BƯỚU WILMS HAI BÊN THẬN
TÓM TẮT
Mục tiêu: Báo cáo trường hợp bướu wilms hai bên thận.
Phương pháp: nghiên cứu hàng lọat ca.
Kết quả: Đa số bướu Wilms’ trẻ em xảy ra ở một bên thận, chỉ
khoảng 5% bướu Wilms’ hai bên thận. Theo y văn, thời gian sống còn (2
năm) của bướu Wilms’ hai bên thận là 87%. Trong 5 năm (2000 – 2004)
chúng tôi không có trường hợp nào bướu Wilms hai bên thận. Năm 2006
chúng tôi tiếp nhận điều trị 2 ca Bướu Wilms’ 2 bên thận.
Kết luận: Bướu wilms hai bên thận là trường hợp rất hiếm gặp,
nhưng được xem là bệnh lý ác tính có khả năng chữa khỏi bằng điều trị kết
hợp đa mô thức: phẫu thuật, hóa trị và xạ trị.
ABSTRACT
CASE REPORT: BILATERAL WILMS’ TUMOR
Tran Chanh Khuong, Quach Vinh Phuc, Tran Tan Quang, Vo Thi
Phuong Mai,
Ngo Thi Thanh Thuy, Doan Minh Thong
* Y Hoc TP. Ho Chi Minh * Vol. 11 – Supplement of No 4 - 2007:
148 – 153
Objective: case report on bilateral wilm’s stumor.
Method: Case series stydy.
Results: Wilms’ tumor with early stage is considered as a curable
malignant disease with multi-modality therary. Almost Wilms’ tumors
happened unilaterally, only 5% of cases were bilateral. According to the
actual medical literature the 2-year survival rate is 87%. Within the 5 years
(2000- 2004), we did not have any bilateral Wilms’ tumor. In 2006, there are
2 cases at our Oncology Hospital.
Conclusion: Bilateral wilm’s stumor is very rare but considered as a
curoble malignant disease with multi-modality therary: surgical intervention,
chimotherapy and radiotherapy.
Hình ảnh học:
Siêu âm phát hiện u thận.
CT scan: u thận ít có hình ảnh canxi hóa
Các dị tật hệ niệu dục
Khoảng 4,4% gồm
Thận hình móng ngựa
Thận lạc chổ
Tinh hoàn ẩn
Lổ tiểu đóng thấp
Yếu tố di truyền
Tính chất gia đình: 1,1%
Hội chứng di truyền: tật không móng mắt liên quan đến nất đọan
nhiễm sắc thể số 11 nhánh ngắn 33% xuất hiện bướu Wilms, tật phì đại nữa
thân 2,4% xuất hiện bướu Wilms
Giải phẫu bệnh
Bướu Wilms được chia 2 nhóm mô học có ý nghĩa trong chiến lược
điều trị, tiên lượng tái phát và sống còn.
Bướu Wilms mô học thuận lợi. (favorable histology), chiếm 90%
Bướu wilms mô học không thuận lợi (Anaplastic histology), chiếm #
10%.
Giai đoạn bệnh
Dựa vào hình ảnh, tường trình phẫu thuật và loại mô học
(3)
.
Giai đoạn I (43% bệnh nhân) với tiêu chuẩn
Bướu giới hạn ở thận và được cắt hoàn toàn
Vỏ bao thận còn nguyên vẹn
Không vở bướu hay sinh thiết trước khi phẫu thuật lấy bướu
Không liên quan đến mạch máu xoang thận
Không có bằng chứng còn sót bướu bờ diện cắt.
(4)
.
Kết quả sống còn không tái phát 4 năm 94%, sống còn toàn bộ 4 năm
98%
Loại mô học không thuận lợi:
Loại thoái sản khu trú:cắt toàn bộ thận mang bướu hạch liên quan, xạ
trị toàn bộ ổ bụng, hoá trị vớ vincristin, doxorubicin, dactinomycin trong 24
tuần.
Loại thoái sản lan tỏa:: cắt toàn bộ thận mang bướu hạch liên quan, xạ
trị toàn bộ ổ bụng, hoá trị vớ vincristin, doxorubicin, etoposide,
cyclophophamide trong 24 tuần, tỉ lệ sống toàn bộ 4 năm 70%.(4)
Giai đoạn III
Loại mô học thuận lợi: cắt toàn bộ thận mang bướu và hạch liên quan,
+ Xạ trị toàn bộ ổ bụng (10,8 Gy)
+ Hoá trị với vincristin, doxorubicin, dactinomycin (regimen DD_4A)
trong 24 tuần
(4)
.
Kết quả sống còn không tái phát 4 năm 90%, sống còn toàn bộ 4 năm
95%
Loại thoái sản lan tỏa: cắt toàn bộ thận mang bướu và hạch liên quan,
xạ trị toàn bộ ổ bụng (10,8 Gy), hoá trị vơiù vincristin, doxorubicin,
etoposide, cyclophophamid (regimen I) trong 24 tuần, tỉ lệ sống toàn bộ 4
năm 56%
Giai đoạn IV:
Mô học thuận lợi: cắt toàn bộ thận mang bướu và hạch liên quan,
+ Xạ trị toàn bộ ổ bụng di căn (10,8Gy), xạ trị vào tổn thương phổi
(10,8 Gy)
+ Hoá trị với vincristin, doxorubicin, dactinomycin trong 24 tuần
(DD-4A).
Giải phẫu bệnh: bướu Wilm mô học thuận lợi xâm lấn mạch máu
xoang thận
Xếp giai đoạn II (NWTS-4)/ thận P
Điều trị: hoá trị phác đồ EE – 4A, tuần thứ 6 đánh giá lại.
Bé đang điều trị ở tuần thứ 4. Siêu âm bụng kiểm tra cho thấy: bướu
cực trên thận T kích thước 27 (18 mm không thay đổi kích thước trước đó
(30 mm).
Chúng tôi tiếp tục điều trị theo phác đồ trên đến tuần thứ 15 vẩn còn 2
tổn thương ở thận trái. Đánh giá: đáp ứng kém không thuận lợi cho phẫu
thuật. Chúng tôi đổi phác đồ CEPE (Cyclophosphamid, Etoposid, Cisplatin,.
Bệnh nhi đang được theo dỏi và điều trị tiếp
Bệnh án 2
Bệnh nhi: Phạm trọng Phúc, nam, sinh 11/ 11/ 2005, SHS: 9956/06
Địa chỉ: Tp HCM
Tiền sử: Tinh mạc nước hai bên.
Bệnh sử: cách nhập viện 5 tháng, bé bị tiêu chảy đến BV Nhi Đồng I
khám tình cờ phát hiện nang thận trái qua siêu âm. Hẹn tái khám và theo dỏi
3 tháng sau nhưng bé không đến tái khám theo hẹn.
Khoảng nữa tháng nay, bé nổi nhọt nhiều nơi đến BV Nhi Đồng I khám và
được phát hiện bướu Wilms 2 bên thận qua CT scan bụng.
Cháu được tiến hành điều trị: mổ cắt thận phải và một phần niệu quản,
thám sát thận trái cực dưới có u chắc giới hạn tương đối rỏ.
Giải phẫu bệnh sau mổ: bướu Wilms, thể mô học thuận lợi Xếp giai đoạn: cả hai thận xếp giai đoạn II
Điều trị theo phác đồ EE – 4A, được 4 tuần bệnh nhi xuất hiện báng
bụng dịch tiết, bilan lao âm tính).
trình phẫu thuật nên hoá trị tân hổ trợ để làm giảm thể tích bướu. Theo
trường phái Bắc Mỹ nhằm hạn chế giec rắc bướu và tránh vở bướu chỉ thực
hiện sinh thiết bướu từ giai đoạn III.
Hai trường hợp trên chúng tôi chọn phương án phẫu trị trước cắt bỏ
thận cóbướu lớn trước xếp giai đoạn mỗi bên thận và điều trị theo phác đồ
chuẩn đánh giá lại sau 6 tuần.
Bệnh nhi thứ nhất đáùnh giá cả hai thận giai đoạn II nên được điều trị
theo phác đồ NWTS regimen EE – 4A đến tuần thứ 6 đánh giá không thuận
lợi định phẫu thuật. Chúng tôi tiếp tục hóa trị tuần 15 bướu không thay đổi
kích thước. Chúng tôi đang điều trị phác đồ CEPE
Bệnh nhi thứ 2: sau mổ cả hai thận đánh giá giai đoạn II cũng được
điều trị theo phác đồ EE – 4A tới tuần thứ 4 bệnh tiến triển đổi phác đồ DD
– 4A (vincristin, dactinomycin, doxorubicin). Sau khi sử dụng phác đồ DD –
4A báng bụng giảm dần tới tuần thứ 4 hết và kích thước bướu có nhỏ lại,
đến tuần thứ 6 thương tổn có nhỏ lại nhưng không thuận lợi định phẫu thuật.
Chúng tôi điều trị 24 tuần bướu không thay đổi kích thước. Bệnh nhi đang
được điều trị phác đồ CEPE.
Ghép thận ở bệnh nhi bị bướu Wilms cũng được đặt ra khi có chỉ định
với điều kiện bệnh ổn định không có bằng chứng ác tính sau chấm dứt điều
trị 1 – 2 năm
(6)
.
KẾT LUẬN
Bướu Wilms hai bên thận là bệnh lý ít gặp ở trẻ em. Phẩu trị là bước
điều trị khởi đầu và quan trọng điều trị và xếp giai đoạn bệnh. Hóa trị và xạ
trị trong kế hoạch phối hợp đa mô thức rất cần thiết và có hiệu quả. Kết quả
điều trị ở các nước tiên tiến tương đối khả quan (87% sống còn 2 năm). Qua
hai trường hợp trên, chúng tôi mong muốn được chia sẻ một số kinh nghiệm
bước đầu về chẩn đoán và điều trị bướu Wilms’ 2 bên thận.