bình luận nội dung bảo vệ quyền của lao động di trú trong asean dưới các góc độ sau các vấn đề lí luận, các vấn đề pháp lí - Pdf 25

MỞ BÀI
Từ đầu thế kỉ XXI tình trạng người từ nước này di cư sang nước khác làm
việc đang ngày càng phổ biến và nổi lên như một vấn toàn cầu nói chung và
ASEAN nói riêng. Theo thống kê của Tổ chức Di cư Quốc tế (IOM), hiện có
192 triệu người đang làm việc ở nước ngoài, chiếm 3% tổng dân số của thế giới.
Còn theo ước tính của Tổ chức Lao động Quốc tế (ILO) trung bình cứ 25 người
lao động trên thế giới thì có một người là lao động di trú
(1)
. Vậy người lao động
di trú được hiểu như thế nào? Sau đây, chúng ta sẽ cùng nhau tìm hiểu để làm rõ
vấn đề này thông qua đề tài: “Bình luận nội dung bảo vệ quyền của lao động
di trú trong ASEAN dưới các góc độ sau: các vấn đề lí luận, các vấn đề pháp
lí (theo Tuyên bố Cebu về bảo vệ và thúc đẩy quyền của lao động di trú 2007
và Chương trình hành động thực hiện Tuyên bố này), thực tiễn triển khai”.
NỘI DUNG
I. Lý luận chung về quyền của người lao động di trú
1.1. Khái niệm người lao động di trú
Lao động di trú thường được hiểu là những người lao động di chuyển từ
nước này qua nước khác, vì mục đích làm việc ở nước ngoài. Theo Điều 11
Công ước 97 của ILO, thuật ngữ “người lao động di trú vì việc làm - migrant for
employment” được hiểu là “là một người di cư vào đất nước khác vì mục đích
việc làm bao gồm người đang tìm kiếm việc làm và người đã được tuyển dụng
một cách lâu dài”
(2)
. Ta thấy, khái niệm này không bao hàm những lao động qua
lại ở các vùng biên giới; những nghệ sĩ và người có chuyên môn hành nghề tự
do đến làm việc ở nước khác trong thời gian ngắn; các thủy thủ…
Theo Khoản 1 Điều 2 Công ước quốc tế về quyền của người lao động di
trú và các thành viên khác trong gia đình họ (ICRMW) thì thuật ngữ Lao động
di trú - migrant worker được hiểu “là một người đã, đang và sẽ làm một công
việc có hưởng lương tại một quốc gia mà người đó không phải là công dân”.

Với những đóng góp quan trọng trên, người lao động di trú lẽ ra phải được
trân trọng và tôn vinh ở khắp mọi nơi, nhưng ngược lại, ở khắp các khu vực trên
thế giới, họ đang phải đối mặt với những vấn đề nghiêm trọng như: phải làm
những công việc nguy hiểm, độc hại, điều kiện lao động thấp kém, bị bóc lột và
phải chấp nhận lương thấp; tình trạng bị phân biệt đối xử nặng nề so với lao
động bản địa về điều kiện lao động, tiền công lao động, trợ cấp xã hội…, bị kỳ
thị; không được trả lương hoặc không trả lương theo đúng thỏa thuận trong hợp
đồng; tình trạng bị lạm dụng sức lao động, thậm chí lạm dụng tình dục, nhất là
với lao động nữ Đây thực sự là một trong những bất công có tính chất toàn
cầu.
ASEAN là một trong những khu vực có số lượng và tỉ lệ người lao động di
trú cao nhất trên thế giới. Đây cũng là khu vực rất đa dạng xét về phương diện di
trú lao động, bởi có những nước gửi, nước nhận lao động và có những nước vừa
gửi vừa nhận lao động. Sự chênh lệnh về khoảng cách phát triển giữa các quốc
gia là cầu nối để hoạt động di trú lao động diễn ra nhộn nhịp. Công dân các nước
2
kém phát triển luôn muốn sang những nước phát triển để tìm kiếm cơ hội việc
làm với lương cao mà bất chấp những con đường bất hợp pháp. Những hệ lụy
kéo theo cũng như những nguy cơ mà lao động di trú trong khu vực phải đối mặt
luôn là gánh nặng đối với không chỉ quốc gia và đối với toàn khu vực. Bối cảnh
đặc biệt đó đòi hỏi các nước ASEAN phải có những biện pháp đơn phương,
song phương và đa phương để có thể bảo vệ và thúc đẩy một cách có hiệu quả
các quyền của người lao động di trú.
Từ những phân tích trên, có thể thấy, việc bảo vệ các quyền của lao động di
cư là hết sức cần thiết. Và quyền của người lao động di trú chỉ được bảo vệ một
cách toàn diện khi mà có sự nỗ lực của quốc gia, khu vực và quốc tế. Từ vài
thập niên trở lại đây, nhiều tổ chức liên chính phủ, phi chính phủ quốc tế, khu
vực và quốc gia đã liên tục đấu tranh để đòi hỏi sự công bằng, bảo vệ các quyền
và thúc đẩy điều kiện sống của những người lao động di trú. Ở những mức độ
khác nhau, hầu hết các quốc gia trên thế giới đã ban hành những văn bản pháp

tất yếu.
Công ước 1990 đã xây dựng các chuẩn mực bắt buộc về đối xử, công việc,
quyền của những người lao động di cư nhằm chấm dứt tình trạng bóc lột đối với
những người lao động di cư vẫn thường xảy ra từ trước đến nay. Thông qua
Công ước này, quyền của người lao động di cư và các thành viên trong gia đình
được đề cập một cách sâu sắc và đầy đủ từ các quyền về dân sự, chính trị, lao
động, kinh tế, xã hội văn hóa cho đến các quyền mang tính chất đặc trưng của
người lao động di cư.
II. Các vấn đề pháp lý về quyền của người lao động di trú trong ASEAN
2.1. Nội dung cơ bản về quyền của người lao động di trú theo tuyên bố
Cebu
2.1.1. Tại nước nhận lao động
Theo Tuyên bố Cebu, người lao động di trú được tăng cường những nỗ lực
nhằm bảo vệ các quyền con người cơ bản, thúc đẩy hạnh phúc và bảo vệ nhân
phẩm của người lao động di trú (Điều 5 Tuyên bố Cebu). Vì theo Tuyên bố, các
nước gửi và nhận lao động cần phải tính đến các quyền cơ bản và nhân phẩm đó
của lao động duy trì để không làm tổn hại đến việc áp dụng pháp luật, chính
sách và quy định của các nước nhận và gửi lao động. Đây cũng là quyền mà đã
được luật pháp quốc tế ghi nhận - một quyền đặc biệt quan trọng làm nền tảng
cho các quyền khác
Họ cũng có thể được cung cấp thông tin, tập huấn giáo dục, tiếp cận tư
pháp và các dịch vụ an sinh xã hội nếu cần thiết, phù hợp với pháp luật của các
nước nhận lao động, miễn là họ hoàn thành các yêu cầu theo quy định của pháp
luật, quy định và chính sách đang áp dụng tại nước đó hoặc theo quy định trong
4
các hiệp định song phương hay đa phương có liên quan (Điều 7 Tuyên bố Cebu)
để tiếp cận với các nguồn lực và sự đền bù.
Ngoài ra còn được bảo vệ việc làm, trả công và tiếp cận bình đẳng với công
việc và điều kiện sống tử tế cho lao động di trú (Điều 8 Tuyên bố Cebu). Điều
này tạo nên sự thích đáng cũng như công bằng về sự bảo vệ việc làm cho người

bởi lẽ, vì đứng trên lập trường của một quốc gia gửi lao động sang các nước
khác thì quốc gia này phải cố gắng tạo điều kiện sao cho các lao động của mình
có thể tiếp cận với việc làm và cơ hội kiếm sống để người lao động có thể yên
tâm làm việc.
Tuyên bố Cebu thì quyền của người lao động di trú tại nước gửi lao động
đã được nhìn nhận thông qua những nghĩa vụ của nước gửi lao động. Theo đó,
người lao động được bảo đảm tiếp cận việc làm và cơ hội kiếm sống, có thế nói
đây là căn cứ vững chắc cho sự lựa chọn di trú của người lao động (Điều 12
Tuyên bố Cebu). Hay được Chính phủ, Nhà nước mình tạo thuận lợi thông qua
việc ban hành các chính sách, thủ tục như: tuyển dụng, chuẩn bị đi ra nước ngoài
và bảo vệ lao động di trú khi ở nước ngoài cũng như việc hồi hương và tái hòa
nhập sau khi hồi hương (Điều 13 Tuyên bố Cebu).
Cũng theo Điều 14 của tuyên bố Cebu thì các nước gửi lao động cần phải
xây dựng và thúc đẩy các nguyên tắc pháp lý điều chỉnh việc tuyển dụng lao
động di trú và thông qua các biện pháp để loại bỏ các hoạt động tuyển dụng bất
hợp pháp thông qua hợp đồng hợp pháp và có hiệu lực, quy định và cấp phép
cho các cơ sở tuyển dụng và người sử dụng lao động, và lập danh sách theo dõi
các cơ sở bất hợp pháp…để bảo vệ hữu hiệu người lao động di trú của nước
mình.
2.2. Bảo vệ quyền của lao động di trú trong ASEAN
Năm 2007, tại hội nghị Cấp cao lần thứ XII và các Cấp cao liên quan tại
Cebu, Philippines, các nước trong khối ASEAN đã thông qua tuyên bố ASEAN
về bảo vệ và thúc đẩy các quyền của người lao động di trú, trong đó thừa nhận
trách nhiệm của các nước nhận và nước gốc cũng như hiệp hội ASEAN trong vấn
đề này.
Tuyên bố cũng yêu cầu các nước thành viên làm hài hòa pháp luật quốc gia
với các tiêu chuẩn lao động cơ bản của ILO. Việc này có nghĩa là sẽ làm cho pháp
luật của các nước trong khối được áp dụng bình đẳng với mọi người lao động, bất
kể quốc tịch của họ, hay nói cách khác là đảm bảo nguyên tắc đối xử quốc gia với
người lao động di trú.

Cơ chế bảo vệ quyền của người lao động di trú trong Tuyên bố này, trước
hết được quy định rõ trong cam kết của Hiệp hội, ASEAN cam kết Vì mục đích
bảo vệ và thúc đẩy các quyền của người lao động di cư, các quốc gia thành viên
ASEAN theo với pháp luật, quy định và chính sách của nước mình sẽ phải thực
hiện:
1. Thúc đẩy việc làm đàng hoàng, nhân bản, sinh lợi và tôn trọng nhân
phẩm cho người lao động di cư;
2. Thiết lập và thực hiện các chương trình phát triển nguồn nhân lực và
những chương trình tái hòa nhập cho người lao động di cư ở nước họ;
7
3. Thực hiện các biện pháp cụ thể để ngăn chặn và chấm dứt tình trạng đưa
lậu và buôn bán người, trong đó bao gồm việc đưa ra các chế tài nghiêm khắc
hơn cho những kẻ thực hiện những hoạt động này;
4. Hỗ trợ việc chia sẻ dữ liệu về các vấn đề liên quan đến lao động di cư
nhằm mục đích tăng cường chính sách và chương trình liên quan đến lao động di
cư ở cả nước đi lao động và nước đến lao động;
5. Thúc đẩy việc xây dựng năng lực bằng cách chia sẻ thông tin, các bài
học kinh nghiệm tốt cũng như những cơ hội và thách thức mà các nước thành
viên ASEAN đang phải đối mặt trong việc thúc đẩy và bảo vệ các quyền và lợi
ích của người lao động di cư;
6. Mở rộng sự trợ giúp người lao động di cư của các quốc gia thành viên
ASEAN bị kẹt trong các tình hình xung đột hoặc khủng hoảng ngoài ASEAN
dựa trên năng lực và nguồn lực của những đại sứ quán và cơ quan lãnh sự của
các nước ASEAN liên quan, trên cơ sở kết quả tư vấn và các thỏa thuận song
phương;
7. Khuyến khích các tổ chức quốc tế, những đối tác của ASEAN và các
quốc gia khác tôn trọng những nguyên tắc và cung cấp sự trợ giúp, hỗ trợ cho
việc thực hiện các biện pháp nêu trong Tuyên bố này;
8. Giao nhiệm vụ cho các cơ quan liên quan của ASEAN để tiếp tục thực
hiện Tuyên bố và để xây dựng một văn kiện ASEAN về bảo vệ và thúc đẩy

tai nạn lao động và bệnh nghề nghiệp cao; không được chủ sử dụng lao động trả
lương, hoặc trả lương không đúng thỏa thuận, bị hành hạ và lạm dụng, kể cả lạm
dụng tình dục, nhất là dối với lao động nữ; bị thu giữ hộ chiếu, giấy tờ tùy thân,

(1)
Tại Philippines, có hàng loạt những vấn đề mà pháp luật lao động di cư
Philippines nhận thấy đã không giải quyết hiệu quả. Có thể nói đến vấn đề như:
“Không thực thi pháp luật lao động di cư ở nước ngoài”, “định hướng trước
khi khởi hành không hiệu quả” Theo Loretta Ann P. Rosales, một nhà lập pháp
Philippines, pháp luật không bảo vệ lao động di cư đơn giản chỉ vì các nước
nhận lao động vượt quá thẩm quyền của Philippines. Thoả ước lao động với
nước nhận lao động chủ yếu là phục vụ như là các hướng dẫn chung hoặc
khuyến nghị cho việc tuyển dụng lao động đến từ Philippines mà không nói gì
đến các thủ tục khiếu nại trong trường hợp vi phạm quyền con người và quyền
của người lao động nhập cư. Chính phủ dường như lo sợ bị mất thị trường lao
động hấp dẫn so với các quốc gia khác có thể cung cấp lao động với mức lương
rẻ hơn và do đó đã không có các động thái chính trị để đàm phán các điều kiện
làm việc tốt hơn với nước nhận lao động. Mà trái lại, chính phủ coi động thái
(1)
(1)
Triệu Thị Hồng Liễu, Quyền của người lao động di trú trong pháp luật quốc tế và Việt Nam, Hà Nội,
2012.
9
như vậy là can thiệp vào công việc nội bộ của quốc gia khác, hoặc có thể mở ra
cánh cửa cho các nước khác yêu cầu ưu đãi tương tự
(2)
.
Một vấn đề khác tại Philippines đó là định hướng không hiệu quả trước khi
khởi hành. Các cuộc hội thảo định hướng trước khi khởi hành (PDOS - Pre-
departure Orientation Seminars) không có hiệu quả trong việc thực hiện mục


Ineffective Predeparture Orientation.There may be well-founded perceptions that the Predeparture
orientation seminars (PDOS) have not been effective in fulfilling its specific objective of furnishing adequate
information that will help departing migrant workers adjust to the culture of the countries of destination, or about their
rights as migrant workers and clear procedures or steps to be taken in the event of an emergency. It is observed that
orientations are conducted in a hasty and superficial manner, “just to get it over with”, especially from outside trainers
who are not fully conversant with their subject matter, or are not fully oriented on subjects such as savings and
preparation for return migration. - Empowering Filipino Migrant Worker - Policy Issues anhd Challenges, Rene E.
Ofreneo & sabelo A. Samonte.
10
băng quan hệ ngoại giao với Malaysia sau cái chết của ba người Indonesia trong
vụ Negeri Sembilan gần đây.
(2)

Tại Campuchia, theo ông Kim Chansamnang đến từ Liên minh Liên hiệp
cộng đồng quốc gia Campuchia cho biết, một số người lao động được sống trong
môi trường rất tốt trong khi một số khác phải sống trong cảnh khổ cực. Cũng
theo ông Kim Chansamnang, có khoảng 125.000 lao động Campuchia đang làm
việc hợp pháp tại Thái Lan, Hàn Quốc, Malaysia và Nhật Bản. Những người này
đã gửi về nhà số tiền khoảng 200 triệu USD. Tuy nhiên, cho đến nay Campuchia
vẫn không có một mạng lưới hoặc một trung tâm để giúp đỡ người lao động di
cư, đặc biệt là khi họ gặp khó khăn thì không có một mạng lưới xã hội nào bảo
vệ họ giống như những gì người lao động địa phương được hưởng.
3.2. Một số giải pháp nhằm nâng cao vấn đề bảo vệ quyền của người
lao động di trú
Tuyên bố ASEAN về bảo vệ và thúc đẩy các quyền của người lao động di
trú được thông qua tại Hội nghị cấp cao ASEAN vào ngày 19/2/2007 đã đưa ra
nghĩa vụ của các nước nhận lao động và các nước xuất khẩu lao động đồng thời
cũng đưa ra những cam kết của chính ASEAN để thực hiện mục đích bảo vệ và
thúc đẩy các quyền của người lao động di trú. Tuyên bố cũng yêu cầu các nước

một ASEAN vững mạnh, đoàn kết thì ngay bây giờ chúng ta cần đẩy mạnh, tích
cực nâng cao hơn nữa các hoạt động bảo vệ quyền của người lao động di trú.
12
PHỤ LỤC I
Khoản 2 Điều 2 Công ước quốc tế về quyền của người lao động di trú và
các thành viên khác trong gia đình họ quy định về các dạng di trú của người lao
động di trú:
- Nhân công vùng biên là người làm việc ở nước láng giềng nhưng trở về
nước mình trong ngày hoặc ít nhất mỗi tuần một lần.
- Nhân công theo mùa là người chỉ làm việc ở nước khác trong một
khoảng thời gian nhất định mỗi năm.
- Người đi biển bao gồm cả ngư dân để chỉ một người lao động di trú
được tuyển dụng làm việc trên một chiếc tàu đăng ký tại một quốc gia mà họ
không phải là công dân.
- Nhân công làm việc tại một công trình trên biển để chỉ một người lao
động di trú được tuyển dụng làm việc trên một công trình trên biển thuộc quyền
tài phán của một quốc gia mà họ không phải là công dân.
- Nhân công lưu động để chỉ một người lao động di trú sống thường trú ở
một nước phải đi đến một oặc nhiều nước khác nhau trong những khoảng thời
gian do tính chất công việc của người đó.
- Nhân công theo dự án để chỉ một người lao động di trú được nhận vào
quốc gia nơi có việc làm trong một thời gian nhất định để chuyên làm việc cho
một dự án cụ thể đang được người sử dụng lao động của mình thực hiện tại quốc
gia đó.
- Nhân công lao động chuyên dụng: Những người lao động di trú mà được
người sử dụng lao động của mình cử đến quốc gia nơi có việc làm trong một
khoảng thời gian hạn chế nhất định để đảm nhận một công việc hoặc nhiệm vụ
cụ thể mang tính chuyên môn, kĩ thuật ở quốc gia nơi có việc làm. Hoặc tham
gia công việc cần có kĩ năng, chuyên môn thương mại, kỹ thuật hoặc tay nghề
cao khác trong một thời gian hạn chế nhất định. Hoặc tham gia một công việc có

- Những người đi biển hay người làm việc trên các công trình trên biển
không được nhận vào để cư trú và tham gia vào một công việc có hưởng trả
lương ở quốc gia nơi có việc làm.
14
PHỤ LỤC II
Chức năng của Ủy ban ASEAN về thực hiện Tuyên bố ASEAN về bảo vệ
và thúc đẩy các quyền của người lao động di trú.
- Tìm kiếm tất cả các giải pháp để đạt được các mục tiêu đề ra trong Tuyên
bố;
- Hỗ trợ chia sẻ các bài học kinh nghiệm của các nước thành viên trong
các vấn đề liên quan đến bảo vệ và thúc đẩy các quyền của người lao động di
trú;
- Thúc đẩy sự hợp tác song phương và khu vực và hỗ trợ trong các vấn đề
liên quan đến quyền của người lao động di trú;
- Hỗ trợ chia sẻ dữ liệu về các vấn đề liên quan đến người lao động di trú
nhằm mục đích tăng cường các chính sách và chương trình về bảo vệ và thúc
đẩy các quyền của người lao động di trú ở cả các nước gửi và nhận lao động;
- Khuyến khích các tổ chức quốc tế, các đối tác của ASEAN và các quốc
gia khác trong việc tôn trọng các nguyên tắc và cung cấp sự hỗ trợ và ủng hộ
với việc thực hiện các biện pháp nêu trong Tuyên bố;
- Thúc đẩy sự hài hòa của các cơ chế giữa các nước gửi và nhận lao động
mà có tác dụng bảo vệ và thúc đẩy các quyền của người lao động di trú nhằm
thực hiện các cam kết của ASEAN được nêu ở đoạn 17 của Tuyên bố;
- Phối hợp chặt chẽ với Ban thư ký ASEAN trong việc chuẩn bị báo cáo
của Tổng thư ký ASEAN trình lên Hội nghị cấp cao ASEAN;
- Thúc đẩy việc xây dựng văn kiện ASEAN về bảo vệ và thúc đẩy các quyền
của người lao động di trú.
15
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Trường Đại học Luật Hà Nội, Giáo trình pháp luật Cộng đồng ASEAN,


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status