KIẾN THỨC - THÁI ĐỘ - THỰC HÀNH VỀ PHÒNG CHỐNG HIV/AIDS - Pdf 20

KIẾN THỨC - THÁI ĐỘ - THỰC HÀNH VỀ PHÒNG CHỐNG
HIV/AIDS

TÓM TẮT
Mục tiêu: Học sinh là nguồn nhân lực lao động tương lai quan trọng
cho xã hội. Nguy cơ lan tràn dịch HIV/AIDS ra cộng đồng đang đe dọa sức
khoẻ của các em học sinh phổ thông trung học nói riêng và thế hệ trẻ nói
chung. Do đó, nghiên cứu này nhằm mục đích xác định tỉ lệ kiến thức, thái
độ, thực hành của học sinh phổ thông trung học tại Thành phố Phan Thiết về
phòng chống HIV/AIDS.
Phương pháp: Đây là một nghiên cứu cắt ngang được tiến hành trên
750 học sinh nhằm đánh giá mức độ kiến thức, thái độ, thực hành về phòng
chống HIV/AIDS của học sinh phổ thông trung học năm học 2005 - 2006 tại
Thành phố Phan Thiết tỉnh Bình Thuận. Với kỹ thuật chọn mẫu cụm ngẫu
nhiên và phân tầng theo từng khối lớp10, 11 và 12.
Kết qủa: Đa số các em có kiến thức về đường lây truyền 69,07%, về
khả năng điều trị 67,47%, về phát hiện nhiễm HIV 98,8% và cách phòng
chống 63,60%; Kiến thức chung 35,07%. Thái độ trong phòng chống
HIV/AIDS có 68,85% học sinh chấp nhận sử dụng bao cao su, 90,67% đối
xử tích cực với người nhiễm và 95,99% sẵn sàng xét nghiệm khi nghi ngờ
nhiễm HIV. Trong thực hành, đáng lưu ý là có 3 học sinh (chiếm 4%) trong
tổng số 766 học sinh có hành vi sử dụng ma tuý, trong đó 01 em đã từng
chích ma tuý. Có 28 em học sinh (chiếm 3,73%) đã từng quan hệ tình dục,
trong đó 15 em đã từng quan hệ tình dục và không sử dụng bao cao su là
điều chúng ta đáng quan tâm. Sự khác biệt giữa kiến thức của học sinh nam
và nữ; thái độ phòng chống HIV/AIDS giữa học sinh nam, nữ là có ý nghĩa
thống kê (p<0,05).
Kết luận: Học có từng kiến thức đúng về phòng chống HIV/AIDS
khá cao nhưng không đầy đủ. Quan hệ tình dục ngoài hôn nhân không sử
dụng bao cao su và hành vi sử dụng ma túy trong học sinh là điều chúng ta
đáng quan tâm trong thời gian tới.

gánh chịu những hậu qủa nặng nề của đại dịch AIDS. Trong những năm gần
đây, theo báo cáo của UNAIDS (tổ chức phòng chống AIDS toàn cầu)
khoảng 64% tổng số người mới nhiễm HIV/AIDS hàng năm ở các nước
đang phát triển là những người trong độ tuổi 15-24. Sự gia tăng này đặc biệt
rõ rệt trong nhóm phụ nữ trẻ và trẻ em gái. Điều này, tác động rất lớn đến
các vấn đề y tế, giáo dục, chăm sóc xã hội và xa hơn nữa là đến nguồn nhân
lực - tài sản qúy giá nhất của mỗi quốc gia; tương lai, hạnh phúc nòi giống
của nhiều gia đình, dòng họ, dân tộc
(2)
Tại Việt Nam, theo Cục phòng
chống HIV/AIDS - Bộ Y tế, tính đến hết ngày 30/6/2006 đã có tổng số
nhiễm HIV trong toàn quốc là 109.989 ca trong đó số bệnh nhân AIDS có
18.581 ca và 10.785 người chết do AIDS.
Trong những năm qua, cùng với cả nước tại Bình Thuận công tác giáo
dục sức khoẻ về phòng chống HIV/AIDS với nhiều hình thức truyền thông
đại chúng đã tiến hành liên tục. Tuy nhiên, kể từ ca nhiễm HIV đầu tiên
được phát hiện đầu tiên tại Thành phố Phan Thiết vào tháng 8/1994. Đến
nay toàn tỉnh (không kể số liệu từ Cơ sở giáo dục Huy Khiêm và Trại giam
Z30D) đã phát hiện tổng cộng 460 trường hợp nhiễm HIV, trong đó 206
trường hợp chuyển AIDS và 177 trường hợp tử vong do AIDS. Cả 10/10
huyện, Thị xã, Thành phố đều có người nhiễm HIV và bệnh nhân AIDS;
trong đó Thành phố Phan Thiết chiếm tỉ lệ cao nhất trong toàn tỉnh (số
nhiễm HIV: 262, Bệnh nhân AIDS: 146, Tử vong: 105). Hơn nữa, Thành
phố Phan Thiết với đặc điểm là thành phố trẻ có những điểm du lịch nổi
tiếng, thu hút nhiều du khách trong và ngoài nước tham quan, nghỉ dưỡng
nên một số tệ nạn như ma tuý, mại dâm dưới những hình thức trá hình vẫn
còn tồn tại dễ tạo điều kiện cho dịch lây lan và phát triển. Do đó, nghiên
cứu này nhằm mục đích đánh giá thực trạng kiến thức, thái độ, thực hành
của học sinh phổ thông trung học tại Thành phố Phan Thiết về phòng chống
HIV/AIDS, sự tiếp cận các nguồn thông tin và mối liên quan giữa kiến thức,

Sử dụng phép kiểm chi bình phương ở ngưỡng ý nghĩa 5% và giá trị p. Sự
khác biệt có ý nghĩa thống kê khi trị số p <0,05 để tìm mối liên quan giữa
kiến thức, thái độ, thực hành với trình độ học vấn, giới, tuổi, nghề nghiệp
của cha mẹ học sinh. Mức độ liên quan được ước lượng theo tỉ số số chênh.
Khía cạnh y đức của nghiên cứu
Không vi phạm y đức.
KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU
Trong số 766 học sinh được chọn, có 750 em đồng ý trả lời, tỉ lệ mất
mẫu là 2,08% do học sinh vắng mặt ở thời điểm điều tra.

Bảng 1. Các đặc tính của mẫu nghiên cứu (n = 750)
Đặc tính n Tỉ lệ
(%)
Lớp 10

267

35,65

Lớp 11

263

35,11

Trình
độ học vấn
Lớp 12

219


Nghề
nghiệp Cha
(mẹ)
Lao
động chân
tay
555

74,10

Bảng 2. Tiếp cận các nguồn thông tin (n= 750)
Nguồn
thông tin
n Tỉ lệ
(%)
Truyền
hình
741

98,80

Phát
thanh
609

81,20

Sách
báo


54,27

Bảng 3. Tỉ lệ học sinh có kiến thức về phòng chống HIV/AIDS (n=
750)
Nội dung Tần
số
Tỉ lệ
(%)
Biết đúng về
đường lây truyền HIV
518 69,07

Biết đúng về
khả năng điều trị
506 67,47

Biết đúng về
phát hiện nhiễm HIV
741 98,80

Biết đúng về
phòng lây nhiễm
477 63,60

Kiến thức chung

263 35,07

Bảng 4. Tỉ lệ học sinh có thái độ tích cực (chấp nhận) về phòng chống

Nội
dung
Tần
số
Tỉ
lệ(%)
Sử
dụng riêng
dao cạo râu ở
học sinh nam
(n= 309)
208 67,31

Sử
dụng riêng
bàn chải
đánh răng
613 81,73

Sử
dụng riêng
kềm cắt
141 18,88

móng tay

quan hệ tình
dục
28 3,73
Có sử


Kiến thức về
đường lây
Học sinh có
cha mẹ lao động
trí óc so với lao
động chân tay
1,81 (1,23 -
2,77)
0,002

Kiến thức về
phòng lây
Nam so với
nữ
1,45 (1,05 -
1,99)
0,017

Học sinh có
cha mẹ lao động
trí óc so với lao
động chân tay
1,75 (1,21 -
2,56)
0,002

Bảng 7. Các yếu tố liên quan đến thái độ về phòng chống HIV/AIDS
Nội dung Các yếu tố Khoảng tin
cậy 95%

cường phối hợp hơn nữa giữa y tế và giáo dục trong việc triển khai sâu rộng
công tác phòng chống HIV/AIDS trong nhà trường.
Kiến thức về phòng chống HIV/AIDS
Những kiến thức về phòng chống HIV/AIDS của học sinh được điều
tra bao gồm kiến thức về đường lây truyền HIV, kiến thức về khả năng điều
trị AIDS, kiến thức về phát hiện nhiễm HIV và kiến thức về phòng lây
nhiễm HIV. Có (98,8%) học sinh biết HIV được phát hiện chủ yếu qua xét
nghiệm (bảng 3). Kết qủa này tương đương với kết qủa điều tra của Ngô văn
Tán (99,2%). Tỉ lệ kiến thức đúng về khả năng điều trị AIDS thấp (67,47%)
so với kết quả nghiên cứu của Ngô Văn Tán (87,9%) và Lê Trọng Lưu
(77,9%). Điều này có thể lý giải, gần đây có thông tin về các loại thuốc tây
cũng như đông y đang sử dụng cho người bị nhiễm HIV/AIDS nhưng chỉ
đang giai đoạn nghiên cứu do đó các thông tin này được các em hiểu sai
lệch, thiếu chính xác. Đây là vấn đề cần lưu ý cho những người làm công tác
truyền thông, giúp cho các em có kiến thức về khả năng điều trị AIDS để
luôn có ý thức cảnh giác. Tỉ lệ kiến thức chung đúng (35,07%) thấp hơn kết
qủa của Lê Trọng Lưu (46,7%) mặc dù công tác truyền thông về phòng
chống HIV/AIDS trong nhà trường đã triển khai nhiều năm. Kiến thức
chung được định nghĩa là đúng khi tất cả kiến thức đúng. Điều này chứng tỏ
nhiều học sinh có kiến thức đúng nhưng chưa đầy đủ, đây là nguy cơ dẫn
đến thực hành sai. Do đó vấn đề này cần lưu ý điều chỉnh thông điệp truyền
thông trong thời gian tới.
Khi xem xét các mối liên quan của kiến thức với trình độ học vấn,
giới, tuổi, nghề nghiệp cha mẹ học sinh. Sự khác biệt có ý nghĩa thống kê
giữa học sinh nam và nữ; học sinh có cha mẹ lao động trí óc và chân tay về
kiến thức đường lây và phòng lây (bảng 6). Điều này có thể do nam giới với
tính cách mạnh mẽ dễ dàng tiếp cận nhiều kênh truyền thông về phòng
chống HIV/AIDS, cũng như học sinh có cha mẹ lao động trí óc sẽ có điều
kiện thuận tiếp cận nhiều kênh truyền thông hơn các em có cha mẹ lao động
chân tay.

Thực hành về phòng chống HIV/AIDS .
Do đối tượng là học sinh nên yếu tố thực hành chỉ khảo sát ở các vấn
đề liên quan như sử dụng dao cạo râu (nam), bàn chải răng, kềm cắt móng
tay các thực hành liên quan đến truyền máu, vô trùng trong dịch vụ y
tế không đề cập trong nghiên cứu này.
Cả học sinh nam và nữ mặc dù có kiến thức đúng về phòng bệnh nhưng
những hành vi phòng lây qua đường máu thì chưa tốt. Đó là sự chủ quan sử
dụng chung đồ dùng cá nhân với người khác ở các dịch vụ cắt tóc, làm móng
tay cũng như ở gia đình, điều này càng nguy hiểm hơn đối với những gia đình
đông đảo thành viên trong đó có người đã nhiễm nhưng chưa phát hiện. Tỉ lệ
học sinh dùng chung dao cạo râu (32,69%), kềm cắt móng tay (81,12%), bàn
chải răng (18,27%) (bảng 5). Kết qủa này cho thấy thói quen sử dụng chung
dụng cụ cá nhân, nhất là kềm cắt móng tay còn phổ biến trong các gia đình Việt
Nam. Tuy nhiên, nếu trong gia đình không có người nhiễm HIV/AIDS thì việc
dùng riêng kềm cắt móng tay là không cần thiết. Kết qủa nghiên cho thấy có 28
học sinh đã từng quan hệ tình dục ngoài hôn nhân chiếm tỉ lệ 3,73 cao hơn kết
qủa nghiên cứu của Lê Trọng Lưu (0,5%) và 03 học sinh chiếm tỉ lệ 0,4% có
hành vi sử dụng ma tuý, trong đó có 15 học sinh không sử dụng bao cao su
trong quan hệ tình dục và 01 học tiêm chích ma túy (bảng 5), đây là điều đáng
quan tâm. Mặc dù tỉ lệ thấp nhưng khó ai biết được những học sinh đã từng
quan hệ tình dục ngoài hôn nhân có hay chưa tiếp xúc với những người đã
nhiễm và có tiếp xúc với những người khác nữa hay không. Đây là một thực
trạng đáng báo động về hành vi quan hệ tình dục và sự xâm nhập của ma túy
vào học đường đồng thời còn là yếu tố nguy cơ lây nhiễm cao bởi kết qủa cho
thấy học sinh vẫn chưa có ý thức trong việc tự bảo vệ.
KẾT LUẬN - KIẾN NGHỊ
Hầu hết học sinh có từng kiến thức đúng về phòng chống HIV/AIDS
khá cao nhưng không đầy đủ. Tỉ lệ học sinh có kiến thức chung về phòng
chống HIV/AIDS thấp (35,07%). Học sinh vẫn có thói quen sử dụng chung
dụng cụ cá nhân, nhất là kềm cắt móng tay, dao cạo râu ở nam. Trong khi


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status