ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƢỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
TRẦN ÁNH PHƢƠNG
TIẾN TRÌNH XÂY DỰNG CỘNG ĐỒNG AN NINH ASEAN Chuyên ngành: Quan hệ Quốc tế
Mã số: 60.31.40 LUẬN VĂN THẠC SĨ QUỐC TẾ HỌC
Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS Nguyễn Thu Mỹ
Hà Nội - 2010
1
MỤC LỤC
2.1.3 Về các định hướng chính sách và biện pháp xây dựng ASC 84
2.1.4 Cơ chế triển khai thực hiện kế hoạch xây dựng ASC 97
2.1.5 Định dạng mô hình Cộng đồng an ninh ASEAN 101
2.2 Tình hình thực hiện Kế hoạch xây dựng ASC 103
2.2.1 Thông qua Hiến chương ASEAN 104
2.2.2 Hội nghị Bộ trưởng Quốc phòng ASEAN 108
2.2.3 Tăng cường hài hòa hóa pháp luật trong ASEAN 111
2.2.4 Tăng cường hợp tác đấu tranh chống tội phạm, ngăn ngừa
xung đột 114
2.2.5 Mở rộng quan hệ đối thoại và hợp tác chính trị, an ninh với
các đối tác bên ngoài 116
Chương 3: TRIỂN VỌNG XÂY DỰNG ASC 119
3.1 Những nhân tố cơ bản tác động đến tiến trình xây dựng ASC 119
3.1.1 Những nhân tố thúc đẩy tiến trình xây dựng ASC 119
3.1.2 Những thách thức cản trở tiến trình xây dựng ASC. 126
3
3.2 Triển vọng của ASC những năm sắp tới và một số khuyến nghị
nhằm thúc đẩy quá trình xây dựng ASC. 133
3.2.1 Triển vọng xây dựng ASC những năm sắp tới 133
3.2.2 Một số khuyến nghị nhằm thúc đẩy quá trình xây dựng ASC. 141
KẾT LUẬN 147
TÀI LIỆU THAM KHẢO 152
PHỤ LỤC 161
Hanoi Plan of Action 161
4
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
Diễn đàn hợp tác Á - Âu
ASLOM ASEAN Senior Law Official‟s Meetings
Hội nghị quan chức pháp luật cao cấp ASEAN
ASCC ASEAM Social – Cultural Community
Cộng đồng văn hóa xã hội ASEAN
CBMs Confidence buildings Measures
Các biện pháp xây dựng lòng tin
COC The Code of Conduct in the South of China Sea
Bộ qui tắc về ứng xử trên biển Nam Trung Hoa
DOC Declarations on the Conduct of Parties in the South of
China Sea
Tuyên bố về qui tắc ứng xử của các bên tại Biển Nam
Trung Hoa
EAS East Asia Summits
Hội nghị Thượng đỉnh Đông Á
EPG The Eminent Persons Group
Nhóm những nhân vật nổi tiếng
JMSU Joint Marine Seismic Undertaking
Thỏa thuận thăm dò địa chấn chung
NATO North Atlantic Treaty Ozganisation
Hiệp ước Bắc Đại Tây Dương
NMD National Missile Defence
Hệ thống Phòng thủ tên lửa quốc gia
6
NPT Nuclear Non – Proliferation Treaty
Hiệp ước không phổ biến vũ khí hạt nhân
TAC Treaty on Amity and Cooperation
Hiệp ước hợp tác và thân thiện
SEANWFZ South East Asia Nuclear Weapon Free Zone Treaty
trường hòa bình, ổn định và hợp tác trong khu vực, tạo điều kiện thuận
lợi cho công cuộc đổi mới đất nước, hội nhập khu vực và quốc tế của
Việt Nam. Đồng thời, cộng đồng an ninh ASEAN sẽ góp phần tăng tính
liên kết giữa các quốc gia ASEAN, mang lại uy tín ngày càng cao hơn
cho tổ chức này.
8
Do vậy, nghiên cứu về tiến trình xây dựng Cộng đồng an ninh
ASEAN và dự báo về triển vọng hiện thực hóa nó là vấn đề khoa học có
tính chất thực tiễn cấp bách đối với khu vực nói chung và Việt Nam nói
riêng.
b) Ý nghĩa khoa học
Việc nghiên cứu quá trình xây dựng ASC và triển vọng của nó
còn có ý nghĩa quan trọng về phương diện khoa học.
Đối với Việt Nam, Cộng đồng an ninh là một khái niệm mới mẻ
cả về phương diện lý thuyết lẫn thực tiễn. Việc nghiên cứu quá trình xây
dựng ASC sẽ giúp cung cấp những hiểu biết cơ bản về Cộng đồng an
ninh về phương diện lý thuyết và các mô hình Cộng đồng an ninh đang
tồn tại trên thế giới. Những hiểu biết này sẽ giúp xác định tính chất, đặc
điểm của mô hình Cộng đồng an ninh mà ASEAN đang nỗ lực xây dựng
và lý giải nguyên nhân dẫn tới đặc điểm đó.
2. Lịch sử nghiên cứu vấn đề
Đây là một đề tài còn khá mới mẻ. Cho đến nay, trên thế giới
cũng như Việt Nam chưa có nhiều công trình nghiên cứu về vấn đề này.
a) Tình hình nghiên cứu về ASC tại Việt Nam:
Tại Việt Nam đã có một số công trình nghiên cứu về cộng đồng
an ninh ASEAN như “Cộng đồng An ninh ASEAN: Hiện trạng, Triển
vọng và sự tham gia của Việt Nam” do Vụ ASEAN, Bộ Ngoại giao thực
hiện. Đây là công trình nghiên cứu đi sâu vào việc nghiên cứu cơ sở lý
10
- PGS.TS Trần Khánh : “Cộng đồng an ninh ASEAN (ASC): nội
dung, lộ trình, triển vọng và tác động”. Đây là đề tài nghiên cứu khoa
học cấp Bộ do PGS.TSKH. Trần Khánh, Viện Nghiên cưú Đông Nam Á
làm chủ nhiệm. Đề tài đã làm rõ cơ sở hình thành, các nhân tố tác động
đến quá trình xây dựng Cộng đồng An ninh ASEAN; phân tích các mục
tiêu, nội dung cơ bản, phương thức thực hiện và triển vọng của Cộng
đồng An ninh ASEAN. Đề tài cũng đánh giá tác động của tiến trình xây
dựng Cộng đồng An ninh ASEAN , vai trò và những đóng góp của
Việt Nam vào quá trình xây dựng ASC.
- ThS. Luận Thùy Dương. Với bài nghiên cứu “Hướng tới cộng
đồng an ninh ASEAN: Triển vọng cộng đồng và vai trò của Việt Nam”,
ThS. Luận Thùy Dương đã khẳng định vấn đề xây dựng cộng đồng an
ninh ASEAN là một vấn đề mang tính cấp bách. Các quốc gia Đông
Nam Á đang phải đối mặt với những thách thức lớn về an ninh và chính
trị như hoạt động của các lực luợng khủng bố quốc tế, vai trò ngày một
tăng của Trung Quốc trong khu vực… Trong bối cảnh đó, việc thành lập
ASC là rất cần thiết. Trong bài viết của mình, tác giả đã tóm tắt quá trình
hình thành của ASC, dự báo về triển vọng phát triển của ASC với 3 kịch
bản khác nhau. Phần cuối bài nghiên cứu, tác giả nêu rõ vai trò của Việt
Nam trong tiến trình xây dựng của ASC và cho rằng Việt Nam cần cởi
mở và chủ động hơn nữa trong các hoạt động trên để đảm bảo vị thế và
lợi ích của Việt nam trong khuôn khổ hợp tác ASC.
b) Tình hình nghiên cứu về ASC trên thế giới:
AC đang là một trong những tiêu điểm của giới nghiên cứu về
Đông Nam Á. Từ những năm đầu của thế kỷ XXI, ý thức được vai trò
của ASEAN, các học giả thế giới đặc biệt quan tâm tới sự hình thành và
11
4. Phương pháp nghiên cứu
Trong quá trình viết luận văn, người viết đã kết hợp các phương
pháp nghiên cứu khoa học khác nhau. Trong đó chủ yếu sử dụng phương
pháp nghiên cứu Quan hệ quốc tế như Chủ nghĩa Hiện thực, Chủ nghĩa
Tự do… là phương pháp xuyên suốt. Ngoài ra, tùy từng vấn đề cụ thể mà
luận văn còn sử dụng các phương pháp khác như phương pháp lịch sử,
phương pháp so sánh, thống kê; phương pháp suy luận logic với sự tổng
hợp, thống kê, so sánh, đối chiếu…; phương pháp xử lý thông tin và dự
báo…
5. Nguồn tài liệu
- Các văn kiện chính thức của ASEAN (Tiếng Việt và tiếng
Anh) liên quan đến vấn đề cộng đồng an ninh ASEAN.
- Tài liệu và các công trình nghiên cứu của các tác giả đi trước
trong và ngoài nước dưới dạng sách, tạp chí…
- Tài liệu cập nhật trên Internet, các bản tin của Thông tấn xã
Việt Nam.
6. Cấu trúc luận văn
Chương 1: Trong chương này, người viết đề cập tới quá trình
hình thành ý tưởng thành lập Cộng đồng an ninh ASEAN. Thông qua
việc nhìn lại những thành tựu cũng như hạn chế của ASEAN trong hợp
tác an ninh - chính trị kể từ sau khi kết thúc chiến tranh lạnh cho tới 2003
và phân tích những biến động của tình hình an ninh thế giới cũng như
khu vực, người viết muốn khẳng định lại nhu cầu cấp thiết của việc thành
lập một cơ chế hợp tác an ninh mới nhằm đảm bảo an ninh và hòa bình
khu vực, tạo điều kiện cho các quốc gia trong khu vực phát triển. Trong
13
chương này, người viết cũng đã đưa ra một cách tổng quát về sáng kiến
hợp tác an ninh khu vực mới của In-Đô-Nê-Xia cũng như phản ứng của
nữa tiến trình xây dựng ASC.
15 Chương 1: QUÁ TRÌNH HÌNH THÀNH Ý TƯỞNG THÀNH
LẬP CỘNG ĐỒNG AN NINH ASEAN (ASC)
1.1 Khái quát tình hình hợp tác chính trị - an ninh của
ASEAN kể từ khi được thành lập cho tới 2003.
Như chúng ta đã biết, ra đời trong bối cảnh chiến tranh lạnh và
nằm ở tâm điểm của cuộc đấu tranh quyền lực giữa các nước lớn, đặc
biệt là Mỹ và Trung quốc, trong Tuyên bố thành lập ngày 8-8-1967,
ASEAN đã nói rõ mục đích thành lập của mình là để thúc đẩy hợp tác
giữa các nước trong vùng trên các lĩnh vực kinh tế, xã hội, văn hóa, khoa
học kỹ thuật nhằm biến Đông Nam Á thành khu vực hòa bình, ổn định và
thịnh vượng. Chỉ tới năm 1976, trước những biến đổi cơ bản về chính trị,
an ninh ở Đông Nam Á, sau khi chiến tranh Việt nam kết thúc, hợp tác
chính trị mới chính thức được đưa vào chương trình nghị sự của Hiệp
hội. Hợp tác an ninh trên cơ sở đa phương đã không được đề cập tới
trong tất cả các văn kiện của ASEAN cho tới khi Chiến tranh lạnh kết
thúc. Điều này là do ASEAN muốn tránh sự nghi kỵ của các nước xã hội
chủ nghĩa, đặc biệt là Trung quốc, Việt nam, vốn luôn coi ASEAN là tổ
chức quân sự trá hình được lập ra để thay thế SEATO đã suy yếu.
Hợp tác an ninh của ASEAN được tiến hành chủ yếu trên cơ sở
song phương giữa các nước thành viên ASEAN với nhau, hoặc giữa các
nước thành viên với các cường quốc quân sự ngoài khu vực.
Hợp tác an ninh song phương giữa các nước thành viên được tiến
hành chủ yếu qua 4 hình thức cơ bản:
Trao đổi thông tin, tình báo
Đào tạo, huấn luyện quân đội
16
Quốc và các lực lượng cách mạng ở Đông Dương nên cơ chế hợp tác an
ninh đa phương của ASEAN trước năm 1993 chưa hề được đưa vào
chương trình nghị sự.
Mãi tới Tháng 1/1992, trong Hội nghị Thượng đỉnh ASEAN lần thứ
4 tại Xing-ga-po, vấn đề hợp tác an ninh đa phương lần đầu tiên được
chính thức đưa vào chương trình nghị sự của ASEAN bằng việc thành
lập Diễn đàn an ninh ASEAN (ARF) bàn về hợp tác chính trị và an ninh
khu vực châu Á – Thái Bình Dương.
Thành tựu đáng kể nhất của hợp tác an ninh ASEAN kể từ khi
thành lập ASEAN chính là việc ra đời ARF. Diễn đàn khu vực ASEAN
(ARF) được thành lập năm 1994 nhằm thúc đẩy cơ chế đối thoại và tham
vấn về các vấn đề an ninh và chính trị trong khu vực, xây dựng lòng tin
và phát triển ngoại giao phòng ngừa. Khẩu hiệu của ARF là "Xúc tiến
hòa bình và an ninh qua đối thoại và hợp tác ở Châu Á Thái Binh
Dương".
Với sự tham dự của nhiều quốc gia trong và ngoài khu vực Đông
Nam Á. ARF là sự thể hiện tính tiến bộ của các quốc gia Đông Nam Á
trong vấn đề an ninh và hợp tác an ninh khu vực, gắn quốc gia với khu
vực và gắn khu vực với quốc tế.
Các mục tiêu của Diễn đàn khu vực ASEAN được quy định rõ
trong tuyên bố của các nhà lãnh đạo ARF đầu tiên (1994), đó là:
- Tăng cường đối thoại hợp tác và hội đàm các vấn đề chính trị và
an ninh của các nước có chung lợi ích và mối quan tâm.
- Đóng góp đáng kể vào những nỗ lực nhằm xây dựng một khu vực
đáng tin cậy và dân chủ ở châu Á – Thái Bình Dương. [30,12]
Trong một khu vực vốn ít có lịch sử hợp tác an ninh, Diễn đàn khu
vực ASEAN là một diễn đàn quan trọng nhất về hợp tác an ninh ở châu
18
Á. Diễn đàn này đã bổ sung vào các cơ chế liên minh song phương và
năng chuyển từ cơ chế đối thoại sang cơ chế hợp tác.
Tuyên bố của chủ tịch ARF – 10 nhận định ARF “có ý nghĩa to lớn
đối với an ninh và ổn định ở châu Á – Thái Bình Dương. Bất kể sự đa
dạng về thành viên của nó, diễn đàn này đã có một hồ sơ về các thành
tựu đóng góp vào việc duy trì hoà bình, an ninh trong vực”. Những thành
tựu chính của ARF được ghi nhận trong Tuyên bố của Chủ tịch ARF –
10 bao gồm:
- Tính hiệu quả của ARF với tư cách là một cầu nối cho các cuộc
đối thoại và tư vấn song phương cũng như đa phương cùng với việc thiết
lập những quy tắc đối thoại và hợp tác, ra quyết định dựa trên sự đồng
thuận, không can thiệp lẫn nhau, sự tiến bộ không ngừng và phát triển
với tốc độ cân đối, hợp lý cho mọi thành viên.
- Sự sẵn sàng giữa các bên tham dự ARF nhằm thảo luận hàng loạt
các vấn đề an ninh trong một cơ chế đa phương
- Sự tin tưởng lẫn nhau được xây dựng dần qua các hoạt động hợp
tác
- Tạo lập và duy trì đối thoại và tư vấn về các vấn đề an ninh và
chính trị
- Minh bạch được thực hiện thông qua những biện pháp của ARF
như trao đổi thông tin liên quan đến chính sách quốc phòng và việc xuất
bản các báo cáo của chính phủ về quốc phòng
- Một mạng lưới được triển khai giữa các quan chức quân đội, quốc
phòng và an ninh quốc gia của các bên tham gia ARF.
Tuy nhiên, với vai trò là một diễn đàn, ARF vẫn tồn tại những hạn
chế trong việc giải quyết các vấn đề an ninh khu vực.
20
ARF chỉ là một quá trình chứ không phải là một thể chế. Mục đích
chính từ khi thành lập là xây dựng lòng tin và sự tin cậy lẫn nhau giữa
các nước tham gia, đồng thời tạo ra một mô hình quan hệ ổn định và có
khu vực Đông Nam Á để ASEAN không bị các nước lớn ngoài khu vực
chi phối và lũng đoạn. [33, tr.56]
Mặc dù nhận thức một cách sâu sắc tầm quan trọng của hợp tác an
ninh đa phương nhưng các thành tựu trong hợp tác đa phương của
ASEAN sau năm 1993 và trước năm 2003, thực sự không có nhiều sự
kiện nổi bật thể hiện bước tiến của Hiệp hội. Thời điểm quan trọng nhất
trong lĩnh vực hợp tác an ninh đa phương của ASEAN những năm sau
chiến tranh lạnh là năm 1995.
Trong năm này, ASEAN có hai bước tiến quan trọng: (1) kết nạp
Việt Nam (ngày 28 tháng 7 năm 1995), bắt đầu tiến trình mở rộng
ASEAN; (2) ký kết Hiệp ước về khu vực Đông Nam Á không vũ khí hạt
nhân (SEANWFZ), hưởng ứng phong trào giải trừ quân bị đang diễn ra
mạnh mẽ trên thế giới sau Chiến tranh lạnh và hiện thực hóa Tuyên bố
ZOPFAN.
Hội nghị Ngoại trưởng ASEAN lần thứ 17 (tháng 7/1984) đã nhất
trí lập khu vực không có vũ khí hạt nhân ở Đông Nam Á (gọi tắt là
SEANWFZ), coi đó là 1 trong những công cụ hình thành Khu vực hoà
bình, tự do và trung lập (ZOPFAN). Tại Hội nghị Cấp cao ASEAN lần
thứ 5 tại Băng-cốc tháng 12/1995, những người đứng đầu Nhà
nước/Chính phủ của cả 10 nước Đông Nam Á đã ký Hiệp ước
SEANWFZ. Từ ngày 27/3/97, Hiệp ước chính thức có hiệu lực sau khi 7
nước ký kết đã phê chuẩn Hiệp ước (đến nay cả 10 nước đã phê chuẩn).
22
Mục đích của hiệp ước SEANWFZ là nhằm xây dựng Đông Nam Á
thành khu vực hoàn toàn không có vũ khí hạt nhân, loại trừ nguy cơ hạt
nhân ở khu vực này. Các qui định nêu trong TAC về cơ bản là phù hợp
với nội dung của Hiệp ước không phổ biến vũ khí hạt nhân (NPT).
Hiệp ước SEANWFZ là một đóng góp quan trọng của ASEAN cho
hoà bình, an ninh khu vực Đông Nam Á và Châu Á-Thái Bình Dương,
1.2 Những thách thức an ninh mới đối với ASEAN đầu thế
kỷ XXI
1.2.1 Những thách thức ở cấp độ toàn cầu
Sang đầu thế kỷ XXI, thập niên thứ hai sau chiến tranh lạnh, thế
giới hòa bình, ổn định mà loài người hằng mơ ước vẫn đang là một giấc
mơ khó thành hiện thực. Tình hình thế giới vẫn đang tiếp tục diễn biến
phức tạp khôn lường. Những mâu thuẫn và xung đột sắc tộc, tôn giáo,
nạn khủng bố quốc tế, rồi nội chiến, chiến tranh cục bộ… diễn ra khá gay
gắt ở nhiều nơi. Chủ nghĩa bá quyền của Mỹ vẫn bộc lộ rõ tham vọng
lãnh đạo thế giới. Cùng lúc đó thì sự vươn lên mạnh mẽ của các siêu
cường khác ngày càng bộc lộ rõ. Cục diện an ninh thế giới thật khó đoán
định.
Sự kiện 11/9 làm rung động toàn cầu và tác động mạnh mẽ, làm
chuyển hóa sâu sắc cục diện an ninh thế giới. Có thể nói sự kiện ngày 11-
9-2001 đã mở ra cục diện thứ hai thời hậu Chiến tranh lạnh. Người ta
nhắc tới Chủ nghĩa khủng bố trong mọi vấn đề an ninh toàn cầu. Nó như
là mối đe dọa an ninh thế giới nổi bật nhất trong những năm đầu thế kỷ
XXI.
Theo tác giả người Nga Sergej Vladimovich Kortunov, cuộc tấn
công ngày 11/9/2001 vào nước Mỹ và hoạt động chống khủng bố diễn ra
24
sau đó, dù không nên thổi phồng ảnh hưởng trực tiếp của nó, đã nói lên
những thay đổi có tính chất lâu dài, ảnh hưởng rõ rệt đến cơ cấu các quan
hệ quốc tế, đến đường phân chia nền chính trị thế giới, đến sự đổ vỡ trật
tự thế giới cũ và hình thành trật tự thế giới mới. Thế giới đứng trước
những thách thức an ninh cực kỳ to lớn.
Một là, trật tự thế giới mới từng bước được hình thành, trong đó các
nước lớn đang muốn nổi lên như một cực trong thế giới đa cực đó. Các
cực cấu thành có khả năng sẽ là Mỹ – EU – Nhật Bản – Nga – Trung