bình luận nội dung xây dựng cộng đồng kinh tế asean thành khu vực kinh tế hội nhập hoàn toàn vào nền kinh tế toàn cầu - Pdf 20

ĐỀ SỐ 2: Bình luận nội dung xây dựng cộng đồng kinh tế ASEAN thành
khu vực kinh tế hội nhập hoàn toàn vào nền kinh tế toàn cầu dưới các góc
độ:
- Những vấn đề lý luận;
- Những vấn đề pháp lý;
- Các sáng kiến hội nhập kinh tế của ASEAN;
- Biện pháp thực hiện;
- Triển vọng đến năm 2015
-
NỘI DUNG 3
I. Khái quát về Cộng đồng kinh tế ASEAN (AEC)
và hội nhập kinh tế toàn cầu………………………………………………………… 3
1. Cộng đồng kinh tế ASEAN (AEC)……………………………………………….… 3
2 . Hội nhập kinh tế toàn cầu………………………………………………………… 3
II. Bình luận nội dung xây dựng Cộng đồng kinh tế ASEAN thành
khu vực kinh tế hội nhập hoàn toàn vào nền kinh tế toàn cầu………………… 4
1. Những vấn đề lí luận…………………………………………………………… 4
2. Những vấn đề pháp lí…………………………………………………………… ….5
3. Các sáng kiến hội nhập kinh tế của ASEAN………………………………… … ….8
4. Các biện pháp thực hiện……………………………………………………… … …10
5. Triển vọng xây dựng AEC hội nhập hoàn toàn vào
nền kinh tế toàn cầu tới năm 2015………………………………………………………12
III. Những nỗ lực của Việt Nam trong việc xây dựng AEC thành khu
vực kinh tế hội nhập hoàn toàn vào nền kinh tế toàn cầu……………………… ….14
NỘI DUNG
I. Khái quát về cộng đồng kinh tế ASEAN và hội nhập kinh tế toàn cầu
1. Cộng đồng kinh tế ASEAN (AEC)
Ý tưởng về việc thành lập một cộng đồng kinh tế ASEAN lần đầu tiên được Thủ
tướng Goh Coh Tong của Singapore chính thức đưa ra tại Hội nghị cấp cao ASEAN 8 tại
Phnôm Pênh vào thàng 11 năm 2002 với đề nghị ASEAN xem xét thành lập Cộng đồng
kinh tế ASEAN. Tại Hội nghị cấp cao ASEAN lần thứ 9 (Bali, Indonesia, tháng 10/2003),

mạnh mẽ, việc mở rộng quan hệ ra với bên ngoài là một chiến lược tất yếu đã được
ASEAN thực hiện từ khi mới thành lập. Đây cũng là một trong những mục tiêu mà AEC
hướng tới và đã được đề cập trong kế hoạch tổng thể xây dựng AEC. Sở dĩ cộng đồng
kinh tế ASEAN đang hướng tới mục tiêu xây dựng cộng đồng kinh tế ASEAN thành khu
vực kinh tế hội nhâp hoàn toàn vào nền kinh tế toàn cầu xuất phát từ vấn đề đó là: Trong
bối cảnh toàn cầu hóa, để các doanh nghiệp ASEAN có khả năng cạnh tranh quốc tế,
ASEAN trở thành một khu vực năng động và mạnh mẽ trong chuỗi cung ứng toàn cầu và
thị trường ASEAN thu hút được các nhà đầu tư bên ngoài, AEC phải được xây dựng
thành một khu vực hội nhập hoàn toàn vào nền kinh tế toàn cầu.
Bên cạnh việc đẩy mạnh hội nhập kinh tế nội khối, ASEAN có khuynh hướng “mở”
với các đối tác ngoài khối thông qua các hình thức hợp tác kinh tế, thương mại. Hợp tác
kinh tế của ASEAN với các đối tác bên ngoài được triển khai từ giữa những năm 90 của
thế kỷ XX chủ yếu là với các đối tác lớn như Mỹ, Nhật Bản, Trung Quốc, Ấn Độ, Liên
minh châu Âu (EU). Hai nền kinh tế “đầu tàu” của khu vực – Nhật Bản và Trung Quốc
vẫn tiếp tục tăng trưởng, đây là những yếu tố thuận lợi cho tăng trưởng kinh tế ASEAN.
Hai chiến lược kinh tế cơ bản của AEC chính là hội nhập kinh tế khu vực và tăng
cường hợp tác kinh tế bên ngoài, để đạt được mục tiêu trở thành một “khu vực hội nhập
hoàn toàn vào nền kinh tế toàn cầu”, phù hợp với tính chất là một Cộng đồng kinh tế “
mở”. Do vậy, tăng cường hợp tác kinh tế với các đối tác bên ngoài khu vực chính là một
nội dung trọng tâm trong tiến trình xây dựng AEC, mà tập trung vào ba khía cạnh. Thứ
nhất, tham gia tích cực vào hệ thống thương mại đa phương toàn cầu trong khuôn khổ tổ
chức thương mại thế giới WTO. Các cam kết tự do hóa trong khuông khổ WTO chính là
mục tiêu để tham chiếu cho hội nhập kinh tế khu vực. Hiện nay, cả 9 nước ASEAN đều là
thành viên của WTO, chỉ còn Lào là đang trong quá trình đàm phán gia nhập. Việt Nam
và Campuchia là những thành viên mới gia nhập nên vẫn trong quá trình hoàn tất thực thi
các cam kết với WTO. Thứ hai, tham gia tích cực vào hợp tác kinh tế Đông Á và diễn
đàn Châu Á – Thái Bình Dương (APEC). Thứ ba, tham gia tích cực hợp tác với các bên
đối thoại thông qua các AFTA.
2. Những vấn đề pháp lí.
AEC được xây dựng trên cơ sở kế thừa và phát triển những nội dung cơ bản, trụ cột

đẩy lưu chuyển hàng hóa giữa các nước ASEAN. Xuất phát từ xu thế đó, Hiệp định
Thương Mại hàng hóa ASEAN(ATIGA) ra đời.
Cùng với ATIGA, cộng đồng kinh tế ASEAN đang tạo ra những cơ hội và cả thách
thức chưa có tiền lệ đối với nền kinh tế, doanh nghiệp và người dân của các quốc gia
thành viên. Nhưng thách thức và cơ hội luôn vận động, biến đổi rất nhanh trong bối cảnh
hội nhập của khu vực. Hệ quả của quá trình đó là sự thay đổi dần dần cơ cấu kinh tế theo
hướng thích nghi, từ đó nền kinh tế ASEAN sẽ dần dần hội nhập với nền kinh tế chung
trên toàn thế giới.
2.2.Về hội nhập ngoại khối (hội nhập toàn cầu).
Cách thức tiếp cận thống nhất đối với các quan hệ kinh tế đối ngoại của AEC đó là:
- ASEAN sẽ hướng tới việc duy trì vai trò trung tâm của ASEAN trong các quan hệ đối
ngoại, như trong đàm phán về thương mại tự do (FTAs) và trong các thỏa thuận về quan
hệ đối tác kinh tế toàn diện (CEPs).
- ASEAN tăng cường sự tham gia của mình vào mạng lưới cung ứng toàn cầu mà một
trong những phương thức quan trọng được thông qua đó là tiếp tục áp dụng các tiêu chuẩn
và thông lệ quốc tế tốt nhất vào quá trình sản xuất và phân phối.
Như vậy, một cộng đồng kinh tế ASEAN trên con đường xây dựng thành một khu
vực kinh tế hội nhập hoàn toàn vào nền kinh tế toàn cầu thì dưới góc độ pháp lý, ngoài
vấn đề hội nhập nội bộ thì ASEAN còn phải quan tâm tới vấn đề hội nhập ra nền kinh tế
thế giới. Một trong những biểu hiện của sự vươn tới mạnh mẽ hội nhập hoàn toàn với nền
kinh tế toàn cầu của AEC đó là các cam kết FTA/CEP (về thương mại tự do và cắt giảm
thuế quan) của ASEAN với các quốc gia, tổ chức bên ngoài ASEAN.
Hiệp định FTA (Free Trade Agreement) được ký kết để thiết lập khu vực thương
mại tự do giữa hai hay nhiều nước, với các điều khoản có mức độ liên kết và ràng buộc
chặt chẽ hơn các PTA về việc các nước tham gia dành cho nhau những ưu đãi về tiếp cận
thị trường, về cắt giảm tiến tới xóa bỏ rào cản thuế quan và phi thuế… Trước sự phát triển
của FTA, ASEAN đã hòa nhập vào FTA, tận dụng cơ hội để vươn ra hội nhập kinh tế
toàn cầu. ASEAN đã có nhiều cam kết chung FTA với bên ngoài khối. Điển hình như: cắt
giảm thuế quan, mở cửa thu hút và bảo hộ bằng các cơ chế pháp lý cho các nhà đầu tư…
Hội nghị bộ trưởng kinh tế Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á (ASEAN) lần thứ

triển kinh tế - xã hội thông qua các chiến lược nhằm thúc đẩy phát triển cân bằng, giảm
nghèo và khắc phục sự chênh lệch trong phát triển. IAI là bước triển khai của chương
trình hành động Hà Nội năm 1998 về thu hẹp khoảng cách phát triển nội khối ASEAN để
đẩy nhanh hội nhập khu vực.
Các nhà lãnh đạo ASEAN đã nhấn mạnh rằng IAI sẽ là một cơ chế để các nước
ASEAN–6 hỗ trợ các nước CLMV (Campuchia, Lào, Myanmar và Việt Nam) nhằm đạt
được những kết quả mà Lộ trình tổng thể AEC đã đề ra. Các nước ASEAN–6 sẽ cung cấp
các nguồn lực để thực hiện những hoạt động trong khuôn khổ của IAI, đồng thời hỗ trợ
song phương trực tiếp cho các nước CLMV. Hiện ASEAN đang tích cực triển khai các
sáng kiến đã xác định trong khuôn khổ IAI, đồng thời xác định các mối liên kết giữa các
kế hoạch, chương trình để phối hợp, tăng cường hiệu quả hợp tác:
- Hệ thống ưu đãi hội nhập ASEAN (AISP): là việc các nước ASEAN–6 tự nguyện giảm
thuế đơn phương đối với ASEAN–4 được thi hành từ tháng 1/2002.
- Chương trình làm việc IAI giai đoạn 1 với thời gian 6 năm (2002 – 2008): kế hoạch này
được đưa ra năm 2002 nhằm giúp đỡ các nước ASEAN–4 phát triển 4 lĩnh vực ưu tiên là
cơ sở hạ tầng (chủ yếu là hệ thống đường giao thông và mạng lưới điện), nguồn nhân lực,
công nghệ thông tin và viễn thông và hội nhập kinh tế khu vực (như nâng cấp hệ thống
thuế quan, hàng hóa tiêu chuẩn sản phẩm…); sau đó được bổ sung thêm 3 lĩnh vực là: du
lịch, xóa đói giảm nghèo và cải thiện chất lượng cuộc sống, và các dự án phát triển tổng
hợp.
- Chương trình làm việc lần thứ hai (2009-2015) được thông qua tại Hội nghị Cấp cao
ASEAN lần thứ 14 (năm 2009) tập trung vào các chương trình xây dựng năng lực, phát
triển nguồn nhân lực và phát triển cơ sở hạ tầng; gắn với các biện pháp hợp tác của các
kế hoạch tổng thể thực hiện Cộng đồng kinh tế (93 biện pháp), cộng đồng Văn hóa – xã
hội (78) và Cộng đồng chính trị - an ninh (6) và các lĩnh vực chung (4).
- Lộ trình hội nhập ASEAN (RAI) dành cho các nước ASEAN–4: chương trình nhằm xác
định lộ trình hội nhập riêng cho ASEAn–4 trong các lĩnh vực kinh tế cụ thể như: thương
mại, đầu tư, tài chính, giao thông vận tải… Trong đó ASAEN–4 sẽ được hưởng các thời
hạn ưu đãi với một lộ trình mở cửa các lĩnh vực thương mại hàng hóa, thương mại dịch vụ
và đầu tư muộn hơn các nước ASEAN–6 và nhận được các hỗ trợ nhằm thúc đẩy nhanh

ASEAN với bên ngoài và đối chiếu với các cam kết hội nhập nội bộ của ASEAN.
+ Thiết lập hệ thống phối hợp nâng cao, xây dựng phương pháp tiếp cận và quan điểm
chung của các nước ASEAN trong quan hệ kinh tế đối ngoại của ASEAN và ở các diễn
đàn khu vực và đa phương.
- Tặng cường sự tham gia của ASEAN vào mạng lưới cung ứng toàn cầu:
+ Tiếp tục áp dụng các tiêu chuẩn và thông lệ quốc tế tốt nhất vào quá trình sản xuất và
phân phối.
+ Phát triển gói hỗ trợ kĩ thuật toàn diện đối với các nước ASEAN kém phát triển để nâng
cấp năng lực công nghiệp và năng suất, nhằm tăng cường sự tham gia của các nước này
trong các sáng kiến hội nhập khu vực và toàn cầu.
4.2. Chương trình triển khai trên thực tiễn và những thành quả đạt được của AEC.
Hầu hết các nước thành viên ASEAN đã là thành viên của WTO, trong đó Việt
Nam và Campuchia mới gia nhập và đang trong giai đoạn thực thi các cam kết với WTO,
còn Lào đang trong quá trình đàm phán và nhập. Riêng Mianma vẫn còn đang bị nhiều
nước phương Tây cấm vận.
ASEAN cũng đã đạt được những thành tựu quan trọng trong hợp tác kinh tế Đông
Á và Châu Á – Thái Bình Dương. Tiến trình ASEAN+3 ngày càng chứng tỏ là một trong
những cơ chế năng động và hiệu quả nhất trong việc thúc đẩy hợp tác Đông Á. Nhiều
chương trình hợp tác đã được thực hiện như: Thỏa thuận đa phương hóa Sáng kiến Chiêng
Mai bắt đầu có hiệu lực từ tháng 3/2010, việc lập Văn phòng nghiên cứu giám sát kinh tế
vĩ mô (AMRO), cơ chế bảo lãnh tín dụng và đầu tư (CGIF); nghiên cứu khả thi xây dựng
Khu vực mậu dịch tự do Đông Á (EAFTA) song song với việc xem xét Kế hoạch Đối tác
toàn diện Đông Á (CEPEA). ASEAN cũng ngày càng tham gia sâu rộng trong hợp tác
kinh tế Châu Á – Thái BÌnh Dương (APEC) và Hội nghị Á – Âu (ASEM) cũng như
những tổ chức khu vực khác như Hội đồng hợp tác vùng vịnh và MERCOSUR.
Hiện nay, ASEAN đang triển khai Khuôn khổ chung ASEAN về Ðối tác kinh tế
toàn diện (RCEP) nhằm tạo ra một khuôn khổ hợp tác chung giữa ASEAN và các đối tác,
đặc biệt là các nước trong khu vực Ðông Á. AEC đã trở thành mục tiêu hợp tác kinh tế cốt
lõi của ASEAN, đóng vai trò xương sống trong nỗ lực liên kết ASEAN. AEC là tâm điểm
giao thoa của hàng chục thỏa thuận thương mại song phương và đa phương:

làm chậm lộ trình thực hiện AEC.
- Những nội dung hợp tác kinh tế của ASEAN mang nhiều tính chất vĩ mô, chưa được phổ
biến một cách sâu rộng tới công đồng doanh nghiệp.
- Ngoài ra, thể chế kinh tế của các quốc gia thành viên ASEAN (như chính sách thuế,
chính sách thương mại ) còn có nhiều khác biệt và chưa có được những tiêu chuẩn khu
vực để hợp chuẩn tạo ra một thể chế thống nhất, qua đó đẩy nhanh quá trình hội nhập. Vì
vậy, cần đẩy mạnh hơn nữa tiến trình hội nhập kinh tế toàn khối trong vòng 3 - 5 năm tới
để cạnh tranh với các đối tác đang trỗi dậy.
5. Triển vọng xây dựng cộng đồng kinh tế ASEAN thành khu vực kinh tế hội
nhập hoàn toàn vào nền kinh tế toàn cầu vào năm 2015
Tại Hội nghị cấp cao ASEAN lần thứ 7, tháng 1/2007 tại Xêbu, Philippin, các nhà
lãnh đạo ASEAN đã thông qua Bản kế hoạch tổng thể và lộ trình chiến lược thực hiện
AEC với các biện pháp chi tiết và một cơ chế thực thi chặt chẽ, đồng thời quyết định đẩy
nhanh mục tiêu hoàn thành AEC vào năm 2015 mà theo dự kiến ban đầu của các nhà
lãnh đạo ASEAN là vào năm 2020. Theo kế hoạch từ năm 2015 AEC sẽ là một thị trường
và cơ sở sản xuất thống nhất, có tính cạnh tranh cao và đặc biệt là hội nhập hoàn toàn vào
nền kinh tế toàn cầu.
Trong đề án Chính phủ “Sự tham gia của Việt Nam vào cộng đồng kinh tế ASEAN
trong định hướng phát triển kinh tế và hội nhập kinh tế quốc tế” đã chỉ ra ba khả năng
phát triển của AEC thành một nền kinh tế toàn cầu. Đó là:
Thứ nhất, AEC sẽ hội nhập như kế hoạch đã định là trở thành một FTA+ vào năm 2015,
AEC cũng có thể tiến hơn nữa là đạt được tự do hoàn toàn trong di chuyển hàng hoá, dịch
vụ, vốn và lao động, tức là dừng lại ở tiến hành cải cách và xóa bỏ các rào cản trong hoạt
động kinh tế nội khối.
Thứ hai, là mức độ hội nhập sâu hơn, AEC có thể phát triển lên thành một liên minh thuế
quan, tiến tới một thị trường chung. Tuy nhiên kinh nghiệm hợp tác của các khối kinh tế
khác cho thấy, để đạt được mỗi mức độ liên kết này cũng phải mất đến ít nhất là 10 năm.
FTA+ cơ bản sẽ được hoàn thành vào năm 2015, tức là sớm nhất là vào năm 2025,
ASEAN mới có thể trở thành liên minh thuế quan và năm 2035 mới có thể trở thành một
thị trường chung.

Ngay từ khi AEC còn đang là ý tưởng đến khi được chính thức ghi nhận, Việt Nam
đã thể hiên vai trò tích cực của mình trong việc đàm phán và thông qua Tuyên bố hòa hợp
ASEAN II tại Bali, In-đô-nê-xi-a vào tháng 10/2000 trong đó đã đề ra nhưng định hướng
chiến lược quan trọng cho sự phát triển của ASEAN, hướng tới xây dựng một Cộng đồng
kinh tế ASEAN; và các Kế hoạch hành động nhằm triển khai thực hiện Tuyên bố hòa hợp
ASEAN II vào tháng 11/2004 tại Viêng Chăn, trong đó có Hiệp định khung ASEAN về
11 lĩnh vực ưu tiên hội nhập để hướng đến AEC. Trong quá trình soạn thảo và đi đến ký
kết Hiến chương ASEAN- cơ sở pháp lý quan trọng để hình thành AEC, Việt Nam đã
tham gia đầy đủ 13 vòng thương lượng khá phức tạp của Nhóm đặc trách cao cấp và 3
cuộc họp các ngoại trưởng để cho ý kiến chỉ đạo hướng xử lý những vấn đề lớn trong quá
trình soạn thảo Hiến chương. Việt Nam đã có nhiều đóng góp quan trọng về nội dụng, đưa
ra một số sáng kiến, đồng thời thể hiện vai trò là một thành viên tích cực, năng động,
trách nhệm được các thành viên ASEAN và các nước đối thoại đánh giá cao. Thêm vào
đó, Việt Nam đã tham gia tích và hiệu quản vào công tác soạn thảo và kí kết các văn kiện
quan trọng làm nền tảng cho tiến trình xây dựng AEC như: Kế hoạch tổng thể AEC và Lộ
trình chiến lược triển khai kế hoạch tổng thể; Khuôn khổ chiến lược IAI và Kế hoạch
Công tác thực hiện IAI giai đoan 2 (2009-2015), Hiệp định ATIGA, Hiệp định ACIA, các
MRAs về các ngành dịch vụ và lao động …
 Với việc thực hiện các cam kết và các chương trình trên, Việt Nam cũng có những đóng
góp tích cực để đưa các chương trình hợp tác của ASEAN đi vào cuộc sống trong thời
gian sớm nhất, góp phần làm tươi sáng thêm triển vọng thành công của AEC vào năm
2015. Cho tới nay, nước ta đã giảm thuế nhập khẩu cho hơn 10 nghìn dòng thuế xuống
mức 0 - 5% theo ATIGA, chiếm khoảng 98% số dòng thuế trong biểu thuế. Việt Nam là
một trong bốn thành viên ASEAN có tỷ lệ hoàn thành tốt nhất các cam kết trong Lộ trình
tổng thể thực hiện AEC.
Trong năm 2010, Việt Nam đã đảm nhiệm thành công vai trò Chủ tịch ASEAN,
đặc biệt trong việc thúc đẩy tiến trình thực hiện AEC. Tại Hội nghị cấp cao ASEAN lần
thứ 16 tại Hà Nội, dưới sự chủ trì của Việt Nam, các nhà Lãnh đạo ASEAN đã ra "Tuyên
bố về phục hồi và phát triển bền vững" khẳng định quyết tâm củng cố và xây dựng
Cộng đồng kinh tế ASEAN vào năm 2015. Việt Nam là một trong những nước ASEAN đi


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status