SƠ BỘ NGHIÊN CỨU TỈ LỆ LÂY TRUYỀN HIV/AIDS TỪ MẸ
SANG CON GIAI ĐOẠN TRONG TỬ CUNG
TÓM TẮT
Mục tiêu: Sơ bộ xác định tỉ lệ lây truyền HIV từ mẹ sang con giai đoạn
trong tử cung và một số yếu tố liên quan đến tỉ lệ này.
Phương pháp nghiên cứu: Một nghiên cứu cắt ngang mô tả đã được thực
hiện tại Bệnh viện Từ Dũ trên 45 cặp thai phụ và con, trong thời gian từ tháng 1
năm 2005 đến tháng 6 năm 2005. Trẻ được chẩn đoán là nhiễm HIV trong tử cung
khi có hai mẫu máu cuống rốn cùng dương tính với thử nghiệm PCR HIV-DNA
(dùng hai căp mồi khác nhau). Mẫu thu thập bao gồm máu toàn phần của mẹ tại
thời điểm sanh và máu cuống rốn. Tiêu chuẩn chọn mẫu: các trường hợp thai phụ
chuyển dạ vào bệnh viện Từ Dũ, có chẩn đoán nhiễm HIV qua test nhanh hoặc
ELISA, sau khi đã được tham vấn và đồng ý tham gia vào nghiên cứu. Tiêu chuẩn
loại trừ: Thai phụ có PCR HIV-DNA âm tính từ mẫu máu thu thập được.
Kết quả:Tỉ lệ lây truyền HIV cho con giai đoạn trong tử cung là 6,67%.
Một số yếu tố liên quan đã được tìm thấy trong nghiên cứu này: thai nhẹ cân ở thời
điểm sanh, mẹ sử dụng ma túy trong thai kì, mẹ có tỉ lệ CD4 thấp < 21% có liên
quan với nguy cơ lây truyền HIV cho con ở giai đoạn trong tử cung.
Kết luận: Tỉ lệ lây truyền HIV cho con giai đoạn trong tử cung là 6,67%
phù hợp với kết quả của các tác giả trong khu vực. Đây là vấn đề cần được đầu tư
nghiên cứu thêm.
ABSTRACT
Objective: The transmission rate from mother-to-child in-utero and some
associated factors.
Methods: A cross-sectional study was performed at Tu Du hospital for 45
pairs of mother-child from January 2005 to June 2005. Newborns are diagnosed
infected in-utero with HIV if the cord blood samples are positive when a PCR test
is performed using at least 2 primers. Included criterias: pregnant women in labor
diagnosed as HIV positive by the serologic test. Excluded criterias: patients which
the whole blood is negative when HIV-DNA PCR is used to confirm HIV infected
Chúng tôi xác định tỉ lệ trẻ sơ sinh nhiễm HIV từ giai đoạn trong tử cung
dựa vào tỉ lệ PCR máu cuống rốn dương tính và khảo sát tỉ lệ trẻ nhiễm HIV từ
giai đoạn trong tử cung phân bố theo một số yếu tố liên quan. Trẻ được chẩn đoán
là nhiễm HIV trong tử cung khi có hai mẫu máu cuống rốn cùng dương tính với
thử nghiệm PCR HIV-DNA(4). Mẫu thu thập bao gồm máu toàn phần của mẹ tại
thời điểm sanh và máu cuống rốn. Tiêu chuẩn chọn mẫu: các trường hợp thai phụ
chuyển dạ vào bệnh viện Từ Dũ, có chẩn đoán nhiễm HIV qua test nhanh hoặc
ELISA sau khi đã được tham vấn và đồng ý tham gia vào nghiên cứu. Tiêu chuẩn
loại trừ: Thai phụ có PCR HIV-DNA âm tính từ mẫu máu thu thập được.
Số liệu được nhập và xử lí bằng phần mềm SPSS phiên bản 11.5.
KẾT QUẢ
Trong thời gian nghiên cứu, 45 trường hợp vào sanh tại bệnh viện Từ Dũ đã
được chọn vào mẫu nghiên cứu. Trong 45 trẻ sanh ra từ những thai phụ nói trên, 3
trường hợp có PCR máu cuống rốn dương tính, tỉ lệ lây truyền tính được là 6,67%
(95 % CI, 1,3-18,26%).
Bảng 1. Một số đặc điểm của thai phụ
Tần số (%)
Tuổi
< 25
31 (68,9%)
≥ 25
14 (31,1%)
Tiền thai
3 (6,7%)
Cấp I
9 (20,0%)
Cấp II
22 (48,9%)
Cấp III
9 (20,0%)
Đại học
2 (4,4%)
Tình trạng hôn nhân
Có chồng
42 (93,4%)
Li thân, li dị
2 (4,4%)
Góa
1 (2,2%)
Số bạn tình
1 người
42 (93,4%)
PCR (–)
p
Tuổi mẹ
< 25
3
28
0,54
≥ 25
0
14 PARA
Con so
3
33
1
Con rạ
0,24
Không
2
39 Sử dụng ma túy
Có
2
1
0,009
Không
1
41 OR = 28 (95% CI, 3,45-227,8)
ARV
Không
2
1
5
0,35
Không
2
37 Cân nặng
< 2500g
2
3
0,02
≥ 2500g
1
39 OR = 26 (95% CI, 1,8-376,3)
nay có thể bị nhiễm từ những nguy cơ mà họ hoàn toàn không biết.
3. Nghiên cứu của chúng tôi không tìm thấy có sự khác biệt về tuổi mẹ, về
yếu tố tiền thai, trình độ học vấn và tuổi thai khi sanh dưới 37 tuần giữa hai nhóm
có và không lây cho con, p > 0,05. Về vấn đề này, các nghiên cứu của Thái Lan
cũng không tìm thấy mối liên quan(5,7).
Điều trị ARV trong thai kì đã được chứng minh làm giảm lây nhiễm từ mẹ
sang con. Tuy nhiên, trong nghiên cứu này, chúng tôi không tìm thấy sự khác biệt
giữa nhóm có và không có dùng ARV trong thai kì về nguy cơ lây truyền trong tử
cung (p > 0,05). Cũng cần lưu ý là với tiêu chí sử dụng PCR máu cuống rốn để xác
định lây truyền trong tử cung, chúng tôi đã chấp nhận có thể không phát hiện được
một số trường hợp lây truyền trễ trong tử cung (ngay trước khi chuyển dạ)(5) mà
ARV sử dụng theo phác đồ ngắn ngày hiện tại chỉ có tác dụng ngăn ngừa lây
truyền trong tử cung giai đoạn trễ này. Điều này có thể giải thích cho sự không
khác biệt giữa 2 nhóm đã nêu ở trên.
Về sử dụng ma túy trong thai kỳ, chúng tôi nhận thấy có sự khác biệt có ý
nghĩa thống kê khi so sánh hai nhóm thai phụ có và không có lây truyền trong tử
cung cho con. Mối liên quan với OR = 28 (95% CI, 3,45-227,58) có thể sẽ trở nên
đáng tin cậy hơn với việc mở rộng cỡ mẫu.
Về tình trạng miễn dịch của nhóm thai phụ được nghiên cứu, chúng tôi xem
xét tỉ lệ phần trăm của CD4. Khi chưa có điều kiện định lượng được nồng độ siêu
vi thì CD4 được dùng như một chỉ số để đánh giá hoạt lực của siêu vi cũng như
tình trạng miễn dịch của cơ the(1,10). Trong nghiên cứu này, chúng tôi tìm thấy có
sự khác biệt, p = 0,03, giữa 2 nhóm có và không có lây truyền cho con. Tuy nhiên
với cỡ mẫu nhỏ và thiết kế nghiên cứu mô tả, yếu tố liên quan chưa thể xác lập
được.
Chúng tôi nhận thấy có sự khác biệt có ý nghĩa thống kê về tỉ lệ nhiễm HIV
từ trong tử cung giữa hai nhóm trẻ nhẹ cân và trẻ đủ cân tại thời điểm sanh, với
OR = 26 (95% CI, 1,8-376,3), p < 0,05. Điều này cũng phù hợp với nhiều báo cáo
trước đây của các tác giả Thái Lan và Âu-Mỹ(3,8,9).
4. Nếu thực hiện PCR từ máu toàn phần ở trẻ vừa sanh trong vòng 1 tuần lễ