiêu thụ toàn bộ hoặc một
bộ phận sản phẩm của doanh nghiệp. Để quảng cáo đạt được mục tiêu trên
doanh nghiệp phải xác định một số vấn đề như: hình thức quảng cáo, nội dung
quảng cáo, chi phí quảng cáo Tức là phải lập kế hoạch quảng cáo cụ thể.
Trên thực tế hoạt động quảng cáo không mang lại giá trị cho sản phẩm,
do vậy, các doanh nghiệp phải đánh giá hiệu quả của quảng cáo để tránh những
chi phí không cần thiết làm mất tác dụng của quảng cáo. Thông thường hiệu
quả của quảng cáo được đánh giá qua doanh thu của sản phẩm với chi phí cho
quảng cáo. Ngoài ra còn xem xét việc hoàn thành các mục tiêu đã đặt ra cho
quảng cáo. việc xác định chi phí cho quảng cáo cũng là một vấn đề quan trọng
trong kế hoạch hoá quảng cáo. Thực tế chi phí quảng cáo thường được xác định
theo một tỷ lệ cố định trên doanh thu của kỳ trước hoặc là theo các tỷ lệ cố định
phụ thuộc vào tình trạng kinh doanh của doanh nghiệp hoặc là theo mục tiêu
quảng cáo.
* Kế hoạch hóa chi phí kinh doanh tiêu thụ
11
Chi phí kinh doanh tiêu thụ được hiểu là mọi chi phí về lao động và
những chi phí vật chất xuất hiện gắn liền với hoạt động tiêu thụ như bán hàng,
quảng cáo, nghiên cứu thị trường, vận chuyển bao gói lưu kho quản lý tiêu thụ.
Chi phí kinh doanh tiêu thụ được hiểu là một bộ phận quan trọng của
tổng chi phí kinh doanh thường khó quản lý và kiểm soát. Do đó, để quản lý tốt
loại chi phí này cần tính toán và phân bổ chi phí theo từng điểm chi phí. Chẳng
hạn việc hình thành các điểm chi phí theo nhiệm vụ như lưu kho, quảng cáo,
bán hàng, vận chuyển sự phân chia điểm chi phí kinh doanh tiêu thụ càng
khoa học, sát với thực tế bao nhiêu càng tạo điều kiện cho việc tính toán và xây
dựng chi phí kinh doanh tiêu thụ bấy nhiêu.
2.1.2.3.3.Các chính sách Marketing-mix trong doanh nghiệp công nghiệp
Marketing – mix trong các doanh nghiệp công nghiệp có nhiệm vụ chủ
một đơn vị hàng háo. Để dung hoà được lợi ích giữa người mua và người bán
thì doanh nghiệp cần phải xác định xem mức giá như thế nào là hợp lí. Một
mức giá hợp lí sẽ thúc đẩy sự phát triển của doanh nghiệp.
Việc xác định giá thì có rất nhiều phương pháp nhưng thông thường
người ta hay sử dụng các phương pháp sau:
- Phương pháp định giá dựa vào chi phí
Giá bán = Giá thành + % lãi/giá thành
- Phương pháp định giá dựa vào chi phí biến đổi bình quân
13
Giá bán≥ AVCmin + chi phí vận chuyển/sản phẩm
Trong đó AVCmin là chi phí biến đổi/sản phẩm
- Dựa vào phân tích hoà vốn định giá bán≥ giá hoà vốn
- Dựa vào người mua: doanh nghiệp phân chia người ra
thành các nhóm khác nhau theo một tiêu chí nào đó và định giá cho
từng nhóm
- Dựa vào giá của đối thủ cạnh tranh
Các doanh nghiệp thường có các chính sách giá sau:
- Chính sách giá đối với sản phẩm đang tiêu thụ trên thị
trường hiện có và thị trường mới
- Chính sách giá đối với sản phẩm mới, sản phẩm đã cải tiến
và hoàn thiện trên thị trường hiện tại và thị trường mới
- Chính sách giá đối với sản phẩm tương tự
- Chính sách giá đối với sản phẩm hoàn toàn
* Chính sách phân phối sản phẩm của doanh nghiệp
Phân phối sản phẩm của các doanh nghiệp được coi là hoạt động quan
trọng bao trùm nên các quá trình kinh tế, các điều kiện tổ chức có liên quan đến
dòng sản phẩm của doanh nghiệp từ người sản xuất đến người tiêu dùng. Dựa
vào những nét đặc trưng của sản phẩm và của thị trường tiêu thu, doanh nghiệp
xây dựng cho mạng lưới phân phối và lựa chọn phương thức phân phối phù hợp
với đặc điểm riêng có của doanh nghiệp. Để chính sách phân phối có hiệu quả
Người TD
hình thức này quyền sở hữu sản phẩm được chuyển qua các khâu trung gian từ
đó các khâu trung gian chuyển cho khách hàng, tức là việc thực hiện mua đứt
bán đoạn, có ưu điểm là thu hồi vốn nhanh, tiếp kiệm chi phí quản lý, thời gian
tiêu thụ gắn, tuy nhiên nó có nhược điểm là làm tăng chi phí bán hàng, tiêu thụ
và khó kiểm soát được các khâu trung gian.Sơ đồ 2.2: kênh tiêu thụ gián tiếp
Do sự phụ thuộc và độc lập tương đối giữa các thành viên trong kênh nên
thường xảy ra mâu thuẫn và xung đột trong kênh. Để tổ chức và quản lý kênh có
hiệu quả doanh nghiệp phải định rõ vai trò, vị trí, nhiệm vụ của các thành viên dựa
trên năng lực của họ, từ đó chọn cách tổ chức kênh theo hệ thống marketing .
* Chính sách xúc tiến
Đây là chính sách nhằm cung cấp thông tin về sản phẩm cho khách hàng
và thuyết phục họ mua sản phẩm của doanh nghiệp nó bao gồm hàng loạt nhữnh
biện pháp như, quảng cáo, khuyến mại, giảm giá, quảng cáo, tuyên truyền
Với sự phát triển của nền kinh tế thị trường, các nhu cầu về thông tin của
sản phẩm ngày càng quan trọng chính sách marketing- mix. Ngày nay các hoạt
động xúc tiến đã trở thành một vũ khí cạnh tranh hữu hiệu đối với các doanh
16
Nhà
SX
Người
bán lẻ
Người
tiêu
dùng
Người
bán buôn
thiết, số lượng nhân viên phục vụ cho công tác bán hàng, do đặc điểm của công
tác bán hàng là hoạt động giao tiếp thương xuyên với khách hàng nên việc lưạ
chọn nhân viên bán hàng là hoạt động quan trọng nhất. Người bán hàng cần có
đầy đủ những điều kện về phẩm chất kỹ năng cần thiết, nghệ thuật ứng xử
17
đồng thời doanh nghiệp cần có chính sách về tiền lương và tiền thưởng và các
chính sách khuyến khích thích hợp với nhân viên nhằm nâng cao chất lượng
phục vụ khách hàng. Công việc bán không chỉ đòi hỏi có ntrình độ kỹ thuật và
phải có tính nghệ thuật cao, phải bố chí sắp xếp trình bày hàng hoá kết hợp với trang
thiết bị sao cho khách hàng dễ nhìn, dễ thấy phù hợp với từng nhóm khách hàng.
* Tổ chức hoạt động dịch vụ sau bán
Đây là hoạt động không thể thiếu nhằm duy trì và củng cố và mở rộng
mhoạt động tiêu thụ sản phẩm, thị trường của doanh nghiệp nó boa gồm các
hoạt động chính sau: lắp đặt, hướng dẫn sử dụng, bảo hành cung cấp các dịch vụ
thay thế phụ tùng, sửa chữa, cùng với việc duy trì mối quan hệ thông tin thường
xuyên với khách hàng để thu nhập ý kiến phản hồi và sự thay đổi trong nhu cầu
của khách hàng.
2.1.3. Các nhân tố ảnh hưởng tới hoạt động tiêu thụ của các doanh nghiệp
2.1.3.1. Các nhân tố bên trong doanh nghiệp
2.1.3.1.1. Giá cả hàng hóa
Giá cả hàng hóa là một trong những nhân tố chủ yếu tác động tới hoạt
động tiêu thụ – Giá cả hàng hóa có thể kích thích hay hạn chế cung cầu trên thị
trường và do đó ảnh hưởng đến tiêu thụ. Xác định giá đúng sẽ thu hút được
khách hàng đảm bảo khả năng tiêu thụ thu được lợi nhuận cao nhất hay tránh
được ứ đọng, hạn chế thua lỗ. Tuỳ từng môi trường, từng đoạn thị trường mà các
doanh nghiệp nên đặt giá cao hay thấp để có thể thu hút được nhiều khách hàng,
và do đó sẽ bán được nhiều hàng hóa, tăng doanh số bán hàng cho doanh nghiệp
mình. Hơn nữa giá cả phải được điều chỉnh linh hoạt trong từng giai đoạn kinh
doanh, từng thời kỳ phát triển hay chu kỳ kinh doanh để nhằm thu hút khách
hàng và kích thích sự tiêu dùng của họ, làm tăng tốc độ tiêu thụ sản phẩm hàng
được lợi nhuận thì doanh nghiệp phải tiêu thụ được hàng hóa và thu tiền về tức
là được khách hàng chấp nhận. Muốn vậy ngoài yếu tố giá cả doanh nghiệp phải
chú trọng tới yếu tố chất lượng, chính chất lượng sản phẩm có thể tạo nên vị thế
cững chắc của sản phẩm trên thị trường. Đồng thời chất lượng sẽ thu hút khách
hàng lâu dài, bền vững và làm cho khách hàng trung thành với sản phẩm hàng
hóa của doanh nghiệp.
2.1.3.1.3. Cơ cấu mặt hàng
Cơ cấu mặt hàng có ảnh hưởng tới tốc độ tiêu thụ hàng hóa của doanh
nghiệp bởi vì nhu cầu tiêu dùng trên thị rất đa dạng, phong phú, như vậy để đáp
ứng nhu cầu hơn nữa và tăng tốc độ tiêu thụ của đoanh nghiệp cần có cơ cấu mặt
hàng hợp lí, đủ chủng loại. Hơn nữa, một cơ cấu mặt hàng hợp lí sẽ dễ dàng đáp
ứng sự thay đổi nhanh của nhu cầu thị trường và giảm rủi ro cho doanh nghiệp.
2.1.3.1.4. Các biện pháp quảng cáo
Trong điều kiện cạnh tranh gay gắt hiện nay quảng cáo đóng vai trò rất
lớn trong việc thúc đẩy tiêu thụ sản phẩm hàng hóa. Quảng cáo nhằm giới thiệu
sản phẩm tới người tiêu dùng và kích thích nhu cầu của họ.
Do quảng cáo là rất tốn kém vì thế để đảm bảo quảng cáo có hiệu quả cần
thuê công ty quảng cáo để soạn thảo chương trình quảng cáo, thuê chuyên gia
phân tích, kích thích tiêu thụ để xây dựng các chương trình quảng cáo, khuyến
mãi để tạo hình ảnh của các doanh nghiệp. Doanh nghiệp có thể quảng cáo trên
báo chí, truyền hình, truyền thanh dùng thư chào hàng .v.v để quảng cáo sản
phẩm của mình cho phù hợp nhất.
Thực tế cho thấy có nhiều doanh nghiệp nhờ quảng cáo tốt đã tăng nhanh
doanh số bán và có những doanh nghiệp chi rất nhiều tiền cho quảng cáo nhưng
nội dung quảng cáo không hợp lí dẫn đến tình trạng người tiêu dùng không
những không mua sản phẩm mà họ còn phản đối quyết liệt. Vì vậy khi xây dựng
20
chương trình quảng cáo doanh nghiệp phải hết sức thận trọng để hoạt động
quảng cáo thúc đẩy nhanh mức tiêu thụ của doanh nghiệp.
2.1.3.1.5. Mạng kênh phân phối và dịch vụ sau bán hàng
tăng giá bán hạn chế mức tiêu thụ.
Lãi suất cho vay của ngân hàng: Lãi suất cho vay tăng làm chi phí kinh
doanh tăng dẫn đến giá bán tăng và tiêu thụ giảm.
Chính sách thuế: Thuế tăng làm giá thành hàng hóa tăng, tiêu thụ giảm.
2.1.3.2.2. Số lượng các đối thủ cạnh tranh
Kinh doanh trên thi trường là sự cạnh tranh khốc liệt giữa các doanh
nghiệp với nhau. Tốc độ tiêu thụ hàng hóa một phần phụ thuộc vào quy mô, số
lượng đối thủ cạnh tranh. Nhân tố này có ảnh hưởng trực tiếp tới tốc độ tiêu thụ
sản phẩm hàng hóa của doanh nghiệp. Ngoàira tốc độ tiêu thụ còn phụ thuộc rất
lớn vào tỷ lệ thị phần của doanh nghiểp trên thị trường.
2.1.3.2.3. Thị hiếu của người tiêu dùng
Sản phẩm sản xuất ra phải phù hợp với thị hiếu của người tiêu dùng, có
như vậy mới thoả mãn được nhu cầu của khách hàng mới mong tăng tốc độ tiêu
thụ. Đây cũng là nhân tố ảnh hưởng không nhỏ tới lượng cầu trên thị trường.
Người tiêu dùng sẽ mua nhiều hơn nếu hàng hóa hợp với thị hiếu và thiết yếu
đối với họ.
2.1.4. Sự cần thiết phải đẩy mạnh hoạt động tiêu thụ sản phẩm của các
doanh nghiệp
22
2.1.4.1.Tiêu thụ sản phẩm đảm bảo tăng doanh số và lợi nhuận cho doanh
nghiệp
Đây là yêu cầu biểu hiện mặt kinh tế và biểu hiện mặt lượng kết quả công
tác bán hàng của doanh nghiệp. Lợi nhuận cao là mục tiêu trực tiếp của doanh
nghiệp, giưa tăng doanh số và tăng lợi nhuận không phải luôn luôn đồng hướng .
Nói chung tốc độ tăng của lợi nhuận và doanh số không luôn luôn cùng tỷ lệ.
Thật vậy doanh số không chỉ phụ thuộc vào khối lượng tiêu thụ mà còn phụ thuộc
vào chính sách bán hàng và giá thành sản phẩm hàng hóa. Trong điều kiện cạnh
tranh khốc liệt của thị trường, cái mà doanh nghiệp cần, quan tâm hàng đầu không
phải là mức lợi nhuận tối đa trong một đơn vị sản phẩm mà là tổng lợi nhuận. Mặt
khác doanh số và lợi nhuận của doanh nghiệp còn phụ thuộc vào cơ cấu sản phẩm
phong cách phục vụ và ngày càng đáp ứng tốt hơn cho những yêu cầu của khách
hàng đối với sản phẩm hàng hóa của doanh nghiệp.
Khi hàng hóa được tiêu thụ nhiều có nghĩa là doanh nghiệp đã thực hiện
tốt dịch vụ đối với khách hàng, tạo niềm tin đối với khách.
2.2. Cở sở thực tiễn của đề tài
2.2.1. Tình hình tiêu thụ bia của một số nước trong khu vực
Ngày nay, với sự lớn mạnh của nền kinh tế thì nhu cầu “ ăn ngon, mặc
đẹp” đã không ngừng tăng lên. Với những nước phát triển nhu cầu về hàng hoá
chất lượng cao ngày càng tăng, những nước phát triển và những nước có dân số
đông có thị trường rộng lớn như: Mỹ, Đức, Trung Quốc… nhu cầu về nước giải
khát, đặc biệt là các loại bia ở những nước này cao, cung không đủ cầu vì vậy họ
còn nhập khẩu từ những nước khác.
24
Công ty nghiên cứu thị trường Euromonitor International cũng cho rằng
châu Á là khu vực tiêu thụ nhiều bia nhất trên toàn cầu, với mức tăng trưởng
trung bình hàng năm là 8% trong giai đoạn năm 2003 đến năm 2008.
Giới phân tích cho rằng có một sự tương quan mạnh mẽ giữa tiêu thụ
rượu bia và tăng trưởng sản lượng đầu ra của ngành này, báo trước một tương lai
đầy triển vọng cho các tập đoàn giải khát khi nền kinh tế đang hồi phục.
Trung Quốc là thị trường bia lớn nhất thế giới, trong khi thị trường này ở
Ấn Độ tăng trưởng từ 12 đến 15%/năm. Mức tiêu thụ bia rượu tính theo đầu
người ở Trung Quốc dự kiến sẽ tăng từ 37,8 lít năm 2008 lên hơn 53 lít vào năm
2013, thị trường bia ở Trung Quốc sẽ tăng trưởng hai con số trong những năm
tới và mức tăng trưởng sẽ lớn hơn nhiều so với các loại rượu khác.
Cùng với Singapore và Philippines, Thái Lan đều có doanh số bán bia
tăng năm 2008. Euromonitor International dự báo, tăng trưởng khối lượng ở các
thị trường bia châu Á-Thái Bình Dương sẽ vượt tăng trưởng của cả thị trường
bia thế giới trong những năm tới.
Vì thế, hiện nay các tập đoàn giải khát chịu cảnh doanh số tụt giảm ở châu
Âu, Nhật Bản, Mỹ đã tăng cường hoạt động ở châu Á trong vài tháng qua, đặc