GÂY TÊ KHOANG XƯƠNG CÙNG BẰNG
BUPIVACAINE VÀ FENTANYL
TÓM TẮT
Gây tê khoang xương cùng được sử dụng rộng rãi ở trẻ em để giảm
đau cho các cuộc phẫu thuật vùng dưới rốn. Nghiên cứu này nhằm tìm ra
một dung dịch thuốc tê có hiệu quả và an toàn nhất để sử dụng cho trẻ em.
Phương pháp: 158 bệnh nhi từ 1 tháng tuổi trở lên và có thể trọng
dưới 20 kg được chia ngẫu nhiên vào ba nhóm nghiên cứu. 59 trẻ ở nhóm
BF nhận 1ml/kg dung dịch bupivacaine 0,125% + Fentanyl 1ìg/kg; 46 trẻ
nhóm B-0,25 nhận 1ml/kg dung dịch bupivacaine 0,25% và 53 trẻ nhóm B-
0,125 nhận 1ml/kg dung dịch bupivacaine 0,125%. Xác định đau trong mổ
bằng cách theo dõi sự thay đổi về mạch, huyết áp, nhịp thở. Ghi nhận các tác
dụng phụ, tai biến, biến chứng.
Kết quả: Nhóm BF có hiệu quả giảm đau tương đương nhóm B-0,25
(98,3%). Nhóm B-0,125 chỉ đạt 75,5%. Sự khác biệt này có ý nghĩa thống kê
(P= 0,001). Chưa ghi nhận các tai biến, biến chứng trong cả ba nhóm.
Kết luận: Dung dịch bupivacaine 0,125% + Fentanyl 1µg/kg có hiệu
quả giảm đau tốt và an toàn trong GTKXC cho các phẫu thuật dưới rốn ở trẻ
em, đặt biệt là trẻ nhũ nhi.
ABSTRACT
Background: Caudal route is an efficient way of analgesia in
children. The caudal approach is easy and will cover surgery below the
umbilicus. The study is performed to look for the most effective and safe
anesthetic solution for caudal bloc in children.
Methods: 158 patients more than 1 month and body weight 20 kg or
less were randomized to receive three different anesthetic solutions. 59 pts
of BF group were received 1ml/kg of a solution of 0.125% bupivacaine with
1ìg/kg fentanyl; 46 pts of B-0.25 group were received 1ml/kg of a solution
of 0.25% bupivacaine and 53 pts of B-0.125 group were provided 0.125%
bupivacaine at a dose of 1ml/kg. Pain was determined by the changes of
- Được sự đồng ý của thân nhân bệnh nhi.
- Không có chống chỉ định của GTKXC và của thuốc tê
Bupivacaine
(7)
.
Phương pháp
- Phương pháp nghiên cứu: mô tả, tiền cứu, có đối chứng
- Cỡ mẫu: 158 bệnh nhi được chia vào ba nhóm
Nhóm BF: GTKXC bằng Bupivacaine 0,125% + Fentanyl 1mg/ kg.
Nhóm B-0,25: GTKXC bằng Bupivacaine 0,25% đơn thuần.
Nhóm B-0,125: GTKXC bằng Bupivacaine 0,125% đơn thuần.
Kỹ thuật tiến hành
Chuẩn bị bệnh nhi
- Bệnh nhi được thăm khám tiền mê thường quy, quan sát vùng da nơi
sẽ làm tê và khảo sát xương cùng trên lâm sàng.
- Đo HA, M, Nhịp thở, SpO
2
trước khi gây tê.
- Thiết lập đường truyền tĩnh mạch trước khi gây tê.
Kỹ thuật gây tê
Tiến hành GTKXC sau khi bệnh nhi được gây mê qua mặt nạ (mask)
hay qua nội khí quản. Đặt bệnh nhi nằm nghiêng, gập hông. GTKXC bằng
kim luồn 24G, đưa kim vào khe cùng hướng về mặt phẳng dọc một góc 40
o
–
60
o
so với mặt da. Khi kim qua dây chằng cùng cụt, có cảm giác hụt hẫng thì
hạ góc kim xuống so với mặt da còn 15
o
44
(37%)
36
(30,3%)
39
(32,7%)
119
(75,3%)
Nữ
15
(38,5%)
10(25,6%)
14
(35,9%)
30
(24,7%)
Tổng
cộng
59
(37,3%)
46
(29,1%)
53%
(33,5%)
158
(100%)
Nhận xét: Nam chiếm gấp 3 lần nữ trong tổng số bệnh nhi nghiên
cứu và trong mỗi nhóm. Sự khác biệt về giới tính ở ba nhóm nghiên cứu
không có ý nghĩa thống kê, P= 0,85.
95
(60,1%)
Nhóm
nghiên cứu
BF
B-
0,25
B-
0,125
T
ổng
cộng
Niệu
sinh dục
21
(44,7%)
9
(19,1%)
17
(36,2%)
47
(29,7%)
Ch
ỉnh
hình
8
0,25
Nhóm
B-0,125
T
ổng
cộng
Gây
mê qua m
ặt
nạ
6
(28,6%)
7 (33,3%)
8
(38,1%)
21
(13,3%)
Gây
mê n
ội khí
53
(38,7%)
39(28,5%)
45
(32,8%)
137
(86,7%)
quản
(98,3%)
45
(97,8%)
103
(98,1%)
Tổng
cộng
59
(100%)
46
(100%)
105
(100%)
OR = 0,78 ; Fischer test: P = 1 (> 0,05)
So sánh giữa nhóm BF và B-0,125.
Thêm
Fentanyl
Nhóm
BF
Nhóm
B-0,125
T
ổng
cộng
Có 1
(1,7%)
13
(24,5%)
14
(12,5%)
(24,5%)
14
(14,1%)
Không
45
(97,8%)
40
(75,5%)
85
(85,9%)
Tổng
cộng
46
(100%)
53
(100%)
99
(100%)
OR = 0,07 ; P = 0,001 (<0,05)
Các tai biến, biến chứng của GTKXC
Chưa ghi nhận các tai biến và phiền nạn cho cả ba nhóm nghiên cứu
như tụt huyết áp, suy hô hấp, biến chứng thần kinh, thủng màng cứng, thủng
xương cùng
BÀN LUẬN
Tuổi bệnh nhi
Tuổi bệnh nhi là một yếu tố cần quan tâm khi GTKXC vì những khác
biệt về giải phẫu học và sinh lý ở từng độ tuổi. Theo Busoni P
(1)
, Dalens B
nhân tỉnh nhanh, nhẹ nhàng, giảm sự cần tiết phải đặt nội khí quản trong
nhiều trường hợp, giảm thời gian nằm viện và vì thế giảm nguy cơ nhiễm
trùng bệnh viện.
Hiệu quả giảm đau của ba nhóm dung dịch gây tê trong nghiên
cứu
Fentanyl chỉ được sử dụng trong lúc phẫu thuật khi bệnh nhi có biểu
hiện đau (tăng mạch, huyết áp, nhịp thở trên 20% so với giá trị trước đó sau
khi đã loại trừ các tác nhân khác như thiếu thể tích tuần hoàn, thiếu máu,
tăng CO
2
, ). Vì thế, việc thêm Fentanyl trong lúc phẫu thuật đồng nghĩa với
đau trong lúc mổ.
Chúng tôi thấy rằng, việc thêm Fentanyl giữa nhóm BF và B-0,25
không có sự khác biệt có ý nghĩa thống kê, mỗi nhóm chỉ có một bệnh nhi
được thêm Fentanyl trong lúc mổ. Trong khi đó, nhóm B-0,125 thì có đến
13/53 trường hợp phải thêm Fentanyl trong lúc mổ.
Với kết quả trên, chúng tôi cho rằng việc chọn dung dịch thuốc tê
nhóm BF (Bupivacaine 0,125% + Fentanyl 1µg/kg) thay cho dung dịch
Bupivacaine 0,25% đơn thuần để GTKXC cho trẻ em là thích hợp nhất vì có
hiệu quả giảm đau tương đương nhưng lại an toàn hơn, ít gây tai biến và tác
dụng phụ hơn khi tiêm nhầm vào mạch máu, thủng màng cứng,
Tác dụng phụ - tai biến - biến chứng của GTKXC
Theo C.Ecoffey
(2)
, Mc Grow
(5)
, I. Murat
(6)
, ức chế giao cảm gây ra bởi
các thuốc tê qua đường quanh tủy sống không làm ảnh hưởng đến huyết