ỨNG DỤNG KỸ THUẬT CẮT ĐĨA ĐỆM VI PHẪU QUA ỐNG BANH NỘI SOI TRONG ĐIỀU TRỊ THOÁT VỊ ĐĨA ĐỆM THẮT LƯNG - Pdf 20

ỨNG DỤNG KỸ THUẬT CẮT ĐĨA ĐỆM VI PHẪU
QUA ỐNG BANH NỘI SOI TRONG ĐIỀU TRỊ THOÁT VỊ
ĐĨA ĐỆM THẮT LƯNG

Tóm tắt
Mục tiêu: Phẫu thuật cắt đĩa đệm vi phẫu qua ống banh nội soi là một
trong những phẫu thuật ít xâm nhập để điều trị thoát vị đĩa đệm thắt lưng.
Tại Khoa Cột Sống A Bệnh Viện Chấn Thương Chỉnh Hình chúng tôi thực
hiện công trình nghiên cứu kết quả và biến chứng của phương pháp này.
Phương pháp: Từ tháng 2 /2001 đến tháng 8/2006 chúng tôi đã tiến
hành nghiên cứu kết quả điều trị của phương pháp này trên 56 bệnh nhân.
Tất cả bệnh nhân được gây mê nội khí quản. Chúng tôi đánh giá kết quả
phẫu thuật dựa vào tiêu chuẩn MacNab cải biên.
Kết quả: Rất tốt: 44/56 (78,6%), Tốt: 6/56 (10,7%), Khá: 5/56 (8,9%),
Xấu: 1/56 (1,8%). Thời gian phẫu thuật trung bình: 102 phút (từ 45- 180) và
lượng máu mất trung bình 68 ml (10ml-200ml). Biến chứng bao gồm: 4 trường
hợp thủng màng cứng (lỗ nhỏ). Số ca tái phát: 3 ca(2ca sau 1năm, 1 ca sau 3
tháng)
Kết luận: Phẫu thuật cắt đĩa đệm vi phẫu qua ống banh nội soi để
điều trị thoát vị đĩa đệm thắt lưng là một phương pháp điều trị hiệu quả và an
toàn mang lại nhiều lợi ích cho người bệnh đã áp dụng thành công tại Khoa
Cột Sống A - Bệnh viện Chấn Thương Chỉnh Hình Thành phố Hồ Chí Minh.
ABSTRACT
Object: Tubular MicroDiscectomy (TMD) is one of the minimally
invasive surgical techniques for treating lumbar disc herniation. A
prospective evaluation of results and complications was undertaken in Spinal
Surgery Department A – Hospital for Trauma & Orthopaedics
Methods: Seventy patients underwent surgery in which tubular retractor
was used. General anesthesia was induced in all cases. Data were collected in 56
(80%) of these patient (male: 35, female: 21). The mean age was 36.6 (16- 63).
The averaged follow-up period was 36 months (range, 3-66 months).

.
Cùng với sự phát triển của nền y học hiện đại trên thế giới, phẫu thuật
ít xâm nhập là một bước tiến quan trọng và là khuynh hướng phát triển trong
ngành ngoại khoa. Trong lĩnh vực cột sống, kỹ thuật cắt đĩa đệm vi phẫu qua
ống banh nội soi để điều trị thoát vị đĩa đệm thắt lưng là bước tiến bộ, nổi
bật điển hình. Phương pháp này kết hợp giữa kỹ thuật cắt đĩa đệm vi phẫu
với ống banh nội soi, không những có thể giải ép rễ thần kinh triệt để mà còn
mang nhiều lợi ích cho bệnh nhân nhờ vào hệ thống nong và ống banh nội
soi: đường mổ nhỏ, hồi phục nhanh và quan trọng nhất là bệnh nhân có
thể xuất viện trong ngày. Đây là phương pháp được đánh giá tiến bộ và đáp
ứng được mục tiêu điều trị phẫu thuật
(0,0,0,0)
.
Năm 1997 phẫu thuật cắt đĩa đệm vi phẫu qua ống banh nội soi được
thực hiện trên 6000 bệnh nhân ở 500 bệnh viện khác nhau ở Mỹ
(0)
. Tháng 4/
2000 Hilton giới thiệu và chuyển giao kỹ thuật cắt đĩa đệm vi phẫu qua ống
banh nội soi tại thành phố Hồ Chí Minh
(0)
. Tháng 2/ 2001 phương pháp này
được áp dụng đầu tiên tại Khoa Cột Sống A- Bệnh Viện Chấn Thương
Chỉnh Hình
(0)

Việc tổng kết và đánh giá hiệu quả điều trị của phương pháp mới
nhiều ưu điểm nêu trên với hy vọng có thể ứng dụng phương pháp này vào
việc điều trị bệnh lý thoát vị đĩa đệm tại Việt Nam là mục đích chính của đề
tài.
ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP

Trở về sinh hoạt và làm việc bình thường
Tốt:
Thỉnh thoảng đđau thắt lưng
Hiện tại không triệu chứng
Trở về công việc nhẹ hơn
Khá:
Cải thiện lâm sàng ít
Mất khả năng lao động
Xấu:
Không cải thiện lâm sàng
Cần phải mổ lại.
Các dữ liệu của từng bệnh nhân được lưu trữ và xử lí với phần mềm
Excel.

KẾT QUẢ
Chúng tôi đã theo dõi 56 bệnh nhân (35 nam;21 nữ), tuổi trung bình
36,6 tuổi (tuổi lớn nhất: 63; tuổi nhỏ nhất: 16), thời gian theo dõi trung bình
là 36 tháng (dài nhất 66 tháng, ngắn nhất 3 tháng), tầng thoát vị TL4-TL5:
33 ca; TL5-Th1: 23 ca, thời gian điều trị bảo tồn trước phẫu thuật: 6,7 tháng.
Số liệu ghi nhận trong lúc phẫu thuật:
Thời gian phẫu thuật trung bình: 102 phút
Lượng máu mất trung bình: 68 ml
Rách dây chằng dọc sau: 23 ca
Biến chứng: 4 ca thủng màng cứng (7,1%), không biến chứng tổn
thương thần kinh
Thời gian nằm hậu phẫu trung bình: 3,6 ngày (ngắn nhất: 1 ngày; dài
nhất: 10 ngày).
Kết quả lâm sàng sau mổ trong lần đánh giá gần nhất (tháng 8/2006)
K
ết

Trong nghiên cứu chúng tôi biến chứng thủng rách màng cứng 4/56
ca, chiếm tỉ lệ 7,1% phù hợp với biến chứng rách màng cứng trong y văn từ
1,6 – 7.5%
(0)
. Chúng tôi không có biến chứng tổn thương thần kinh tương tự
các tác giả Palmer
(17)
và Perez- Cruet
(0,0)
. Biến chứng thủng màng cứng
thường gặp có thể do:
+Đa số bệnh nhân chúng tôi có thời gian điều trị bảo tồn kéo dài trung
bình 6,7 tháng nên phản ứng viêm giữa bao màng cứng – rễ thần kinh tủy
sống và khối thoát vị kéo dài dẫn đến hiện tượng dính bao màng cứng và rễ
thần kinh tủy sống vào khối thoát vị. Sự thủng hay rách bao màng cứng
thường xẩy ra trong khi tách bao màng cứng và rễ thần kinh tủy sống ra khỏi
khối thoát vị (0)
+Với sự phóng đại của kính hiển vi phẫu thuật chúng ta có thể thấy
được những lỗ rách nhỏ khó mà nhìn thấy được bằng mắt thường.
+Để xử trí biến chứng thủng màng cứng chúng tôi đặt một miếng
Surgicel nhỏ lên chỗ thủng hay rách và để bệnh nhân nằm nghỉ tại giường
hai ngày
(0,0,0,0)
.
Tỉ lệ tái phát
Tỉ lệ tái phát của chúng tôi là 5,4% cũng phù hợp với tỉ lệ tái phát của
phẫu thuật điều trị thoát vị đĩa đệm thắt lưng từ 5-> 11%
(0,0,0,0,0,0)
.
Trong nghiên cứu chúng tôi có 3 ca mổ lại do tái phát: 2 ca tái phát sau

* Ít đụng chạm cấu trúc thần kinh
Với phương pháp cắt đĩa đệm vi phẫu qua ống banh nội soi giảm hẳn
biến chứng tổn thương thần kinh vì kính hiển vi phẫu thuật cho phẫu trường
sáng, độ phóng đại nhiều lần, hình ảnh phẫu trường ba chiều rõ nét giúp
phẫu thuật viên có thể cầm máu kỹ, phẫu trường không chảy máu giúp phẫu
thuật viên phân biệt dễ dàng cấu trúc thần kinh với khối thoát vị, thực hiện
việc giải ép nhẹ nhàng triệt để ít đụng chạm đến bao màng cứng và rễ thần
kinh tủy sống
(0)
.
Tóm lại phẫu thuật cắt đĩa đệm vi phẫu qua ống banh nội soi giảm
được biến chứng tổn thương thần kinh.
Thời gian nằm viện hậu phẫu
Thời gian nằm viện hậu phẫu trung bình của chúng tôi là 3,6 ngày,
ngắn hơn có ý nghĩa thống kê so phẫu thuật kinh điển do các phẫu thuật viên
trong nước 9,74 ngày
(0)
. Đây là ưu điểm của phẫu thuật cắt đĩa đệm vi phẫu
qua ống banh nội soi.
NHỮNG VẤN ĐỀ KHÓ KHĂN:
Chảy máu không kiểm soát được: đây là thất bại của phẫu thuật cắt
đĩa đệm vi phẫu qua ống banh nội soi vì chảy máu nhiều gây ngập trường
mổ, không nhận định được phẫu trường, không thực hiện được phẫu thuật.
Trong nghiên cứu của chúng tôi có một ca sau mổ có kết quả xấu (chiếm tỉ
lệ 1,7%) nguyên nhân do trong lúc phẫu thuật chảy máu nhiều, cầm máu gặp
khó khăn dẫn đến không lấy hết khối thoát vị. Sau mổ bệnh nhân không cải
thiện lâm sàng, chúng tôi cho làm cộng hường từ kiểm tra thì thấy khối thoát
vị trung tâm vẫn còn. Bệnh nhân được mổ lại và có kết quả tốt.
Để đề phòng chảy máu nhiều:
- Ngưng kháng viêm trước mổ.

(0)
.
Tóm lại, tuy bước đầu có khó khăn nhưng những khó khăn này đều có
thể giải quyết được và chúng tôi nghĩ rằng phẫu thuật này sẽ ngày càng phát
triển và trở nên phổ biến tại Việt Nam như ở các nước tiên tiến.
KẾT LUẬN
Phẫu thuật cắt đĩa đệm vi phẫu qua ống banh nội soi để điều trị thoát
vị đĩa đệm thắt lưng là một phương pháp điều trị hiệu quả và an toàn mang
lại nhiều lợi ích cho người bệnh đã áp dụng thành công tại Khoa Cột Sống A
- Bệnh viện Chấn Thương Chỉnh Hình Thành phố Hồ Chí Minh.
Hình ảnh minh họa: Bệnh nhân nữ, 44 tuổi, TVĐĐ TL5-Th1 (T) chèn
ép rễ Th1 (T).
Trước mổ
T
2Sau mổ TL5-Th1
Trước mổ TL5-Th1
TL5
Sau mổ
T
2

T
2


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status