ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRUNG TÂM NGHIÊN CỨU TÀI NGUYÊN VÀ MÔI TRƯỜNG
----------------------------------------------
KHÓA BỒI DƯỠNG SAU ĐẠI HỌC
Tiếp cận sinh thái học trong quản lý tài nguyên thiên nhiên và
phát triển bền vững
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP
TÊN ĐỀ TÀI
Tìm hiểu tiềm năng, thực trạng hoạt động và đề xuất giải pháp phát triển du
lịch sinh thái ở Vườn quốc gia Cát Bà – Thành Phố Hải Phòng.
Giáo viên hướng dẫn: TS. Võ Thanh Sơn
Những người thực hiện:
Phạm Văn Thương
Từ Quang Tuyến
Vũ Ngọc Hiếu
Khương Hữu Thắng
Phạm Xuân Thành
Nguyễn Hoàng Minh Hải
Hà Nội, 1 – 2010
1
MỤC LỤC
LỜI CẢM ƠN...................................................................................................................................3
CÁC CHỮ VIẾT TẮT.....................................................................................................................4
LỜI MỞ ĐẦU..................................................................................................................................5
1. Đặt vấn đề.................................................................................................................................5
2. Mục tiêu nghiên cứu.................................................................................................................6
3. Nội dung nghiên cứu................................................................................................................6
CHƯƠNG 1- TỔNG QUAN............................................................................................................8
1. Khái niệm về du lịch sinh thái..................................................................................................8
2. Những nguyên tắc cơ bản của du lịch sinh thái.......................................................................9
PHỤ LỤC.......................................................................................................................................57
2
LỜI CẢM ƠN
Xin trân trọng cảm ơn Trung tâm Nghiên cứu Tài nguyên và Môi trường - Đại học
Quốc gia Hà Nội đã tổ chức lớp học bổ ích về lý luận và thực tiễn trong lĩnh vực quản lý
tài nguyên và môi trường, tạo điều kiện thuận lợi để nhóm thực hiện nghiên cứu này
trong khuôn khổ chương trình khóa đào tạo sau đại học với chủ đề “Tiếp cận sinh thái
học trong quản lý tài nguyên thiên nhiên và phát triển bền vững”.
Trong quá trình thực hiện nghiên cứu này, chúng tôi nhận được sự quan tâm giúp đỡ,
cung cấp số liệu của Ban lãnh đạo, cán bộ nhân viên các Vườn Cát Bà và cán bộ Uỷ ban
nhân dân huyện Cát Hải, Ban quản lý khu dự trữ sinh quyển thế giới quần đảo Cát Bà và
nhân dân các xã vùng đệm tại các vùng triển khai nghiên cứu.
Xin trân trọng cảm ơn các Giảng viên đã nhiệt tình giảng dạy, truyền đạt những kiến
thức, kinh nghiệm quý báu giúp cho nhóm có thêm nhiều kinh nghiệm và kiến thức để
thực hiện nghiên cứu và phục vụ cho công tác sau này.
Đặc biệt xin trân trọng cảm ơn và bày tỏ lòng biết ơn TS. Võ Thanh Sơn đã nhiệt tình
giúp đỡ, hướng dẫn và chỉnh sửa những thiếu sót, giúp cho nhóm hoàn thành nghiên cứu
này theo đúng thời gian và nội dung chương trình đề ra.
Xin trân trọng cảm ơn!
Nhóm nghiên cứu
3
CÁC CHỮ VIẾT TẮT
KDTSQ Khu dự trữ sinh quyển
DLST Du lịch sinh thái
BTTN Bảo tồn Thiên nhiên
BVNN Bảo vệ nghiêm ngặt
DVHC Dịch vụ hành chính
ĐDSH Đa dạng Sinh học
ĐTV Động, thực vật
Tuy vậy, từ sự phát triển mạnh mẽ và nhu cầu tăng cao đối với du lịch sinh thái ở
Việt Nam trong những năm gần đây thì các khu du lịch sinh thái, khu bảo tồn ở Việt
Nam đang đối mặt với nhiều nguy cơ tiềm ẩn từ sự thiếu ý thức tham gia của khách tham
quan trong việc bảo tồn những giá trị vốn có của nó và phát triển, và sự yếu kém trong
công tác bảo tồn, bảo vệ tài nguyên thiên… Chính sự phát triển ấy, du lịch sinh tái đang
tiềm ẩn nhiều nguy cơ và những thách thức về vấn đề môi trường – xã hội. Rõ ràng, việc
xây dựng và phát triển du lịch sinh thái ở nước ta hiện nay đang có nhiều tồn tại và bất
cập cần giải quyết để hướng tới sự phát triển bền vững ngành du lịch của Việt Nam như:
hình thức hoạt động du lịch không đúng mục đích; sử dụng tài nguyên một cách lãng
phí; công tác quản lý yếu kém; nhận thức của khách tham gia về “du lịch sinh thái” còn
mơ hồ…Dẫn đến việc xây dựng và phát triển du lịch sinh thái ở nước ta kém hiệu quả về
kinh tế, thiệt hại về môi trường. Nếu trong những năm tới, ngành du lịch không có
những biện pháp hiệu quả trong công tác bảo tồn, xây dựng các khu du lịch thì những giá
5
trị của chúng có thể sẽ biến mất vĩnh viễn, gây thiệt hại lớn đối với không chỉ riêng Việt
Nam mà cả thể giới.
Bên cạnh đó, có một thực trạng rằng các khu Bảo tồn và Vườn quốc gia đang thực
hiện xây dựng và phát triển nhiều loại hình du lịch sinh thái, với mục đích chính bảo tồn
ĐDSH và phát triển môi trường sinh thái, đồng thời tạo sinh kế bền vững cho người dân
địa phương. Song công tác phát triển du lịch sinh thái ở đây chưa mang lại hiệu quả cao,
chỉ mang tính hình thức, do chưa đánh giá đúng thực trạng tiềm năng khu vực, nhu cầu
của người dân địa phương cũng như nhu cầu khách tham gia.
VQG Cát Bà là nơi có giàu tiềm năng về biển và rừng có thể phát triển thành trung
tâm du lịch của cả nước. Tuy nhiên, tiềm năng này chưa được khai thác đúng mức, việc
tổ chức các hoạt động du lịch chưa được đồng bộ, nguồn nhân lực và tài chính còn hạn
chế, cơ sở vật chất chưa đáp ứng được nhu cầu của khách tham quan. Đây chính là
những nguyên nhân chính khiến VQG Cát Bà chưa phát huy được tiềm năng vốn có.
Để góp phần phát triển du lịch sinh thái của các Vườn quốc gia đem lại hiệu quả cho
kinh tế - xã hội địa phương và thực hiện tốt công tác tuyên truyền, bảo tồn ĐDSH tại khu
vực, việc “Tìm hiểu tiềm năng, thực trạng hoạt động và giải pháp phát triển du lịch
nhiều trong các chương trình giảng dạy kinh tế Fulbright của Đại học Harvard bởi vì ông
được cho là đã đặt ra thuật ngữ du lịch sinh thái (Brian P.Irwin, 2001). Khái niệm du
lịch sinh thái đã có bước tiến triển mạnh mẽ khi các nhà bảo vệ môi trường và các nhà
kinh tế học phát triển bắt đầu lo ngại về việc sử dụng không thích hợp các tài
nguyên thiên nhiên vào cuối thập niên 1960. Ceballos-Lascuráin định nghĩa khái
niệm này như sau: du lịch sinh thái là “du lịch mà chủ yếu là đi đến những vùng thiên
nhiên tương đối chưa ai đụng tới hay chưa bị ô nhiễm với mục đích cụ thể là nghiên
cứu, ngưỡng mộ, và thưởng thức phong cảnh cùng với các loại thực vật và động vật
hoang dã của nó, cũng như bất cứ biểu hiện về văn hóa nào (cả quá khứ lẫn hiện tại)
được tìm thấy trong các vùng này…”. Điểm chính yếu là người đi du lịch sinh thái có cơ
hội đắm mình vào thiên nhiên theo một cách thức thường không có sẵn trong môi trường
đô thị. Định nghĩa này bao gồm du lịch “văn hóa” lẫn du lịch “thiên nhiên”. Các định
nghĩa khác các nhà bình luận khác đã định nghĩa ngành du lịch này hơi khác. Hầu hết mô
tả các hoạt động du lịch được tiến hành hài hòa với thiên nhiên, tương phản với du lịch
"đại chúng" truyền thống. Những người khác tập trung vào những lợi ích cho người bản
địa. Sau đây là vài ví dụ về khái niệm du lịch sinh thái được Chương trình Giảng dạy
Kinh tế Fulbright Niên khóa 2007-2008 tổng hợp như sau:
a/ Du lịch sinh thái là một cuộc du lịch có trách nhiệm đến những vùng thiên nhiên
mà bảo tồn môi trường và duy trì bền vững phúc lợi của nhân dân địa phương;
b/ Du lịch sinh thái là một trải nghiệm du lịch thiên nhiên mang lại thông tin bổ ích
mà góp phần vào việc bảo tồn hệ thống sinh thái, trong khi đó tôn trọng tình trạng
nguyên vẹn của các cộng đồng chủ nhà;
c/ Du lịch sinh thái là đi du lịch đến những vùng hoang sơ, dễ bị hư hại và thường
được bảo vệ mà cố gắng gây ra tác động rất thấp và (thường) có qui mô nhỏ. Nó giúp
giáo dục người đi du lịch; cung cấp nguồn quỹ cho việc bảo tồn; trực tiếp làm lợi cho
8
việc phát triển kinh tế và việc trao quyền về chính trị của các cộng đồng địa phương; và
thúc đẩy sự tôn trọng đối với các nền văn hóa khác nhau và các quyền của con người
Như vậy ta có thể hiểu “Du lịch sinh thái” là chuyến đi đến với thiên nhiên, hòa mình
vào thiên nhiên để tìm hiểu thiên nhiên. Đồng thời không gây hại cho thiên nhiên và đem
Báo cáo hội thảo xây dựng chiến lược quốc gia về phát triển du lịch sinh thái ở Việt
Nam do IUCN, VNAT và ESCAP phối hợp tổ chức năm 1999 đã tổng kết ra những
nguyên tắc cơ bản của du lịch sinh thái để có thể tổ chức được các hoạt động du lịch sinh
thái cần phải có các yêu cầu sau (Phạm Trung Lương, 1999):
- Có hệ sinh thái tự nhiên điển hình với tính đa dạng sinh thái cao, các hệ sinh thái
này tập trung chủ yếu tại các Vườn quốc gia, khu bảo tồn thiên nhiên, khu dự trữ sinh
quyển, các trang trại lớn các vùng nông thôn có hệ sinh thái điển hình.
- Có sự tổ chức, quản lý chặt chẽ, tôn trọng các nguyên tắc phát triển du lịch sinh
thái. Các nhà quản lý các khu bảo tồn thiên nhiên và cộng đồng địa phương phải góp
phần tích cực vào sự bảo vệ một cách lâu dài các giá trị tự nhiên và văn hoá khu vực, tạo
việc làm cải thiện đời sống cộng đồng địa phương.
- Nhằm hạn chế tác động tiêu cực của hoạt động du lịch sinh thái đến tự nhiên và môi
trường, theo đó du lịch sinh thái phải được tổ chức có sự tuân thủ chặt chẽ các quy định
về “ sức chứa” của từng khu vực. “sức chứa” được hiểu theo 4 khía cạnh: vật lý, sinh
học, tâm lý và xã hội.
10
CHƯƠNG 2 - ĐỊA ĐIỂM, THỜI GIAN, PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
1. Địa điểm nghiên cứu
Đề tài nghiên cứu được tiến hành tại Vườn quốc gia Cát Bà - Huyện Cát Hải - Thành
phố Hải Phòng.
11
VQG CÁT BÀ
2. Thời gian nghiên cứu
Nghiên cứu được tiến hành từ ngày 24/12/2009 đến ngày 31/01/2010, trong đó:
- Công tác chuẩn bị diễn ra trong khoảng thời gian từ 24 – 28/12/2009.
- Tổ chức nghiên cứu thực địa, thu thập số liệu tại Cát Bà Từ ngày 29/12/2009 –
10/01/2010.
- Tổng hợp phân tích số liệu điều tra, so sánh kế hoạch từ ngày 10-16/01/2010.
- Viết báo cáo từ ngày 16/01/2010 – 25/01/2010.
3. Phương pháp nghiên cứu
yếu, cơ hội và thách thức đối với việc phát triển du lịch sinh thái tại VQG Cát Bà. Thông
qua việc phân tích sơ đồ SWOT, những nguyên nhân dân đến những điểm yếu, thách
thức đối với việc phát triển hoạt động du lịch tại VQG Cát Bà sẽ được nhân diện để từ
đó có định hướng khắc phục và phát huy những cơ hội, điểm mạnh của vườn.
SƠ ĐỒ SWOT
Điểm mạnh (S) Điểm yếu (W)
Thể hiện những thuận lợi, ưu thế của
VQG Cát Bà trong việc phục vụ hoạt
động DLST
Hạn chế liên quan đến cơ sở hạ tầng,
công tác tổ chức DLST của VQG Cát Bà
Cơ hội (O) Thách thức (T)
Nêu lên được những điều kiện thuận lợi
để VQG Cát Bà có thể phát huy được
DLST
- Dự báo những tác động xấu đến du
lịch, cảnh quan, môi trường, tài nguyên
thiên nhiên
13
CHƯƠNG 3 - KẾT QUẢ THẢO LUẬN
1. Khái quát điều kiện tự nhiên, kinh tế và xã hội tại Vườn quốc gia Cát Bà
1.1. Vị trí địa lý Vườn quốc gia Cát Bà
VQG Cát Bà là hòn đảo lớn nhất của quần đảo, nằm trong khoảng toạ độ địa lý từ
20044’ - 20052’ vĩ độ Bắc và từ 106059’- 107006’ kinh độ Đông.
Theo quyết định số 79/CP, ngày 31/3/1986 của Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng (nay là
Thủ tướng Chính phủ) về việc thành lập Vườn Quốc gia Cát Bà, VQG có diện tích tự
nhiên là 15.200 ha, thuộc địa phận hành chính của các xã sau: xã Gia Luận, xã Phù
Long, xã Hiền Hào, xã Xuân Đám, xã Trân Châu, xã Việt Hải và thị trấn Cát Bà, bao bọc
xung quanh các xã trên và VQG là sông, biển:
+ Phía Đông và Đông Bắc giáp vịnh Hạ Long được ngăn cách bởi lạch Ngăn và lạch
tháng 6, 7 và tháng 11, 12, còn nhỏ hơn vào các tháng 3, 4 và tháng 8, 9. Sóng vùng Cát
Bà thường nhỏ, chủ yếu theo hướng Đông Bắc và Đông Nam, trung bình 0,5 - 1m, lớn
nhất có thể đạt tới 2,8m. Dòng chảy vùng đảo Cát Bà khá phức tạp, tốc độ trung bình 8 -
12 cm/s và có thể đến 50 cm/s ở các lạch hẹp. Chịu ảnh hưởng của dòng chảy mùa, nên
có độ đục cao vào mùa hè do dòng nước đục từ Đồ Sơn lên (hướng Tây Nam). Vùng ven
bờ Cát Hải dòng triều lên đến Gia Lộc rẽ thành 2 nhánh bao gồm nhánh chảy về bến Gót
ở bên phải và nhánh chảy về Hoàng Châu về bên trái với tốc độ cực đại 90cm/s và dòng
triều xuống có hướng ngược lại.
Nhìn chung, điều kiện tự nhiên, địa hình, địa mạo, khí tượng thủy văn thuận lợi cho
việc phát triển kinh tế và dịch vụ du lịch của Quần đảo Cát Bà. Trong tương lai đảo Cát
Bà và vịnh Hạ Long có thể trở thành vùng kinh tế - du lịch và môi trường phát triển
mạnh nhất, có tầm cỡ quốc gia và quốc tế.
1.3. Kinh tế - xã hội
Theo số liệu của phòng thống kế huyện Cát Hải (năm 2009) cho thấy, phần lớn cư
dân đều sinh sống trong và quanh vùng đệm, hoặc còn một số ít sống trong vùng lõi
VQG. Tổng dân số vùng đệm lên tới 16.645 người, tổng số lao động trong các ngành
kinh tế có 7.695 người (thông tin chi tiết tại Phụ lục 1)
Bên cạnh đó, Hải Phòng có lợi thế là đô thị lớn thứ ba của cả nước, trong đó có Vườn
quốc gia Cát bà là một phần của Khu Dự trữ Sinh quyển Cát Bà nên cơ sở hạ tầng, giao
thông, cũng như các dịch vụ y tế, giáo dục... được Trung ương cũng như chính quyền địa
phương dành sự quan tâm, đầu tư rất lớn. Đặc biệt là cơ sở hạ tầng và giao thông luôn
được đầu tư phát triển, hầu hết các xã đều được xây dựng đường giao thông thuận lợi.
Mặt khác, các xã trong vùng đệm VQG Cát Bà có các khu văn phòng đạt tiêu chuẩn,
nhiều nhà hàng đặc sản đạt chất lượng cao, khu du lịch và các khu dân cư luôn sẵn sàng
đón tiếp các nhà đầu tư và khách du lịch trong và ngoài nước. Cơ sở y tế, hệ thống các
15
trường học được phân bố ở tất cả các thôn, xã, công tác chăm sóc sức khoẻ cộng đồng,
chất lượng dạy và học luôn được lãnh đạo thị trấn Cát Bà quan tâm đúng mức. Với trình
độ dân trí tương đối cao nên việc tiếp thu, áp dụng khoa học kỹ thuật cũng như nhận
thức của người dân đối với công tác bảo tồn TNTN và ĐDSH nhằm phục vụ cho hoạt
16
thiên nhiên hùng vĩ, tuyệt đẹp, đây di sản thiên nhiên thế giới được tổ chức UNESCO
công nhận, đến vịnh Lan Hạ tuy nhỏ hơn nhưng có nhiều đảo đá vôi, xếp đan xen gần
nhau trông rất hùng vĩ. Nếu đi bằng đường bộ, xe ô tô từ Hải Phòng đến bến cảng Ðình
Vũ, theo tầu cao tốc sang bến Cát Hải rồi xuyên qua VQG Cát Bà bằng ô tô trên đường
dài 31 km (đường nhựa).
Đáng chú ý, VQG Cát Bà đã có hoạt động du lịch từ những năm 1990 sau đó đến năm 2009
được UBND thành phố Hải Phòng cho phép thành lập Trung tâm dịch vụ DLST trực thuộc
VQG Cát Bà. Từ đó, Trung tâm đã lập nên bộ phận chuyên trách về tổ chức hoạt động động
DLST, nên việc đón tiếp, hướng dẫn, tổ chức tour trong vườn có phần được cải thiện. Trong
những năm qua, Vườn thu hút ngày càng nhiều khách du lịch trong nước cũng như quốc tế.
2.2. Tài nguyên động, thực vật rừng, biển
Vườn quốc gia Cát Bà là nơi hội tụ nhiều HST khác nhau gồm: HST rừng ngập mặn,
HST rừng trên núi đá vôi, HST biển với các rạn san hô,… Có một hệ động, thực vật đa
dạng, gồm 2.320 loài, trong đó có 282 loài động vật sống trong rừng, 538 loài động vật
sống ở đáy biển, 196 loài cá biển, 771 loài thực vật trên cạn, 23 loài thực vật ngập mặn,
75 loài rong biển, 177 loài san hô...
HST rừng núi đá vôi
HST rừng ngập mặn HST rừng ngập nước trên núi
đá vôi
Hệ động vật có 20 loài thú, 69 loài chim, 20 loài bò sát và lưỡng cư. Đặc biệt có loài
thú mà không có nơi nào có được là voọc đầu trắng (Vọoc Cát Bà) và một số loài khác
được ghi trong Sách đỏ như: Khỉ lông vàng, sơn dương và nhiều loài chim đẹp như cao
cát, bói cá, hút mật, đầu rìu. Ở Cát Bà cũng có chim yến và rùa biển được chăm sóc bảo
tồn. Hệ thực vật có 1561 loài thuộc 495 chi, 149 họ, trong đó có 250 loài cây thuốc.
Nhiều loài cây quý hiếm cần bảo tồn như chò chỉ, trai lý, lát hoa, kim giao và cọ Bắc
Sơn. Đặc biệt là, đảo có hệ sinh thái rừng ngập nước, trên núi đá vôi có cả ao, hồ, suối
ngầm, nước ngọt cùng suối nước khoáng có cả khả năng chữa trị bệnh, nhất là thấp
khớp.
17
lưỡng cư thuộc 5 họ, 1 bộ (Danh lục xem phụ lục). Với tổng số 279 loài động vật có
xương sống ở cạn, trong đó có 22 loài ghi trong sách đỏ Việt Nam và 7 loài ghi trong
danh lục đỏ thế giới (phụ lục 4).
18
Do vị trí địa lí của VQG cách ly với đất liền là nguyên nhân cơ bản đã hạn chế sự du
nhập của các loài thú, chim, bò sát, ếch nhái. Chính vì vậy, tài nguyên động vật rừng ở
VQG không được giàu về thành phần loài nhưng có ý nghĩa về mặt bảo tồn với những
đặc điểm riêng của hệ sinh thái hải đảo, đặc biệt là sự có mặt của loài Voọc Cát bà - loài
đặc hữu của Việt Nam, hiện chúng đang bị đe doạ tuyệt chủng ở cấp rất nghiêm trọng
(Critical).
Trong tổng số 53 loài thú đã ghi nhận cho Cát Bà, thì trong đó có 9 loài ghi trong
Sách đỏ Việt Nam (2000) chiếm 17%, 6 loài ghi trong danh lục đỏ thế giới (2004) chiếm
11,3% và 11 loài nằm trong nghị định 18 chiếm 20,8% tổng số loài, là những loài hiện
đang bị đe doạ cần được ưu tiên bảo tồn, trong đó đặc biệt quan trọng là loài Voọc Cát
bà.
Voọc Cát Bà hiện nay chỉ còn lại duy nhất trên đảo Cát Bà - phía Đông Bắc Việt
Nam. Trong danh mục sách đỏ IUCN năm 2008 xếp loài này ở mức độ cực kì nghiêm
trọng (CR) và sách đỏ Việt Nam 2007 xếp loài này vào mức độ nguy cấp (E), Số lượng
Voọc Cát bà: Theo báo cáo gần đây nhất của Dự án Bảo tồn Voọc Cát Bà thuộc Hội
Động vật Bảo tồn Loài và Quần thể: ước tính nhiều nhất là 63 cá thể, sống tách biệt nhau
ở 7 vùng, Hiện tại đã có 13 cá thể được sinh ra từ năm 2000-2005 và số lượng đang
được dần dần ổn định.
Voọc Cát Bà (Trachypithecus poliocephalus)
19
b. Động thực vật biển
Vùng biển Cát Bà còn là nơi tập trung của nhiều loài sinh vật biển. Do nước biển tương
đối mặn, đáy biển là cát, pha cát, bùn nhẹ là môi trường thuận lợi cho nhiều loài hải sản sinh
trưởng và phát triển. Theo kết quả điều tra về thuỷ sản và tài liệu tham khảo của Viện Hải
Dương Học (nay là Viện Tài nguyên &Môi trường biển) tại Hải Phòng cho biết hiện nay sinh
vật biển khu vực đảo Cát Bà đã xác định được:
Bà. Rừng ngập mặn phân bố chủ yếu tại phía Tây Bắc đảo, với bãi sú vẹt tự nhiên lớn
nhất Hải Phòng. Các loài cây phổ biến nơi đây: đước xanh (Rhizophora mucronata), vẹt
dù (Bruguiera gymnorrhiza). Độ cao của thảm thực vật ngập mặn từ 2 - 3 m, mật độ lớn
và sức sống tốt. Rừng ngập mặn là nơi cư trú tốt của các loài động vật thủy sinh như: cá,
tôm, các loài nhuyễn thể động vật hai mảnh như: trai, ốc, vẹm; động vật chân đốt. Đặc
biệt, đây còn là nơi ở của các loài chim nước, chim di cư từ phía Bắc như: sâm cầm
(Centropus sinensis Stephen), cốc đế (Phalacrocorax carbo), cuốc (Macropygia
unchall), vịt trời (Anas poecilorhyncha haringtoni)…
21
Vịnh Lan Hạ
Ngoài đảo chính, quần đảo Cát Bà còn có 366 đảo nhỏ như đảo Đầu Bê, đảo Cát
Dứa, đảo Bù Lâu, hòn Ghềnh Hang, hòn Đá Lẻ, hòn Xả Lan, hòn Guốc Tiên. Nhiều đảo
có hình dạng kỳ dị, bờ dảo có nhiều mũi nhô, cung lõm và nhiều bờ vách dốc đứng, chân
có ngấn ăn mòn tạo cảm giác kỳ bí, thích thú. Đa số các đảo có thềm san hô viền quanh
và trên đảo có hồ nước mặn, đây là một tiềm năng còn nhiều tiềm ẩn chưa được khám
phá.
Thị trấn Cát Bà
Bải tắm Cát Cò 3
Hang Trung Trang
Hang Quân Y
Cát Bà có nhiều bãi tắm đặc trưng là sự kín đáo, yên bình. Theo nhận xét của đa số
khách du lịch trong nước và quốc tế được phỏng vấn cho biết, hai bãi tắm lý tưởng nhất
là Cát Cò và Cát Dứa - chỉ cách nhau một eo núi nhỏ. Nước biển ở đây thật ấm áp, trong
xanh nhìn rõ cát vàng dưới đáy. Một số ngư dân được phỏng vấn đã hé lộ rằng ngoài
22
khơi ở những đảo nhỏ có những bãi tắm thơ mộng và kín đáo như: Cát Trai Gái, Hiền
Hòa, Dương Gianh... Để đến được những đảo kể trên, đặc biệt là đảo Năm Cát thì khách
du lịch có thể đi bằng tàu hoặc đò chỉ mất 20-30 phút với 20.000 đồng/người. Những
người có thâm niên làm du lịch trong vùng cho biết xưa kia sau khi tắm biển du khách
còn có cơ hội khám phá những hang ngầm xuyên qua núi ở bãi tắm Cát Cò. Hang Luồn,
Đi xe đạp đôi xung quanh đảo
Ðêm đến không gian Cát Bà thật bao la, hùng vĩ, đẹp đến sững sờ. Ngủ đêm ở đây là
một thích thú tuyệt vời, không khí mát dịu, những làn gió nhẹ mang hơi mặn của biển
lùa vào rừng cây trên núi đá tạo một âm thanh rì rào, như ru khách vào trong giấc ngủ
êm đềm.
Ông Marter Roode một khách du lịch đến từ vương quốc Anh cho biết “Tôi đến đây
lần đầu tiên, nhưng cũng kịp nhận thấy cảnh quan thiên nhiên là giá trị lớn nhất của
Cát Bà và giá trị ấy vẫn giữ được gần như nguyên vẹn. Tiếc rằng, chúng tôi chưa thể đi
hết Khu dự trữ sinh quyển thế giới này để được nhìn thấy Voọc. Chúng tôi sẽ quay trở
lại để có thể khám phá những điều thú vị khác của thiên nhiên nơi đây”.
2.5. Văn hoá lịch sử, lễ hội truyền thống
Trước đây, vùng đảo núi đá (Cát Bà) từng là hậu
cứ của các bà trồng tỉa, hái lượm, cung cấp lương
thực thực phẩm cho các ông ở phía trước chống lại
giặc giã, khi chúng tới đánh chiếm đảo. Cũng từ trận
chiến đấu này đã xuất hiện nhiều nữ tướng dũng cảm
nên người đời xưa đã đặt tên cho đảo này là đảo Các
Bà rồi sau này gọi lệch đi là đảo Cát Bà. Cũng từ tên gọi truyền thống này mà từ đó đến
nay phụ nữ trên đảo luôn phát huy vai trò trong công cuộc xây dựng, bảo vệ huyện đảo.
Những tên gọi cát Phù Long, núi Đầu Voi, sông Phượng... mỗi địa danh là một sự tích
hào hùng. Người huyện đảo không thể không tự hào về truyền thống của mình. Trên
mảnh đất của làng nghĩa Lộ ngày nay còn tồn tại một ngôi miếu thờ người phụ nữ đã
sinh ra người trai làng dũng cảm Hùng Sơn. Hùng Sơn là người đã có công tham gia
đánh giặc Ân đời vua Hùng thứ sáu. Truyền thuyết về người trai làng dũng cảm Hùng
24
Sơn như một nét nhạc hùng, âm vang tinh thần yêu nước của một người dân trên mảnh
đất này. Ngày nay người ta lấy tên của chàng trai này đặt tên cho một thôn của Xã Trân
Châu. Ngoài ra, trong thời gian kháng chiến chống thực dân Pháp, Hang Quân Y (tại
thôn Hải Sơn, xã Trân Châu) còn được dùng căn cứ cách mạng. Chính vì vậy, đến nay
còn nhiều vết tích có giá trị lịch sử đối với dân tộc nói chung và người dân địa phương