Website: Email : Tel : 0918.775.368
Lời nói đầu
Chuyển dịch cơ cấu cây trồng và vật nuôi là chủ trơng tiến hành công
nghiệp hoá , hiện đại hoá ở nông thôn của Đảng với mục đích nâng cao đời sống
tinh thần và vật chất cho nông dân.Việt Nam là nớc đang phát triển , chúng ta tham
gia vào quá trình hội nhập cần tận dụng lợi thế so sánh của mình, theo lý thuyết lợi
thế so sánh ,các nớc đang phát triển nên tập trung vào các ngành có lợi thế so
sánh , tức là các ngành sử dụng nhiều lao động là các yếu tố có sẵn còn các nớc
phát triển có lợi thế về vốn và công nghệ sẽ không chuyển giao hoàn toàn cho các
nớc đang phát triển . ở nớc ta dân số đông , đa số là nông dân, đặc trng của nghề
nông là làm theo mùa, nên khi hết mùa vụ lao động d thừa, nhàn rỗi,vì vậy chúng
ta cần triệt để khai thác nguồn nhân lực dồi dào này. Thêm vào đó , thực tế nguồn
lợi tự nhiên về hải sản trong các đại dơng và nguồn lợi thuỷ sản không phải là vô
tận và luôn có chiều hớng suy giảm do nhiều tác động khác nhau nh đánh bắt quá
mức , ô nhiễm môi trờng , ngăn chặn các dòng sông làm thuỷ lợi, thuỷ điện và thuỷ
lợi hoá ruộng đồng để phát triển nông nghiệp . Nớc ta may mắn là nớc có tiềm
năng lớn để nuôi trồng nhng cũng không nằm ngoài qui luật đó. Vì vậy , phát triển
nuôi trồng thuỷ sản là hớng đi tất yếu của ngành thuỷ sản để đáp ứng nhu cầu về
thuỷ sản ngày càng tăng trong khi nguồn lợi thuỷ sản tự nhiên trên trái đất bị hạn
chế và có chiều hớng suy giảm.Thực tế một số năm gần đây, phong trào chuyển từ
trồng lúa sang nuôi tôm ở vùng ngập mặn phát triển. Nhờ việc chuyển dịch này mà
nhiều hộ nông dân giàu lên, nhiều địa phơng giảm bớt đói nghèo , góp phần tạo
công ăn việc làm , giải quyết các vấn đề KT-XH. Vì vậy, lợi ích từ việc nuôi trồng
tôm sú là rất lớn , cần tiếp tục nghiên cứu và phát triển . Nhận thức đợc ý nghĩa của
vấn đề nàytôi chọn đề án môn học: Phân tích thực trạng ngành nuôi tôm sú
của VN trong giai đoạn hiện nay và kiến nghị một số giải pháp phát triển
ngành nuôi tôm sú trong thời gian tới
-1-
Website: Email : Tel : 0918.775.368
Thực trạng
1.Thực trạng ngành nuôi tôm sú ở VN
6 Thanh Hoá 500 1152 2000 200 258 700
7 Nghệ An 670 900 1000 106 126 160
8 Hà Tĩnh 260 318 350 40 94 90
Nh vậy, Hải phòng đang dẫn đầu các tỉnh Miền Bắc về nuôi tôm sú cả về
diện tích và sản lợng. Những hộ nuôi tôm giỏi tập trung nhiều ở Đồ Sơn, An Hải,
Cát Bà, theo ông Phạm ánh Dơng (Cát Hải) nuôi bán thâm canh trên 3800 m2, sau
90-110 ngày đã thu hoạch 1260 kg, đạt năng suất kỷ lục 3.3 tấn / ha, lãi 35 triệu
đồng. Song số hộ nuôi theo phơng thức bán thâm canh mới chỉ có 10.3%hộ trong
năm 1999, còn lại là quảng canh và quảng canh cải tiến . Năng suất bình quân mới
chỉ đạt 198 kg/ha . Năm 2000 ở Thanh Hoá đã có 2000 ha nuôi, thu hoạch 700 tấn
tôm sú, đạt năng suất 350 kg/ha, ở Nam Định :1500 ha nuôi tôm sú đã cho 550 tấn,
đóng góp hơn 40% kim nghạch xuất khẩu toàn tỉnh, ở Thái Bình có 883 ha tôm sú
thu hoạch 205 tấn, tơng đơng 20 tỷ đồng .
Về công tác nuôi trồng, ngay từ đầu ngành thuỷ sản đã chủ trơng đẩy
mạnh chơng trình nuôi trồng thuỷ sản, đặc biệt là nuôi tôm từ con giống , mùa vụ
công nghệ, thức ăn, chú trọng nhất là tôm sú. Do vậy, các cán bộ kỹ thuật thuỷ sản
từ trung ơng đến địa phơng đã chỉ đạo sát sao cách chăm sóc, phòng chống dịch
bệnh, hạn chế tai hại của thiên nhiên. Chú trọng công tác bảo quản nguyên liệu sau
thu hoạch, nâng cao tỷ lệ và giá trị sử dụng nguyên vật liệu nuôi trồng . Năm 1993,
tôm nuôi ở các tỉnh phía Nam bị chết trên diện rộng. Nhiều đề tài nghiên cứu cấp
nhà nớc và cấp Bộ đợc triển khai có liên quan đến vấn đề bệnh tôm, các giải pháp
-3-
Website: Email : Tel : 0918.775.368
công nghệ phù hợp với các vùng sinh thái khác nhau, các vấn đề môi trờng và qui
hoạch. Một số dự án hợp tác quốc tế đã hỗ trợ khá tốt cho vấn đề hình thành phơng
pháp luận nh phát triển các phơng pháp chuẩn đoán , phơng pháp nghiên cứu dịch
tễ học, xây dựng các mô hình nuôi phù hợp với các vùng sinh thái khác nhau, cụ
thể nh mô hình nuôi tôm trong rừng ngập mặn. Từ thí điểm đầu tiên, năm 1995 với
hai trang trại Nam Hải (200 ha) và Hiệp Thành (50 ha) ở Bạc Liêu, năm 1997, xác
định Trà Vinh là một trong các tỉnh có phong trào nuôi tôm mạnh nhất ở đồng
trồng XK và thị trờng này. Họ đã nói rõ chỉ mua nguyên liệu chế biến thuỷ sản
sạch vào thị trờng Mỹ, nêu rõ biện pháp quản lý sulfites không vợt quá 10 ppm
tính theo SO2 nhằm sớm hoàn chỉnh kiểm tra chất lợng sản phẩm HACCP. Năm
2000, một số kỹ thuật nuôi mới đã đợc đa vào áp dụng theo xu thế giảm việc sử
dụng hoá chất và tránh gây ô nhiễm môi trờng . Nuôi tôm sú công nghiệp trong hệ
thống nớc xanh kết hợp việc sử dụng một số chế phẩm vi sinh đã cho kết quả tốt
với hệ thống nuôi công nghiệp ở Bà Rịa Vũng Tàu . Do nuôi tôm có lãi suất khá
cao nên các hộ nông dân ở ven biển đã sử dụng hầu hết diện tích mặt nớc các vùng
bãi triều ven sông ,ven đầm đa vào nuôi trồng thuỷ sản. Trớc tình hình thiếu mặt n-
ớc để phát triển nuôi thuỷ sản ,nhiều hộ nông dân đã bớc đầu khai thác các vùng
đất cát ven biển đa vào nuôi tôm sú ,địa điểm nuôi đầu tiên tại thôn Từ Thiện
Ninh Thuận .Phong trào nuôi tôm trên cát ở đây phát triển mạnh, khu vực nuôi xây
dựng từ năm 1999 lúc đầu chỉ có một hộ nuôi diện tích 0.5 ha thu hoạch đợc 4 vụ,
mật độ thả nuôi 10-20 con tôm giống cỡ 2-3 cn/m2, năng suất đạt 2-3 tấn / ha/ vụ.
Trớc những thành quả đó đã kéo thêm 20 hộ đang thi công xây dựng ao nuôi với
diện tích 30 ha , tuy nhiên để đảm bảo các yêu cầu bảo vệ giữ gìn môi trờng sinh
thái việc mở rộng nuôi tôm phải có qui hoạch , nuôi gắn với trồng rừng và giữ
rừng, nuôi gắn với phát triển thuỷ lợi .
Nghề nuôi tôm ở nớc ta không ngừng phát triển; trình độ nuôi tôm ngày
càng ổn định và nâng cao, việc nuôi quảng canh năng suất thấp ngày càng đợc thay
-5-
Website: Email : Tel : 0918.775.368
thế. Điều này đòi hỏi ngành công nghiệp chế biến thức ăn phải phát triển tơng
xứng và chất lợng ngày càng hoàn thiện hơn. Yếu tố hàm lợng các chất dinh dỡng
phải thích hợp với nhu cầu sinh trởng của con tôm đợc đặt lên hàng đầu; công thức
chế biến mang tính khoa học. Do tập tính bắt mồi đặc biệt của con tôm nên thức ăn
phải có độ bền trong nớc tức là thức ăn phải mềm nhng không bị rã.
Bên cạnh các vấn đề nh địa điểm, công nghệ và qui trình kỹ thuật, thức
ăn ...của việc nuôi thì vấn đề về tôm sú giống cũng đặc biệt phải quan tâm . Hiện
nay, đồng bằng Nam Bộ cha tự túc đủ số lợng về tôm giống, chất lợng giống quá
,thực hiện trên 50% kế hoạch sản lợng và kim nghạch xuất khẩu. Ngay từ những
ngày đầu năm 2001, toàn ngành thuỷ sản đã rầm rộ ra quân, đẩy mạnh chuyển đổi
cơ cấu kinh tế , thực hiện đồng bộ các chơng trình mục tiêu, tạo ra bớc chuyển biến
mạnh mẽ về sản xuất xuất khẩu, nâng cao sức cạnh tranh của sản phẩm thuỷ sản
Việt Nam trên thị trờng .Trong 6 tháng đàu năm 2001 , toàn ngành đã đạt tổng sản
lợng 1.106 triệu tấn thuỷ sản , bằng 51% kế hoạch năm và vợt 13% so với cùng kì
năm trớc .Trớc những kết quả đạt đợc do nuôi tôm, nghe những lời tuyên truyền
nuôi tôm có thể mang lãi ròng hàng trăm triệu đồng trên 1 ha nên khi đợc nghị
quyết 09/2000/NQ- CP của chính phủ mở đờng , phong trào đồng khởi đa nớc mặn
về đồng , chuyển dịch lúa sang nuôi tôm nổ ra ồ ạt .Ban đầu ở đồng bằng Nam Bộ ,
sau lan dần ra vùng ven biển cả nớc kể từ cuối năm 2000 sang đầu năm 2001. Chỉ
trong vòng nửa năm diện tích nuôi tôm tăng thêm đã vợt quá tổng diện tích nuôi
tôm từ trớc đến nay . Năng lực sản xuất giống đã lên tới 15 tỷ P15 mà vẫn không
theo kịp mức tăng diện tích nuôi lên đã dẫn đến tình trạng thiếu hụt, giá tôm giống
tăng vọt và chất lợng con giống bị xem nhẹ . Ngời nuôi tôm thiếu kiến thức, công
trình nuôi thiếu kỹ thuật , thiếu qui hoạch, con giống thiếu và chất lợng không đảm
bảo, bằng ấy yếu tố cộng thêm điều kiện thời tiết không thuận lợi đã khiến ở một
số nơi tôm chết hàng loạt . Chẳng hạn nh các tỉnh ven biển phía Bắc , các số liệu
điều tra ban đầu cho thấy diện tích nuôi tôm toàn vùng của năm 2000là 22484 ha
thì sang vụ tôm đầu năm 2001 đã lên tới 33000 ha .Tỉnh Quảng Ninh tăng diện tích
-7-
Website: Email : Tel : 0918.775.368
nuôi tôm lên 2,4 lần ; các tỉnh Thái Bình, Nam Định và Ninh Bình tăng 2 lần ; các
tỉnh từ Thanh Hoá đến Thừa Thiên Huế cũng tăng từ 30-50% diện tích nuôi tôm
chỉ có sau 1 năm .Số tôm thả nuôi cũng tăng rất nhanh .Trong năm 2000, toàn vùng
mới thả gần 500 triệu tôm giống , thì sang vụ tôm năm nay đã tăng gấp đôi . Do
năng lực sản xuất tôm giống trong vùng còn hạn chế nên phần lớn tôm giống đều
đợc chuyển từ miền Trung ra hoặc nhập từ Trung Quốc về. Mật độ thả tôm giống
cũng tăng lên nhanh chóng. Những hộ nuôi năm trớc thắng lợi đã mạnh dạn thả tới
20 con /m2, thậm chí tới 25-30 con/m2. Nhiều hộ cha có kinh nghiệm nuôi , thấy
tra đánh giá toàn diện về hiệu quả kinh tế của các mô hình nuôi tôm sú thơng phẩm
ở Khánh Hoà ,đợc thực hiện qua 134 phiếu điều tra các hộ nuôi tôm ở Nha trang ,
Ninh hoà ,Vạn Ninh và Cam Ranh về các chỉ tiêu : diện tích ,số vụ nuôi ,hình
thức nuôi ,năng suất ,sản lợng ...Thông qua các số liệu điều tra nhận thấy có một
số vấn đề sau :
Bảng1: Mức đầu t và hiệu quả sản xuất của các hộ nuôi tôm sú
thơng phẩm Khánh Hoà -1999
Chỉ tiêu Đơn vị Tổng số Quảng
canh tiên
tiến
Bán thâm
canh
Thâm canh
Diện tích ha 117.99 42.6 56.3 19.09
SS Số ao cái 216 56 119 41
Số vụ vụ 360 89 221 50
Tổng sản l-
ợng
kg 222250 19570 122990 79690
Tổng thu triệu đồng 22030.1 1732.5 11510.8 8786.8
-9-
Website: Email : Tel : 0918.775.368
Tổng chi triệu đồng 12617.4 1146 7004.9 4466.5
Chi vật chất
và dịch vụ triệu đồng 11485.7 1013.3 6353.2 4119.2
Chi lao động triệu đồng 834.1 96.7 488.6 248.8
Chi khác - 297.6 36 163.1 98.5
Từ số liệu đó,tính đợc doanh thu ,chi phí sản xuất, lợi nhuận ..bình quân cho
một ha ao nuôi nh bảng sau:
nhau thì cơ cấu chi phí sản xuất trên 1 ha ao nuôi tôm sú thơng phẩm ở Khánh Hoà
-1999:
-11-
Website: Email : Tel : 0918.775.368
Bảng3 : Cơ cấu chi phí sản xuất trên 1 ha ao nuôi tôm sú
thơng phẩm ở Khánh Hoà -1999:
Chỉ tiêu quảng canh cải
tiến
bán thâm canh thâm canh
số tiền
triệu
đồng
tỉ trọng
%
số tiền
triệu
đồng
tỉ trọng
%
số tiền
triệu
đồng
Tỉ trọng
%
-Chi vận chuyển
và dịch vụ
23.78 88.4 112.84 90.7 215.78 92.2
-Giống
5.03 18.7 12.40 10 16.01 6.8
Thức ăn 12.39 46.1 68.12 54.8 128.59 55