SO SÁNH HIỆU QUẢ LIỀU DUY NHẤT CỦA ITRACONAZOLE VÀ FLUCONAZOLE TRONG ĐIỀU TRỊ - Pdf 20

SO SÁNH HIỆU QUẢ LIỀU DUY NHẤT CỦA
ITRACONAZOLE VÀ FLUCONAZOLE TRONG ĐIỀU TRỊ BỆNH
LANG BEN TÓM TẮT
Đặt vấn đe: Bệnh lang ben do vi nấm ái mỡ Malassezia furfrur gây ra.
Đã có nhiều phương-pháp điều trị lang ben, nhưng tỉ lệ tái phát còn cao.
Mục tiêu nghiên cứu: để đánh giá hiệu qủa và độ an toàn của điều trị
liều duy nhất itraconazole (400 mg) and fluconazole (450 mg) trong điều trị
bệnh lang ben.
Phương pháp nghiên cứu: Đây là nghiên cứu mở. Bệnh nhân được
chia làm 2 nhóm.Triệu chứng lâm sàng, chiếu đèn Wood và xét nghiệm soi
tươi vi nấm được thực hiện trước điều trị và 1, 2, 3, 4, 6 tháng sau điều trị.
Kết quả: Có 72 bệnh nhân tham gia, trong đó có 5 người bỏ cuộc.
Nhóm 1: 33 bệnh nhân được điều trị bằng itraconazole, nhóm 2 : 34 bệnh
nhân điều trị bằng fluconazole. 72,73% bệnh nhân trong nhóm 1 và 73,53%
trong nhóm 2 có kết qủa chiếu đèn Wood và soi tươi với KOH âm tính sau 6
tháng điều trị. Tỉ lệ tái phát trong nhóm là 9,06% và nhóm 2 là 8,82%.
Kết luận: Điều trị liều duy nhất với itraconazole hoặc fluconazole đều
có hiệu qủa khá tốt. Không có tác dụng phụ nặng nào xảy ra.
ABSTRACT
Background: Pityriasis versicolor is a superficial infection of stratum
corneum by the lipophilic fungus Malassezia furfur. There were a lot of
methods of treat ment, but relapse rate of pityriasis versicolor are still high.
Objective: This study was designed to assess and compare the
efficacy, safety of single doses of itraconazole (400mg) and fluconazole
(450 mg) in the treatment of pityriasis versicolor in drug - addicts.
Method: The patients were divided into two groups in this open
study.Clinical sympotms and signs, mycologic examinations (potassium
hydroxide preparation) and Wood’s light were performed before treatment,

phí và an toàn cho người bệnh, đặc biệt có thể áp dụng cho người nghiện ma
túy có hoặc không nhiễm HIV.
ĐỐI TƯỢNG - PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng
Bệnh nhân lang ben đang lao động tại trung tâm cai nghiện Nhị Xuân.
Tiêu chuẩn chọn bệnh và tiêu chuẩn loại trừ
Tiêu chuẩn chọn bệnh:
Bệnh nhân từ 16 tuổi trở lên.
Chiếu đèn Wood dương tính.
Xét nghiệm cận lâm sàng: Soi tươi cho kết quả vi nấm dương tính.
Tiêu chuẩn loại trừ:
Trẻ em < 16 tuổi
Bệnh nhân mới điều trị nấm cách đây 6 tháng.
Bệnh nhân có tiền sử viêm gan hoặc đang bị viêm gan.
Bệnh nhân không hợp tác trong và sau điều trị
Phương pháp nghiên cứu
Thiết kế nghiên cứu
tThử nghiệm điều trị mở
Cách tiến hành
Khám và làm bệnh án đầy đủ tất cả các bệnh nhân theo mẫu
chung.Trong đó chú ý tính chất thương tổn như màu sắc, vẩy mịn, diện tích
thương tổn.Chụp hình thương tổn trước và sau điều trị. Chiếu đèn Wood, lấy
mẫu gửi soi tươi KOH 10%
Bệnh nhân được chia làm 2 nhóm
· Nhóm 1: Itraconazole
· Nhóm 2: Fluconazole
Đánh giá kết quả:
Bệnh nhân tái khám và đánh giá kết quả sau điều trị 1 tháng, 2 tháng,
3 tháng, 4 tháng và 6 tháng, dựa vào:Lâm sàng, xét nghiệm

từ 1- < 3 năm. Trong đó Nhóm 1 có 22 bệnh nhân, chiếm 66,67% và Nhóm
2 có 23 bệnh nhân, chiếm 67,65%.
Thời gian mắc bệnh lang ben
- Nhóm 1: Ngắn nhất: 0,5 tháng, lâu nhất: 84 tháng, trung bình: 8,7
tháng.Thường gặp: 3-12 tháng (59,3%).
- Nhóm 2: Ngắn nhất: 1 tháng,
lâu nhất: 120 tháng,
trung bình: 34,5 tháng.
Thường gặp: 3-12 tháng (61,76%).
Số lần mắc bệnh lang ben
Trên 50% các trường hợp là lang ben tái phát, trong đó:
- Nhóm 1: có 18 trường hợp, chiếm 55,55%
- Nhóm 2: có 18 trường hợp, chiếm 52,94%
Triệu chứng cơ năng
Ngứa nhẹ đến vừa nhất là lúc đổ mồ hôi, chiếm đa số:
- Nhóm 1: 32 trường hợp, chiếm 96,97%
- Nhóm 2: 31 trường hợp, chiếm 91,18%
Sang thương da
Vẩy mịn: 100% có vẩy mịn.
Dát chiếm 100% trường hợp.
- Nhóm 1: dát màu trắng 31 trường hợp,
màu nâu đen: 1 trường hợp
và màu hồng: 1 trường hợp.
- Nhóm 2: dát màu trắng 31 trường hợp,
màu nâu đen: 2 trường hợp
và màu hồng: 1 trường hợp
Vị trí
Thường gặp nhất ở ngực và lưng. Phân bố vị trí thương tổn ở 2 nhóm
như sau:
Bảng 1: Vị trí các sang thương da

25
73,52
Lưng

30
90,91
33
97,05
Bụng

3

9,09

2

5,88

Tay 9

27,27
2

5,88

Đùi 3

9,09

0

.
Thường gặp: 10-39 cm
2
(76,47%).
Chiếu đèn Wood trước điều trị:
Dương tính 100%.
Soi trực tiếp với KOH 10% trước điều trị
Dương tính 100%.
Hiệu quả điều trị
Lâm sàng
+ Triệu chứng cơ năng
Sau 6 tháng đa số hết triệu chứng ngứa khi ra mồ hôi hoặc khi lao
động ở môi trường nắng nóng (nhóm 1: 87,87%, nhóm 2:88,23%).
- Sang thương da
Bảng 2: Thay đổi sang thương da sau điều trị
Sau 1
tháng
Sau 2
tháng
Sau
3
tháng
Sau 4
tháng
Sau 6
tháng
Nhóm

Nhóm


N)
2
(
N)
1
(
N)
2
(
N)
H
2
2
2
2
2
2
2
2
2
2
ết 0 0 4 5 6 6 5 6 4 5
C
òn
1
3
1
4
9
9

o sánh
P=0,88

P=
0,94
P=0,82

P=0,95

P=0,94

- Tình trạng vẩy mịn
Bảng 3: Tình trạng vẩy mịn sau điều trị
Sau 1
tháng
Sau 2
tháng
Sau 3
tháng
Sau 4
tháng
Sau 6
tháng
Nhóm

Nhóm

Nhóm

Nhóm

1
(
N)
2
(
N)
Sau 1
tháng
Sau 2
tháng
Sau 3
tháng
Sau 4
tháng
Sau 6
tháng
Nhóm

Nhóm

Nhóm

Nhóm

Nhóm

V
ẩy mịn

1

ết
2
7
2
8
2
5
2
6
2
7
2
7
2
5
2
6
2
5
2
6
C
òn
6
6
8
8
6
7
8

Chiếu đèn Wood
Bảng 4: Kết quả chiếu đèn Wood
Sau 1
tháng
Sau 2
tháng
Sau 3
tháng
Sau 4
tháng
Sau 6
tháng
Nhóm
Nhóm

Nhóm

Nhóm

Nhóm

C
hiếu
đèn
W
ood
1
(
N)
2

2
8
2
5
2
6
2
5
2
6
2
4
2
6
2
4
2
5
D
ương
tính
6
6
8
8
8
8
9
8
9

Sau 1
tháng
Sau 2
tháng
Sau 3
tháng
Sau 4
tháng
Sau 6
tháng
Nhóm
Nhóm

Nhóm

Nhóm

Nhóm

S
oi tươi
với
KOH
1
(
N)
2
(
N)
1

5
2
6
2
5
2
6
2
5
2
6
2
4
2
5
D
ương
tính
6
6
8
8
8
8
8
8
9
9
T
ổng

6
P=0,9
4
Như vậy: Ở nhóm 1 có 3 ca tái phát, chiếm 9,06%.
Ở nhóm 2 có 3 ca tái phát, chiếm 8,82 %.
Tác dụng phụ
- Nhóm 1: không ghi nhận tác dụng phụ.
- Nhóm 2: 01 trường hợp buồn nôn, chiếm tỉ lệ 2, 94%.P > 0,05
BÀN LUẬN
Giới
Do tính chất của trung tâm cai nghiện hầu hết là nam nên 2 nhóm
nghiên cứu cùng có 100% số bệnh nhân là giới nam.
Về tuổi, nghề nghiệp, trình độ văn hoá, tình trạng nghiện ma túy, tình
trạng các bệnh da đi kèm, triệu chứng cơ năng, thời gian và số lần mắc bệnh
lang ben, sự khác biệt giữa hai nhóm không có ý nghĩa thống kê.
Điều trị lang ben trước đó
Đa số bệnh nhân tự điều trị, chiếm 66,67% trong nhóm 1 và 64,71%
trong nhóm 2. Không có sự khác biệt có ý nghĩa giữa hai nhóm (P=0,87).
Triệu chứng cơ năng
Ngứa là triệu chứng cơ năng duy nhất, chiếm đa số (96,97% trong
nhóm 1 và 91,18% trong nhóm 2, P= 0,63). Mức độ ngứa từ nhẹ đến vừa và
chủ yếu xảy ra khi đổ mồ hôi. Điều này cũng phù hợp do các bệnh nhân
thường xuyên lao động ngoài nắng hoặc trong môi trường nóng bức.
Sang thương da với 100% trường hợp là dát, trong đó màu trắng (giảm
sắc tố) chiếm đa số (93,94% trong nhóm 1 và 91,18% trong nhóm 2, P=0,94).
Và 100% trường hợp đều có vẩy mịn khi cạo sang thương. Điều này phù hợp
với y văn: sang thương da trong bệnh lang ben trong hầu hết các trường hợp là
dát giảm sắc tố hoặc màu nâu có vẩy mịn
(2,5,10)
.

Sau 1 tháng
Tỉ lệ hết triệu chứng cơ năng là 90,91% trong nhóm 1 và 88,24%
trong nhóm 2. Hết sang thương da trong 60,61% các trường hợp ở nhóm 1
và 58,82% ở nhóm 2. Hết vẩy mịn chiếm 81,82% trong nhóm 1 và 82,35%
trong nhóm 2. Chiếu đèn Wood và soi tươi âm tính trong 81,82% trường hợp
ở nhóm 1 và 82,35% ở nhóm 2. Sự khác biệt giữa 2 nhóm không có ý nghĩa
thống kê (P> 0,05). Chiếu đèn Wood phù hợp với kết quả soi tươi.
Dựa vào chiếu đèn Wood và soi tươi để kết luận khỏi bệnh, kết quả
sau 1 tháng của chúng tôi cũng phù hợp với Bhogal và cộng sự (4)
Sau 2 tháng
Tỉ lệ hết triệu chứng cơ năng là 84,85% trong nhóm 1 và 85,29%
trong nhóm 2. Hết sang thương da trong 72,73% các trường hợp ở nhóm 1
và 75,76% ở nhóm 2. Hết vẩy mịn chiếm 75,76% trong nhóm 1 và 76,47%
trong nhóm 2. Chiếu đèn Wood và soi tươi âm tính trong 75,76% trường hợp
ở nhóm 1 và 76,47% ở nhóm 2. Sự khác biệt giữa 2 nhóm không có ý nghĩa
thống kê (P>0,05). Chiếu đèn Wood phù hợp với kết quả soi tươi.
- Sau hai tháng điều trị có 2 trường hợp (6,06%) trong nhóm 1 và 2
trường hợp (5,88%) trong nhóm 2 tái phát với biểu hiện lâm sàng, đèn Wood
dương tính và cận lâm sàng dương tính.
Sau 3 tháng
Tỉ lệ hết triệu chứng cơ năng là 87,88% trong nhóm 1 và 88,24%
trong nhóm 2. Hết sang thương da trong 78,79% các trường hợp ở nhóm 1
và 76,47% ở nhóm 2. Hết vẩy mịn chiếm 81,82% trong nhóm 1 và 79,41%
trong nhóm 2. Chiếu đèn Wood và soi tươi âm tính trong 75,76% các trường
hợp ở nhóm 1 và 76,47% ở nhóm 2, như vậy có 2 trường hợp tái phát ở mỗi
nhóm. Sự khác biệt giữa 2 nhóm không có ý nghĩa thống kê (P>0,05).
Sau ba tháng tỉ lệ hết sang thương da và hết vẩy mịn tăng lên, nhưng kết
quả chiếu đèn Wood và soi với KOH vẫn không thay đổi so với sau hai tháng.
Chứng tỏ sự hồi phục sắc tố và hết vẩy không có giá trị đặc hiệu để đánh giá
kết quả điều trị.

.
Với điều trị liều duy nhất thì các thuốc thuộc nhóm triazole cho kết
quả tốt hơn, trong đó fluconazole thường cho tỉ lệ điều trị khỏi cao hơn. So
với điều trị dài ngày thì fluconazole hoặc itraconazole liều duy nhất cho kết
quả bằng hoặc kém hơn, tuy nhiên điều trị liều duy nhất có nhiều ưu điểm.
Có thể nêu lên một số những ưu điểm rõ ràng là điều trị liều duy nhất có giá
trị kinh tế hơn (thường trên 1,5 lần), tiết kiệm thời gian hơn, ít tác dụng phụ
hơn và bệnh nhân hợp tác tốt hơn.
Theo dõi các đặc điểm lâm sàng sau điều trị cho thấy những biểu hiện
cơ năng và vẩy mịn trên sang thương da không hoàn toàn phù hợp với kết
quả chiếu đèn Wood và soi tươi. Có một số trường hợp còn bệnh nhưng
không ngứa, trái lại một số bệnh nhân khác dù sang thương da sạch vẩy và
cạo tìm vi nấm âm tính nhưng vẫn ngứa khi nắng nóng hoặc khi đổ mồ hôi.
Một số trường hợp tuy hết vẩy mịn nhưng chiếu đèn Wood và cạo tìm vi
nấm vẫn dương tính. Duy chỉ có hết sang thương da là phù hợp với kết quả
với chiếu đèn Wood và soi tươi với KOH. Điều này cũng phù hợp với
nghiên cứu của các tác giả, trong đó nhấn mạnh việc sử dụng đèn Wood và
hoặc soi tươi với KOH như một phương pháp để chẩn đoán và theo dõi kết
quả điều trị lang ben
(1,2,4,7)
.
- So sánh về thời gian mắc bệnh giữa tỉ lệ khỏi bệnh và thất bại ở mỗi
nhóm, chúng tôi thấy có sự khác biệt có ý nghĩa giữa nhóm có thời gian mắc
bệnh dưới 24 tháng với nhóm có thời gian mắc bệnh từ 25 tháng trở lên (P<
0,05; OR= 2,06). Điều này có thể do thời gian mắc càng lâu vi nấm càng
thích nghi với môi trường và có sức đề kháng với điều trị.
- So sánh diện tích sang thương giữa tỉ lệ khỏi bệnh và thất bại ở mỗi
nhóm: chúng tôi thấy cũng có sự khác biệt giữa nhóm có diện tích < 30 cm
2


càng cao nếu càng có nhiều yếu tố trên
(7)
. Tái phát cũng phụ thuộc vào các
yếu tố khác như cơ địa tiết bã, nhiều mồ hôi, phụ thuộc vào loại điều trị (ví
dụ điều trị bằng thuốc bôi có tỉ lệ tái phát cao hơn điều trị toàn thân). Theo
Partap R và cs, tỉ lệ tái phát còn phụ thuộc vào sự hiện diện của M. furfur ở
vùng da quanh sang thương (perilesional skin)
(9)
.
Do tỉ lệ tái phát cao và thường gặp nên vấn đề điều trị phòng ngừa tái
phát rất quan trọng. Cả ketoconazole, itraconazole và fluconazole đều có nhiều
hứa hẹn trong việc điều trị phòng ngừa tái phát.
-Tác dụng phụ: Tác dụng phụ không đáng kể (2,94% trong nhóm 2)
và thường nhẹ và thoáng qua.Không có sự khác biệt có ý nghĩa thống kê
giữa 2 nhóm (P > 0,05). Chứng tỏ thuốc itraconazole và fluconazole với điều
trị liều duy nhất rất an toàn. Điều này cũng phù hợp với kết quả của nhiều
công trình nghiên cứu về itraconazole hoặc fluconazole liều duy nhất hoặc
điều trị ngắt quãng
(4,7)
.
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ
Qua điều trị lang ben liều duy nhất và theo dõi sáu tháng chúng tôi
đưa ra những kết luận và kiến nghị sau:
- Thuốc itraconazole và fluconazole đều có tác dụng khá tốt. Hiệu quả
điều trị của itraconazole (72,73% khỏi bệnh) tương đương với fluconazole
(73,53% khỏi bệnh). Với liều duy nhất, thuốc itraconazole và fluconazole
cho tác dụng phụ rất ít và thường là nhẹ, thoáng qua. Itraconazole cho tỉ lệ
tái phát tương đương với fluconazole
- Nguy cơ tái phát trong bệnh lang ben khá cao. Thời gian mắc bệnh
càng dài, diện tích sang thương càng lớn tỉ lệ tái phát càng cao.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status