“NGHIÊN CỨU TÂM LÝ HỌC TRONG ĐẦU TƯ CHỨNG KHOÁN VÀ ĐỀ XUẤT GIẢI PHÁP NÂNG CAO NGHIỆP VỤ IR ( QUAN HỆ VỚI NHÀ ĐẦU TƯ) CHO CÁC CÔNG TY CHỨNG KHOÁN TẠI TP.HỒ CHÍ MINH” - Pdf 20

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
CÔNG TRÌNH DỰ THI
GIẢI THƯỞNG NGHIÊN CỨU KHOA HỌC SINH VIÊN
“NHÀ KINH TẾ TRẺ - 2009”
TÊN CÔNG TRÌNH:
“NGHIÊN CỨU TÂM LÝ HỌC TRONG ĐẦU TƯ CHỨNG KHOÁN VÀ ĐỀ XUẤT
GIẢI PHÁP NÂNG CAO NGHIỆP VỤ IR ( QUAN HỆ VỚI NHÀ ĐẦU TƯ) CHO
CÁC CÔNG TY CHỨNG KHOÁN TẠI TP.HỒ CHÍ MINH”.
THUỘC NHÓM NGÀNH: KHOA HỌC KINH TẾ
MỤC LỤC
Trang
Danh mục từ viết tắt
Phần mở đầu
1. Ý nghĩa của đề tài i
2. Mục đích nghiên cứu i
3.Đối tượng và phạm vi nghiên cứu i
4.Phương pháp nghiên cứu i
5.Tính mới của đề tài ii
6. Bố cục đề tài ii
Phần nội dung
CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ TÂM LÝ ĐÁM ĐÔNG, CÁC ĐẶC ĐIỂM TÂM LÝ
TRONG THỊ TRƯỜNG CHỨNG KHOÁN; ỨNG DỤNG TÂM LÝ HỌC VÀO TÀI CHÍNH
VÀ LÝ THUYẾT TỔNG QUAN VỀ IR (QUAN HỆ VỚI NHÀ ĐẦU TƯ) 1
1.1. Tổng quan về tâm lý “đám đông” 1
1.1.1. Khái quát chung về tâm lý 1
1.1.2. Tâm lý “đám đông” 2
1.1.2.1. Khái niệm tâm lý đám đông 2
1.1.2.2. Đặc điểm của đám đông 2
1.1.2.3. Đặc tính của đám đông 3
1.2. Ứng dụng tâm lý học vào tài chính 4

CHƯƠNG 3: GIẢI PHÁP VỀ TRUYỀN THÔNG TÀI CHÍNH TRÊN THỊ TRƯỜNG CHỨNG
KHOÁN- QUAN HỆ VỚI NHÀ ĐẦU TƯ IR (INVESTOR RELATION) 41
3.1. Mục đích đề xuất giải pháp: 41
3.2. Căn cứ đề xuất giải pháp 41
3.3. Đề xuất quy trình IR mới tại các công ty Chứng Khoán 42
3.4. Giải pháp cụ thể cho quy trình IR tại các cơng ty chứng khoán TP.HCM hiện nay45
3.4.1. Củng cố, xây dựng đội ngũ nhân viên IR chuyên nghiệp 46
3.4.2. Xây dựng hệ thống truyền thông hiệu quả 46
3.4.2.1. Các yêu cầu cơ bản về nội dung Website của một công ty Chứng Khoán 47
3.4.2.2. Tổ chức họp báo, hội nghị giữa doanh nghiệp, NĐT, và chuyên gia phân tích 48
3.5. Lợi ích khi áp dụng các nghiệp vụ IR (căn cứ trên 3 nhiệm vụ của IR) 49
Lời kết 50
Tài liệu tham khảo
Phụ lục
i
P
hần mở đầu
1. Ý nghĩa của đề tài
Thị trường tài chính, chứng khốn Việt Nam ngày càng phát triển, đặc biệt hơn cả trong giai đoạn
bùng nổ thơng tin như hiện nay, việc giao dịch trong tập thơng tin mờ, thơng tin khơng đủ, thiên
lệch hoặc cĩ quá nhiều thơng tin là nguyên nhân làm cho nhà đầu tư khơng cĩ, hoặc mất dần cá
tính đầu tư-thúc đẩy sự lây nhiễm đám đơng và hiệu ứng bầy đàn trong đầu tư, tình trạng đo ùsẽ
làm nhà đầu tư dễ dàng chạy theo cái lợi trước mắt gây mất cân đối cho thị trường về lâu dài.
Các nguyên lý của tâm lý hành vi tài chính cho thấy, nhà đầu tư càng ít hiểu biết thì họ càng dễ
bị cuốn theo ý kiến đám đơng. Hành vi này là con dao hai lưỡi bởi chính những nhà đầu tư thiếu
hiểu biết là những người dễ rơi vào tình trạng lo sợ, hoảng loạn nhất. Việc tham gia hay tháo
chạy khỏi thị trường của một người khơng ảnh hưởng quá lớn tới thơng tin hay chất lượng thị
trường, nhưng việc cả đàn chạy theo một con bị chạy nhanh nhất sẽ “dẫm đạp” và làm vỡ vụn thị
trường.
Xưa nay cơng tác PR tập trung vào xây dựng hình ảnh doanh nghiệp, nhưng bây giờ PR cịn cĩ

xem phụ lục 6)
Tiến trình nghiên cứu cơng phu theo bốn giai đoạn sau:
Thiết kế bảng câu hỏi
Thu thập dữ liệu
Xử lý và phân tích dữ liệu- Kiểm định ANOVA
Soạn thảo báo cáo
(Chi tiết tiến trình nghiên cứu tại phụ lục 7)
5. Tính mới của đề tài
Có rất nhiều công trình nghiên cứu về tâm lý học cũng như chứng khóan tại các trường đại học
tuy nhiên chưa có nghiên cứu nào về kết hợp các yếu tố tâm lý vào hành vi tài chính trên thị
trường chứng khóan TP.HCM.
IR là một điểm mới trong quan hệ công chúng, ra đời dựa trên sự kết hợp giữa truyền thông và
tài chính, đáp ứng nhu cầu thông tin qua lại cho doanh nghiệp và nhà đầu tư. Thiết nghĩ đây là
một giải pháp cấp thiết trong thị trường chứng khoán đầy biến động như hiện nay.
6. Bố cục đề tài
Chương 1: Cơ sở lý luận về tâm lý đám đông,các đặc điểm tâm lý trong Thị Trường
Chứng Khoán; Ứng dụng tâm lý học vào tài chính và lý thuyết tổng quan về IR.
Chương 2: Thực trạng Thị Trường Chứng Khoán tại TP. HCM
iii
Phân tích tổng quan Thị Trường Chứng Khoán trong giai đoạn cuối 2006-đầu 2009
Phân tích thực trạng tâm lý nhà đầu tư trong lĩnh vực chứng khoán giai đoạn cuối 2006-
đầu 2009 dựa trên thuyết tâm lý học hành vi tài chính.
Thực trạng công bố thông tin trên Thị Trường Chứng Khoán tại Tp.HCM
Chương 3: Giải pháp về truyền thông tài chính trên Thị Trường Khoán-Quan hệ với nhà
đầu tư
IR
Danh mục từ viết tắt
1. IR: Investor Relation- Quan hệ với nhà đầu tư
2. TTCK :Thị trường chứng khĩan
3. NĐT : Nhà đầu tư

động của mình làm cho các hoạt động đó thích nghi với thế giới, tiến tới cải tạo thế giới, hoàn
thiện thế giới và hoàn thiện cá nhân mình.
2
( Xem thêm phần phụ lục 1)
1.1.2. Tâm lý “đám đông”
1.1.2.1. Khái niệm tâm lý đám đông
Tâm lý đám đông là hiện tượng tinh thần chung của nhiều cá nhân, phát sinh do sự tương
tác tâm lý giữa các thành viên trong đám đông hay cộng đồng; hoặc bởi tâm lý nào đó nổi trội,
có sức ảnh hưởng. Tức là cá tính có ý thức (ý thức cá nhân) biến mất vá có sự xoay chuyển tình
cảm, suy nghĩ của các cá nhân về cùng một hướng. (Gustave Le Bon (1841 - 1931))
Hiệu ứng đàn bầy là thuật ngữ dùng để chỉ cách mà con người bị ảnh hưởng bởi những
người xung quanh trong việc lựa chọn những hành vi, xu hướng, và cách thức ra quyết định.
Theo Gustave Le Bon: Tâm lí đám đông (Psychologie des foules), trong những điều kiện
nhất định và chỉ ở đó mà thôi, một tập hợp những con người sẽ có những đặc tính hoàn toàn khác
biệt với những đặc tính của riêng từng con người trong đó. Cá tính có ý thức bị biến mất, tình
cảm và suy nghĩ của mọi cá nhân đều hướng về một phía. Một tâm hồn chung được hình thành,
nó dĩ nhiên có thể biến đổi, nhưng hoàn toàn là một thể loại xác định, điều này không phải lúc
nào cũng đòi hỏi sự có mặt đồng thời của nhiều thành viên tại một địa điểm duy nhất.
1.1.2.2. Đặc điểm của đám đông
Quy luật về sự đồng nhất tâm hồn đám đông
Cho dù những thành viên riêng biệt tạo nên đám đông khác nhau kiểu gì, cho dù lối sống,
việc làm, tính cách, học thức của họ giống nhau hoặc khác nhau ra sao, chỉ cần qua sự trở thành
đám đông, tất cả họ sẽ cùng có một kiểu tâm hồn tập thể, điều này làm cho họ cảm nhận, suy
nghĩ, hành động theo kiểu hoàn toàn khác hẳn khi họ chỉ là những cá thể riêng biệt cảm nhận,
suy nghĩ và hành động.
Đám đông được điều khiển bởi sự vô thức
Phần lớn những hành động hàng ngày của chúng ta là kết quả tác động của những động
lực vô thức nằm ngoài sự hiểu biết của chúng ta.
Sự biến đổi tình cảm trong từng cá nhân
3

1.2.1. Lý thuyết tài chính hành vi
Lý thuyết tài chính hành vi là sự phát triển kết hợp tâm lý học vào tài chính. Kể từ khi
nhà tâm lý học người Pháp Gabriel Tarde bắt đầu nghiên cứu về ứng dụng tâm lý học vào khoa
học kinh tế từ những năm 1880, thì phải mất gần 100 năm sau, vào thập kỷ 1980, thì ứng dụng
tâm lý trong tài chính mới có bước phát triển đáng kể (mặc dù trước đó, vào những năm 1930,
1940, những nghiên cứu của George Kanota cũng đặt nền tảng cho tài chính hành vi với thuật
ngữ quan trọng “kỳ vọng”, nhưng những kết quả của ông khá hạn chế). Với những tác phẩm nền
tảng của Amos Tversky và Daniel Kahneman (1979), Richard H.Thaler (1985) và đặc biệt là
Robert Shiller với quyển sách nổi tiếng “Irrational Exuberance” (2000), dự báo chính xác sự sụp
đổ của thị trường cổ phiếu toàn cầu không lâu sau đó, đã tạo bước ngoặt lớn cho những nhà
nghiên cứu tài chính hành vi liên tục đưa ra các nghiên cứu mới.
Lý thuyết tài chính hành vi (behaviroal finance) với nền tảng cơ bản là “thị trường không
luôn luôn đúng”, đã đặt ra một đối trọng lớn đối với lý thuyết “thị trường hiệu quả”, cơ sở của
các lý thuyết tài chính cơ bản trong suốt bốn, năm thập kỷ gần đây. Lý thuyết thị trường hiệu quả
dựa trên niềm tin rằng luôn tồn tại một cơ chế điều chỉnh thị trường về trạng thái hiệu quả, đó là
cơ chế kinh doanh chênh lệch giá. Một khi tồn tại hiện tượng định giá sai trên thị trường, nghĩa là
giá của các công cụ (cổ phiếu, trái phiếu, sản phẩm phái sinh, v.v…) trên thị trường tài chính
không phản ánh một cách chính xác giá trị hợp lý (dựa trên những nhân tố cơ bản), thì sẽ tồn tại
cơ hội kinh doanh chênh lệch giá, và “những nhà đầu tư hợp lý” khi tận dụng những cơ hội này
(mua tài sản bị định giá thấp, bán tài sản bị định giá quá cao chẳng hạn), sẽ góp phần điều chỉnh
thị trường về trạng thái hợp lý hay cân bằng.
Lý thuyết tài chính hành vi chỉ ra rằng, cơ chế điều chỉnh đó không phải lúc nào cũng có
thể xảy ra, nghĩa là sẽ có những trường hợp những nhà đầu tư “hợp lý’ không thể chiến thắng
5
những nhà đầu tư “bất hợp lý” và khi đó, thị trường sẽ không hiệu quả, hay “sai” (tức là định giá
quá cao hoặc quá thấp giá cổ phiếu hay các loại sản phẩm tài chính khác).
Ứng dụng của tài chính hành vi không chỉ dừng lại trong việc giải thích các hành vi
không hợp lý của nhà đầu tư, mà đi xa hơn, nó có thể điều chỉnh các mô hình định giá (bao gồm
định giá chứng khoán, sản phẩm phái sinh…) Cho đến ứng dụng trong lý thuyết quản trị Công ty
hay cấu trúc vốn trong tài chính doanh nghiệp, lẫn giải thích tính tương tác giữa các thị trường

ảnh hưởng cũng rất hạn chế nếu chỉ đơn độc một mình).
Chỉ khi hành vi không hợp lý là mang tính hệ thống (nghĩa là một nhóm nhiều nhà đầu tư
cùng có một hành vi không hợp lý như nhau) thì khi ấy việc định giá sai sẽ xuất hiện và có thể
bắt đầu kéo dài.
Lý thuyết tài chính hành vi cho rằng tính lệch lạc (bất hợp lý) trong hành vi là khá phổ
biến đối với nhiều nhà đầu tư, và do đó, nó tạo thành một dạng thường gọi là “hiệu ứng bầy
đàn”, khiến cho giá một số cổ phiếu không phản ánh giá trị “thực” (hay “hợp lý”) của chúng.
Như vậy, “hiệu ứng bầy đàn” là không tốt cho thị trường trong trường hợp chúng ta xem
hiệu ứng bầy đàn là tất cả đều hành động theo một mẫu hình hành vi lệch lạc, không hợp lý, thấy
ai làm sao thì làm vậy.
1.2.2.3. Giới hạn khả năng kinh doanh chênh lệch giá trên thị trường tài chính
Lý thuyết thị trường hiệu quả tin rằng nếu tồn tại định giá sai thì sẽ tồn tại cơ hội để kinh
doanh chênh lệch giá thu lợi nhuận, và chính hành vi kinh doanh chênh lệch giá sẽ điều chỉnh giá
trên thị trường về cân bằng. Nhưng nếu tồn tại định giá sai, mà lại không thể thực hiện kinh
doanh chênh lệch giá để tận dụng các khoản lợi nhuận này thì như thế nào? Và tại sao lại không
thể thực hiện kinh doanh chênh lệch giá khi có định giá sai ?
Một giải thích được chấp nhận rộng rãi trong trường phái tài chính hành vi là có hai dạng
định giá sai: một dạng là thường xuyên xảy ra và có thể kinh doanh chênh lệch giá được, một
7
dạng là không thường xảy ra, kéo dài và không thể kinh doanh chênh lệch giá được (nói một
cách khác, khó mà xác định được khi nào mức định giá sai đã đạt tới giới hạn trên hay dưới và
điều chỉnh lại).
Nếu tham gia “chỉnh sửa” kiểu định giá sai dạng hai thì rất dễ rơi vào trạng thái “tiền mất, tật
mang”.
1.3. Tổng quan về IR
1.3.1. Khái niệm
Hoạt động quan hệ nhà đầu tư là một nhiệm vụ chiến lược của quản trị doanh nghiệp, kết
hợp kiến thức tài chính, tuyền thông, marketing nhằm mục đích phát huy tối đa hiệu quả truyền
thông hai chiều giữa một công ty với cộng đồng tài chính và các tổ chức khác. Điều này làm
phong phú hoạt động chứng khoán của công ty, là yếu tố giúp các công ty niêm yết được đánh

mình. Trong trường hợp này IR đóng vai trò là người nghiên cứu thông tin về nhà đầu tư cho
doanh nghiệp.
Mục tiêu của nhà đầu tư khi tham gia trên TTCK: Tìm kiếm lợi nhuận, lợi ích của họ gắn
liền với giá trị cổ phiếu của công ty niêm yết, cho nên họ cần thiết có được thông tin đầy đủ,
chính xác, kịp thời về các công ty niêm yết. Trong trường hợp này IR đóng vai trò là người minh
bạch thông tin của doanh nghiệp đến nhà đầu tư, duy trì mối quan hệ lâu dài và bền vững giữa
doanh nghiệp niêm yết với nhà đầu tư.
1.3.2.2. Vai trò truyền thông của IR
Truyền thông (communication)
Là quá trình chia sẻ thông tin. Truyền thông là một kiểu tương tác xã hội trong đó ít nhất
có hai tác nhân tương tác lẫn nhau, chia sẻ các quy tắc và tín hiệu chung. Ở dạng đơn giản, thông
tin được truyền từ người gửi tới người nhận. Ở dạng phức tạp hơn, các thông tin trao đổi liên kết
người gửi và người nhận. Phát triển truyền thông là phát triển các quá trình tạo khả năng để một
người hiểu những người khác nói (ra hiệu, hay viết), nắm bắt ý nghĩa của các thanh âm và biểu
tượng, và học được cú pháp của ngôn ngữ. (www.saga.co m .vn )
Truyền thông thường gồm ba phần chính: nội dung, hình thức, và mục tiêu.
Nội dung truyền thông bao gồm các hành động trình bày kinh nghiệm, hiểu biết, đưa ra
lời khuyên, mệnh lệnh, hoặc câu hỏi.
Hình thức truyền thông như động tác, bài phát biểu, bài viết, hay bản tin truyền hình…
Mục tiêu truyền thông: Mục tiêu mà truyền thông có thể hướng đến là cá nhân khác hay
tổ chức khác, thậm chí là chính người/tổ chức gửi đi thông tin.
9
Vai trò của truyền thông trên thị trường chứng khoán
Minh bạch thông tin là một trong những nhân tố quan trọng nhất giúp thị trường chứng
khoán phát triển.
Với tư cách là một người chủ sở hữu của doanh nghiệp, cổ đông của công ty hòan toàn có
thể được quyền biết rõ tình trạng doanh nghiệp của mình, thậm chí khi các doanh nghiệp này đã
được niêm yết trên sàn giao dịch chứng khoán, thì câu chuyện không chỉ dừng lại ở những người
chủ sở hữu mà còn là những nhà đầu tư. Doanh nghiệp niêm yết phải có trách nhiệm công bố
thông tin một cách rõ ràng minh bạch theo đúng pháp luật để cho các nhà đầu tư có những quyết

chúng chính xác, trung thực, kịp thời, đúng lúc đến nhà đầu tư thông qua các câu chuyện giao
tiếp.
Như vậy nhiệm vụ chính của công tác IR là Truyền thông tài chính, cung cấp và truyền
thông tin trên thị trường tái chính, chứng khoán. Ba nhiệm vụ chính của IR trong truyền thông,
công bố thông tin tài chính:
Thứ nhất: Khắc phục sự bất cân xứng cung cầu thông tin: Như thông tin không đủ,
thông tin không rõ ràng, thông tin tới sai đối tượng…
Thứ hai: Chăm sóc thông tin đến nhà đầu tư: Kỳ vọng của nhà đầu tư là minh bạch tuyệt
đối. Cốt lõi trong hiệu quả truyền thông IR là:
(1) Thông tin trọng yếu
(2) Tình tiết trung thực: Cam kết thông báo sự thật cho các nhà đầu tư hiện tại và tương lai – cho
dù là vấn đề “xấu” hay “tốt”.
(3) Diễn giải khách quan
(4) Tính hợp lý cực đại của không gian - thời gian (trong quan hệ với các phương tiện có thể sử
dụng: đúng lúc, đúng chỗ…)
(5) Khả năng tuân thủ cung cấp thông tin của ban quản trị
1 1
Thứ ba:Tiếp nhận và xử lý thông tin phản hồi tới doanh nghiệp hoặc công ty niếm yết
Phản hồi được IR ghi nhận, trước khi chuyển tới ban lãnh đạo và các bộ phận chức năng,
sẽ qua các bước xử lý và sàng lọc. IR không đơn giản chuyển toàn bộ yêu cầu từ công chúng đầu
tư tới nguồn cung cấp thơng tin- cách làm có thể tạo nên sức ép với hoạt động quản trị doanh
nghiệp. Thông tin cần chuẩn bị được sắp xếp theo mức độ ưu tiên. IR chủ động đề xuất loại
thông tin cần công bố và hỗ trợ ban lãnh đạo điều phối công tác chuẩn bị tại từng bộ phận
chuyên môn. Thời điểm và tần suất công bố, lặp lại thông tin cũng được IR tính toán hướng tới
hiệu ứng tác động tốt nhất cho doanh nghiệp.
Tổ chức niêm yết phải có một người được ủy quyền thực hiện công bố thông tin để nhà
đầu tư liên hệ khi có thắc mắc.
Hội tụ giữa truyền thông và tài chính, hoạt động IR phải giải quyết được ba vấn đề trên,
từ đó mang đến những thông tin liên quan đến tài chính và cả phi tài chính để thị trường, nhà đầu
tư có thể định giá đúng doanh nghiệp.

1 3
vượt quá giá trị thật hơn 30% (2007) (Theo VNExpress) nhưng họ vẫn mua bán, thị trường vẫn
không ngừng sôi động. Thậm chí cung không đủ cầu. Hay khi nhìn nhận thị trường ảm đạm
(2008-2009) thì họ lại kéo nhau tháo lui mà không cần xem xét nguyên nhân.
Dễ thấy thị trường chứng khoánViệt Nam không vận hành theo bất cứ một quy luật nào.
Lý thuyết thị trường hiệu quả hoàn toàn thất bại. Có lẽ đã đến lúc dùng đến các lý thuyết cơ bản
dựa trên tâm lý con người để giải thích những bất thường trên TTCK.
Bình thường một nhóm các nhà đầu tư cá nhân có thể rất bình tĩnh và sáng suốt, vậy mà
cũng có lúc họ lại bị áp đảo bởi những cảm xúc tiêu cực khi các nhà đầu tư khác hành động theo
một cách thức phổ biến nào đó. Hiểu một cách đơn giản nhất thì chính sự sợ hãi bị “bỏ rơi” hay
thất bại khi bạn bè, người thân, hàng xóm của họ, đã đưa đến sức mạnh áp đảo của đám đông.
Cũng giống như nhìn thấy sự kiếm tiền quá dễ dàng trên TTCKVN (cuối 2006- 2007)- cứ mua là
thắng- từ những “đại gia” chứng khoán thì lời hàng chục tỷ đồng, thậm chí bà nội trợ, anh nhân
viên phải gom góp, vay mượn vài chục triệu đồng làm vốn nay đã có bạc trăm triệu, thậm chí bạc
tỷ đã thôi thúc người ta lao vào chơi chứng khoán. Một nhà đầu tư đã phát biểu “Ai bảo TTCK là
canh bạc thì kệ họ nhưng chơi thắng nhiều hơn thua thì chưa ai chịu dừng”.
Chứng khoán vượt quá giá trị thật, dù biết nhưng họ vẫn mua. Họ chấp nhận mua với giá
cao vì tin chắc rằng trên thị trường sẽ còn có người chấp nhận mua lại nó với giá cao hơn nữa.
Họ vẫn kiếm lợi được. Lòng tham của con người khiến họ hành động. Còn nhìn thấy cơ hội kiếm
lợi, họ còn nhảy vào.
Thậm chí có nhiều người còn mua bán theo cách hoàn toàn bắt chước các nhà đầu tư
nước ngoài. Tuy nhiên điều này cũng chẳng có gì là khó hiểu cả.
Khuynh hướng (bản năng) bầy đàn giải thích tại sao con người lại thích bắt chước người
khác. Khi thị trường lên hoặc xuống, nhà đầu tư sợ rằng người khác sẽ có nhiều thông tin hơn.
Và hệ quả của điều này, nhà đầu tư cảm thấy có sự thôi thúc ghê gớm đối với việc làm theo
những gì người khác đang làm.
Các nhà tâm lý học cũng đã đưa ra nghiên cứu cho thấy hành vi đám đông thường có
khuynh hướng hành động theo một số người chủ chốt có khả năng tiên đoán thị trường. Trong
trường hợp của Thị trường chứng khoán Việt Nam, “sứ mệnh” đó được giao cho nhà đầu tư nước
ngoài.

kinh doanh
cổ
phi
ếu
46 46.0%
chí lựa
Lòch
sử
gía
cổ
phiếu, khối lượng
giao dòch
chọn
BCTC, tình hình SXKD
từ
3-5
năm của công
ty
phát
khi
hành
31
34
31.0%
34.0%
hiể
u
cổ
phie
áu

100
34.0%
32.0%
234.0%
Bảng 1
Kết quả bảng thống kê trên cho thấy ngành, lĩnh vực kinh doanh cổ phiếu là tiêu chí được
46% NĐT lựa chọn khi tìm hiểu cổ phiếu của một cơng ty; 44% lựa chọn tiêu chí tình hình sản
xuất hiện tại của cơng ty.
Sự chênh lệch với các tiêu chí còn lại không nhiều nhưng rõ ràng nếu chỉ ưu tiên cho hai
chỉ số này khi tìm hiểu thông tin về một cổ phiếu nào đó thì thật sự là rủi ro lớn, nó chỉ giúp
NĐT tạm an tâm với những đầu tư tạm thời, ngắn hạn.
Chỉ có 13% NĐT lựa chọn tìm hiểu thông qua đội ngũ quản trị công ty, NĐT thường
không có thói quen đi quá sâu vào tình hình cụ thể của công ty, đây rõ ràng cũng là nhược điểm
lớn, vì một khi nắm giữ cổ phiếu của một công ty nào đó, NĐT đã trở thành người góp vốn.
Chính những tâm lý này khiến cho nhà đầu tư tự mình tước bỏ của mình một điều rất
quan trọng-quyền biểu quyết bằng chính kiến và đồng tiền của mình-Biểu quyết về các cổ phiếu
và công ty: Cổ phiếu nào là tốt, là không tốt, công ty nào hoạt động hiệu quả hay kém hiệu quả,
ban lãnh đạo nào là giỏi hay không giỏi và qua đó gửi những thông điệp cho các công ty tốt làm
1 6
tốt hơn, các cơng ty chưa tốt thì cải thiện tình hình và loại đi những cơng ty khơng tốt, khơng
hiệu quả.
2.1.1.1.2. Thiếu tự tin và chánh kiến trong đầu tư
Kết quả khảo sát 100 NĐT tại các sàn giao dịch chứng khốn TP.HCM cho thấy (bảng 2
phụ lục 8):
+ Có 22 NĐT sẵn sàn chấp nhận rủi ro trong q trình đầu tư
+ 40 NĐT thích sự phân tích thơng tin đầy đủ, tránh rủi ro và dàn trãi
Đây cũng chính là hai trong những nhóm ngun tắc đầu tư đòi hỏi ở NĐT biết đầu tư
chứng khốn có kế hoạch. Tuy nhiên từ hai nhóm nhà đầu tư trên, kết hợp chúng với yếu tố rủi
ro (khi giá cổ phiếu đang nắm giữ rớt mạnh) thì kết quả có mâu thuẫn, thể hiện như sau:
Phát biểu phù hợp với

sắp
Phớt

ø

chỉ là
thông
tin chưa
chính
thức
2
9.090
9
2
5.128
2
Bán
ngay
một phần hoặc toàn bộ
cổ
phiếu

sợ mất giá
14 63.636 24
61.53
8
Tìm
hiểu thật kỹ thông
tin
rồi

+ Có tới 14 NĐT trong nhóm 22 NĐT sẵn sàn chấp nhận rủi ro khi đầu tư lại quyết định bán
ngay một phần hay tồn bộ cổ phiếu chỉ khi mới nghe thơng tin cổ phiếu đang nắm giữ rớt giá,
chiếm gần 63.64%

Trích đoạn Lợi ích khi áp dụng các nghiệp vụ IR (căn cứ trên 3 nhiệm vụ của IR)
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status