những tác động của việc việt nam tham gia vào cộng đồng an ninh asean - Pdf 22

[1]

Tiểu luận

Những tác động của việc Việt Nam tham
gia vào cộng đồng an ninh ASEAN [2] MỤC LỤC
Tóm tắt ___________________________________ Error! Bookmark not defined.
Lời mở đầu ________________________________ Error! Bookmark not defined.
1. Cộng đồng an ninh ASEAN là gì? ___________________________________ 6
1.1. Mục đích, nguyên nhân thành lập ASC _______________________________ 6
1.2. Tính chất: ______________________________________________________ 8
1.3. Nhận xét ______________________________________________________ 9
2. Lợi ích với an ninh quốc gia và thách thức khi Việt Nam tham gia vào ASC __ 10
2.1. Lợi ích _______________________________________________________ 10
2.2. Thách thức ____________________________________________________ 16
3. Ý nghĩa của việc tham gia Cộng đồng an ninh ASEAN với chính sách đối ngoại

hưởng của những đan xen về mặt lợi ích giữa các quốc gia thành viên và các nước lớn
có trong khu vực.
Ngay khi ASC được thành lập, Việt Nam đã là một thành viên và có những
đóng góp tích cực cho việc hình thành và phát triển của ASC. Xét một cách tổng thể,
ASC đem lại một môi trường hòa bình, phát triển trong khu vực, một điều cực kì quan
trọng với an ninh, phát triển của Việt Nam. Cụ thể hơn, những công cụ mà ASC sở
hữu cũng tăng cường việc đảm bảo an ninh cho Việt Nam. Đó là những công cụ tuy
không mới như TAC (Hiệp ước thân hữu và hợp tác ở Đông Nam Á) hay SEANWFZ
(Hiệp ước Đông Nam Á không có vũ khí hạt nhân) nhưng được ASC tăng cường sức
mạnh bằng việc kêu gọi sự tham gia của các nước lớn. Đây là điều hết sức thuận lợi
với an ninh của Việt Nam vì an ninh với các nước lớn bao giờ cũng là một trong
những ưu tiên hàng đầu của Việt Nam trong khi Việt Nam chưa nhận được một sự
[4]

đảm bảo nào về mặt an ninh thông qua các cam kết song phương của các nước lớn.
ASC cũng có những biện pháp để giải quyết vấn đề biển Đông vốn rất phức tạp với an
ninh Việt Nam bằng việc đưa ra cơ chế tập thể các nước ASEAN đàm phán với Trung
Quốc để cho ra đời Bộ các quy tắc ứng xử của cac bên ở biển Đông (COC). Đây là
một cơ sở pháp lí cực kì quan trọng nhằm giải quyết một cách cơ bản lâu dài những
tranh chấp trên khu vực này mà nếu chỉ mình Việt Nam giải quyết thì rất khó thành
công. Nhằm giải quyết các nguy cơ an ninh phi truyền thống, ASC cũng đưa ra một
loạt công cụ mà tiêu biểu là Công ước ASEAN chống khủng bố, các cơ chế chống tội
phạm xuyên quốc gia. Đây là những vấn đề có tính vượt ra ngoài biên giới quốc gia và
đương nhiên Việt Nam cần một cơ chế an ninh có tính tập thể như ASEAN để giải
quyết.
Bên cạnh những mặt lơi ích to lớn, chúng ta cũng phải nhìn nhận những thách
thức mà Việt Nam gặp phải khi tham gia vào cộng đồng này. Đó là những thách thức
đến từ sự khác biệt về mặt ý thức hệ, lơi ích quốc gia, sự e ngại của các nước ASEAN
về những vấn đề an ninh tiềm tàng trong quan hệ giữa Việt Nam với những nước lớn
như Mỹ và Trung Quốc.

nước ta vẫn sẽ tiếp diễn”.
Đứng trước các nguy cơ đe doạn an ninh đó, cùng năm 2003, Việt Nam là một
trong số các nước đã kí vào Tuyên bố hòa hợp ASEAN II và thông qua việc thành lập
Cộng đồng an ninh ASEAN. Việc Việt Nam tham gia vào một cơ chế an ninh khu vực
như ASC là một điều còn khá mới mẻ nhưng rõ ràng là có ý nghĩa lớn với chính sách
đối ngoại và an ninh quốc gia của Việt Nam nhất là khi phải đối đầu với một loạt nguy
cơ mới nảy sinh. Từ đó đến nay, mặc dù thời gian không phải là dài nhưng cũng đủ
để đánh giá những tác động ban đầu của việc tham gia ASC lên chính sách đối ngoại
của Việt Nam. Việc tham gia ASC đem lại lợi ích hay thách thức gì cho Việt Nam?
Với tư cách là một phần của ASC, chính sách đối ngoại của Việt Nam có những thay
đổi như thế nào? [6] 1. Cộng đồng an ninh ASEAN là gì?
Cộng đồng an ninh ASEAN là một trong 3 trụ cột để xây dựng Cộng đồng
ASEAN với tầm nhìn ASEAN đến năm 2020. Khái niệm cộng đồng an ninh ASEAN
được nêu ra tại Tuyên bố Hoà hợp ASEAN II (Hay còn gọi là Tuyên bố Bali II) năm
2003. Một năm sau, các nhà lãnh đạo ASEAN đã thông qua Lộ trình hành động của
ASC nằm trong Chương trình hành động Vientiane nhằm hiện thực hóa Cộng đồng an
ninh ASESAN. Năm 2007, ASEAN đã quyết định đẩy nhanh quá trình thành lập ASC
sớm 5 năm (năm 2015 so với mục tiêu ban đầu là 2020).
1.1. Mục đích, nguyên nhân thành lập ASC
Theo Mục 1, Tuyên bố hòa hợp ASEAN II, thì mục đích của việc thành lập
ASC là rất rõ ràng:

nước ASEAN với những hành động như: Năm 2003, dồn dập Trung Quốc nâng cấp
quan hệ Đối tác chiến lược với ASEAN, tham gia Hiệp ước Thân thiện và Hợp tác của
ASEAN, đồng thời thể hiện vai trò chủ đạo trong việc đẩy mạnh hợp tác Đông Á.
Năm 2004, Trung Quốc đã nâng cao vai trò của mình trong Diễn đàn Khu vực
ASEAN (ARF) bằng việc thúc đẩy lập Hội thảo Chính sách An ninh ARF dành cho
các quan chức quốc phòng. …
1

Các nước lớn khác như Nhật Bản, Nga hay EU cũng đều muốn lôi kéo các
nước ASEAN vào vòng ảnh hưởng của họ. Nhật Bản có chính sách “hướng về châu
Á” mà trọng tâm là khu vực Đông Nam Á. Nhật Bản gia tăng ảnh hưởng của họ chủ
yếu bằng hình thức kinh tế với việc thúc đẩy hợp tác kinh tế- thương mại, tăng cường
cung cấp ODA cho các nước trong khu vực. EU có chính sách “châu Á mới” nhằm
tăng sự hiện diện tại khu vực châu Á nói chung và Đông Nam Á nói riêng, Nga cũng
muốn trở lại sau khi mất ảnh hưởng vào thời kì đầu sau khi kết thúc Chiến tranh lạnh.
Thứ hai, ngay trong khu vực Đông Nam Á vẫn tồn tại những yếu tố gây bất ổn
như mâu thuẫn về biên giới, lãnh thổ giữa các quốc gia (đặc biệt là mâu thuẫn ở khu

1
Ths. Luận Thuỳ Dương, “Hướng tới cộng đồng an ninh ASEAN: Triển vọng cộng đồng và vai trò của Việt
Nam”, Tham luận tại Hội thảo quốc tế “Cộng đồng ASEAN trong bối cảnh mới”, 8/2007

[8]

vực biển Đông), tình hình bất ổn ở một số nước như Thái Lan, Campuchia,
Indonesia…
Thứ ba là nguy cơ của các mối đe dọa an ninh phi truyền thống như các vấn đề
như nạn khủng bố, tình trạng buôn lậu vũ khí, ma tuý, phụ nữ và trẻ em; đại dịch bệnh
SARs, cúm gia cầm… đã khiến các nước ASEAN nhận thấy, cần phối hợp hành động
vì đây là những vấn đề xuyên quốc gia và chỉ có thể giải quyết bằng các giải pháp khu

Nam Á là một khu vực có vị trí địa-chính trị chiến lược và tất cả các nước lớn đều có
những lợi ích không nhỏ tại đây.
Thứ ba, ASC không xâm phạm chủ quyền, lãnh thổ của các quốc gia thành
viên. Đây là nguyên tắc cơ bản, không chỉ có ở ASC mà là của tất cả các hoạt động
của ASEAN. Mục 2, phần A, Tuyên bố hòa hợp ASEAN khẳng định: “ASC ghi nhận
chủ quyền của các quốc gia thành viên nhằm theo đuổi chính sách đối ngoại và sự sắp
xếp phòng thủ riêng”. Với điều này, ASC đã bảo đảm tính đa dạng trong thống nhất
của các thành viên ASEAN. Trong phạm vi lãnh thổ của mình, các quốc gia có hoàn
toàn chủ quyền về việc hoạch định chính sách an ninh – đối ngoại. Điều này vừa trấn
an các nước khu vực vừa đảm bảo sự các nước lớn không mất quyền lợi trong khu vực
khi vẫn có thể có thể có những thỏa thuận riêng về hợp tác an ninh – chính trị với từng
nước.
Thứ tư, ASC không có tính bắt buộc. ASC không có mục đích hòa nhập chính
sách an ninh của các nước thành viên mà chỉ yêu cầu các nước thành viên liên kết an
ninh của nước mình với an ninh của cả khu vực. Các công cụ chính của ASC là
ZOPFAN, SEANWFZ, TAC, DAC I và DAC II đều là những chuẩn mực không có
tính ràng buộc mà chủ yếu có tính kêu gọi.
1.3. Nhận xét
Qua các phân tích về mục đích thành lập và tính chất của ASC cho thấy, ASC
thực sự là một cộng đồng an ninh có tính chất toàn diện. (1) ASC đã tính toán được cả
lợi ích của các nước trong khu vực và các nước lớn khi không làm mất đi chủ quyền
của các quốc gia thành viên đồng thời không khiến lợi ích của các nước lớn bị ảnh
hưởng. Thậm chí, với việc thành lập cộng đồng ASEAN, các nước lớn có thể yên tâm
về việc an ninh ở Đông Nam Á sẽ được đảm bảo và chuyển hướng chú ý về an ninh
sang các khu vực chiến lược khác của họ trên thế giới. (2). Mục đích chính của ASC
là vì một Đông Nam Á hòa bình, phát triển nên yếu tố hợp tác an ninh toàn diện được
đặt lên hàng đầu. Có thể thấy rõ là mặc dù là cộng đồng an ninh nhưng ASC không
đặt nặng vấn đề hợp tác quân sự mà tập trung vào hợp tác chống lại các nguy cơ an
ninh phi truyền thống, trong đó có cả an ninh kinh tế, văn hóa – xã hội. Các nước
ASEAN đều hiểu rằng, trong thời đại ngày nay thì không thể tách rời các yếu tố văn

của Cộng đồng này mà không lo sợ chủ quyền của mình bị xâm phạm hay khiến cho
các nước lớn nghi ngại về việc Việt Nam gia nhập một liên minh quân sự. Những
điểm tương đồng như vậy là cơ sở cho lợi ích mà Việt Nam được hưởng khi tham gia

3
Tài liệu học tập Nghị quyết Hội nghị lần thứ tám Ban Chấp hành Trung ương Đảng khoá IX, Nxb CTQG, H.
2003
4
Đảng cộng sản Việt Nam, Nghị quyết đại hội đại biểu toàn quốc Đảng cộng sản Việt Nam lần X
[11]

vào ASC thông qua một loạt công cụ mới mà ASC đưa ra để bảo đảm an ninh quốc
gia của Việt Nam.
Thứ nhất, tất cả các công cụ mà ASC đưa ra trong chương trình hành động có
mục đích cuối cùng là giúp tạo dựng môi trường Đông Nam Á hòa bình, phát triển.
Đây là yếu tố sống còn với an ninh của Việt Nam vì Việt Nam có mối liên hệ chặt chẽ
về địa lý, kinh tế, an ninh với các nước trong khu vực. Khi hòa bình ở Đông Nam Á bị
phá vỡ thì có thể sẽ kéo theo phản ứng dây chuyền, đe dọa trực tiếp đến an ninh của
Việt Nam. Chiến lược bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới chỉ rõ: “lấy việc giữ vững
môi trường hòa bình, ổn định để phát triển kinh tế-xã hội là lợi ích cao nhất của Tổ
quốc”. Đối với Việt Nam, môi trường quan trọng nhất không gì khác ngoài khu vực
Đông Nam Á. Khi và chỉ khi, Đông Nam Á có hòa bình thì an ninh của Việt Nam mới
được đảm bảo.
Thứ hai, thông qua các chuẩn mực, cơ chế của ASC, Việt Nam có cơ hội ràng
buộc các nước lớn vào việc đảm bảo an ninh của Việt Nam. Trong chương trình hành
động, ASC không tạo ra những công cụ mới mà tiếp tục sử dụng các chuẩn mực về an
ninh đã có tại khu vực. Tuy nhiên, giá trị của ASC ở chỗ: khi các chuẩn mực riêng lẻ
tồn tại một cách thống nhất thì an ninh ở khu vực Đông Nam Á sẽ được đảm bảo bằng
một cơ chế rõ ràng và có khả năng duy trì hòa bình, ổn định trong một thời gian dài.
Đây là điều các nước lớn mong muốn và họ có thể chuyển hướng chú ý ra an ninh ở

hiệp ước an ninh, có thể gây nghi ngại cho các nước lớn và các nước trong khu vực về
một liên minh quân sự giữa Việt Nam và nước lớn đó. Trong khi đó, ở bất kì thời
điểm, hoàn cảnh như thế nào thì mối đe dọa lớn nhất với an ninh Việt Nam vẫn đến từ
các nước lớn. Do đó, với TAC, Việt Nam có cơ sở pháp lí quan trọng để buộc các
nước lớn sẽ phải “tôn trọng độc lập, chủ quyền, bình đẳng, thống nhất lãnh
thổ…không chịu sự can thiệp từ bên ngoài vào công việc nội bộ, giải quyết các tranh
chấp bằng hình thức hòa bình, không sử dụng hay đe dọa sử dụng vũ lực.”
9
của Việt
Nam (vì Việt Nam là một bên tham gia TAC).
Một công cụ cũng hết sức quan trọng khác của ASC là SEANWFZ (Hiệp ước
Đông Nam Á không có vũ khí hạt nhân). Mục đích của hiệp ước này là nhằm không
cho phép các nước tham gia vào hiệp ước hay các nước tham gia hiệp ước cho phép
một nước khác sử dụng lãnh thổ của mình để “phát triển, sản xuất, sở hữu hay kiểm
soát vũ khí hạt nhân, xây dựng nhà máy, vận chuyển vũ khí hạt nhân dưới bất kì hình
thức nào, thử hay sử dụng vũ khí hạt nhân”
10
. Đối tượng chính của Hiệp ước này
không phải là các nước trong khu vực mà là các nước có sở hữu vũ khí hạt nhân. Hiện
nay, cả 5 nước lớn có vũ khí hạt nhân đều chưa tham gia vào SEANWFZ nhưng
Trung Quốc, Nga đã bày tỏ thái độ sẵn sàng ủng hộ Hiệp ước này.
11
Các nước lớn
khác cũng đang xem xét việc tham gia Hiệp ước. Do đó, ASC quyết định sẽ “giải
quyết các vấn đề còn tồn tại để thúc đẩy các nước có sở hữu vũ khí hạt nhân sớm kí

7
"Japan Instrument of Accession to the Treaty of Amity and Cooperation in Southest Asia",

8

nhóm làm việc ASEAN – Trung Quốc về việc thực hiện Tuyên bố về ứng xử giữa các
bên về vấn đề biển Đông (DOC), thành lập cơ chế giám sát việc thực hiện DOC và
làm việc nhằm tiến tới việc cho ra đời Bộ luật về ứng xử giữa các bên ở biển Đông
(COC)”.
13
Hiện nay, cơ sở để giải quyết các tranh chấp giữa các bên trên khu vực
biển Đông chủ dựa trên DOC (có tính đến Hiến chương LHQ, Công ước luật biển
1982, TAC nhưng DOC là cụ thể nhất).
Theo Tuyên bố cách ứng xử của các bên ở Biển Đông, các bên đồng ý tự kiềm
chế, tránh những hành động có thể gây căng thẳng và xung đột tại Biển Đông; tổ chức
tiếp xúc thường xuyên giữa giới quân sự hai bên; và thông tin cho nhau về những cuộc
tập trận. Tuy nhiên, DOC chỉ là một tuyên bố, không có tính ràng buộc giữa các bên.
Hơn nữa, các vấn đề được đề cập trong DOC cũng chỉ mang tính chung chung, nhất là

12
Annex for ASEAN Security Community Plan of Action,
13
ANNEX for ASEAN Security Community Plan of Action,
[14]

phạm vi điều chỉnh của DOC. DOC chỉ ghi là phạm vi trên biển Đông chứ không phải
các vùng tranh chấp trên biển Đông như ở hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa. Vì
vậy, một Bộ quy tắc ứng xử giữa các bên ở biển Đông là hết sức cần thiết để làm rõ
ràng các vấn đề còn gây tranh cãi trên biển Đông. Qua đó mới có khả năng giải quyết
các tranh chấp, bảo đảm hòa bình, ổn định trên khu vực này.
Việc ASC tăng cường sức mạnh cho các nước ASEAN bằng việc tạo ra nhóm
làm việc chung giữa các nước ASEAN với Trung Quốc và xác định rõ việc sẽ thúc
đẩy việc xây dựng COC thì rõ ràng COC có khả năng trở thành hiện thực hơn. Do
vậy, Việt Nam có cơ hội để giải quyết vấn đề tranh chấp chủ quyền trên khu vực biển
Đông một cách cơ bản, lâu dài. Vì nếu chỉ một mình đàm phán việc soạn thảo COC

khủng bố, trao đổi thông tin tình báo, ngăn chặn việc các tổ chức khủng bố sử dụng
lãnh thổ nước này để tấn công nước khác như trong nội dung của Hiệp ước ASEAN
chống khủng bố là những biện pháp hữu hiệu nhằm đảm bảo an ninh của Việt Nam
trước nguy cơ khủng bố.
Với các mối đe dọa an ninh phi truyền thống khác, ASC cũng đã thúc đẩy các
nước ASEAN hợp tác nhằm ngăn chặn những mối đe dọa này. Các lĩnh vực được
ASC ưu tiên thúc đẩy các nước ASEAN giải quyết là buôn bán ma túy, buôn người,
cướp biển, buôn bán vũ khí, rửa tiền, tội phạm kinh tế quốc tế và tội phạm công nghệ
cao. Tại Hội nghị cấp cao ASEAN tháng 12-2005, các nhà lãnh đạo ASEAN đã nhất
trí bổ sung hợp tác về các vấn đề an ninh năng lượng, xử lý thiên tai, phòng chống
dịch bệnh nhất là dịch cúm gia cầm đang lan rộng thông qua hình thức: mở rộng hợp
tác song phương và đa phương nhằm tăng cường trao đổi thông tin, trao đổi nhân sự;
đào tạo, nâng cao năng lực công tác chuyên môn, nghiệp vụ; tăng cường phối hợp các
hoạt động thực tiễn về các vấn đề an ninh phi truyền thống mới nảy sinh.
15
. Đây đều là
những lĩnh vực hết sức mới mẻ với Việt Nam và hợp tác trong khu vực Đông Nam Á
là hết sức cần thiết để Việt Nam có thể ngăn chặn, giải quyết và đẩy lùi những nguy
cơ an ninh này .
Như vậy, có thể thấy lợi ích mà ASC đem lại cho Việt Nam ở hai mặt: (1)
ASC giúp tạo ra một môi trường hòa bình, phát triển ở khu vực Đông Nam Á, qua đó
tạo môi trường, vành đai an ninh đảm bảo cho sự phát triển của Việt Nam; (2) Với yếu
tố “cộng đồng”, Việt Nam tận dụng được sức mạnh chung của ASEAN trong việc giải
quyết những vấn đề an ninh mà nếu chỉ có mình Việt Nam thì sẽ trở nên cực kì phức
tạp, khó khăn. Với những lợi ích to lớn như vậy, chắc chắn tác động của việc tham gia
vào ASC với chính sách đối ngoại của Việt Nam là không hề nhỏ. 15
Trần Văn Trình, "”An ninh phi truyền thống, một khái niệm mới và hướng hợp tác mới”, Tạp chí cộng sản

trên biển Đông. So với các nước Đông Nam Á khác thì tranh chấp trên biển Đông
giữa Việt Nam và Trung Quốc vẫn là căng thẳng, phức tạp nhất. Việt Nam cũng có
những mâu thuẫn không hề nhỏ với Mỹ đến từ việc khác biệt lớn về ý thức hệ.
[17]

Tóm lại, mặc dù những khác biệt, mâu thuẫn trên không phải cơ bản nhưng nếu
không xử lí khéo léo thì tiến trình hợp tác với các nước ASEAN trong khuôn khổ ASC
có thể bị chậm lại thậm chí đổ vỡ.
3. Ý nghĩa của việc tham gia Cộng đồng an ninh ASEAN với chính sách đối
ngoại của Việt Nam.
Việc Việt Nam tham gia vào ASC chính là một bước hội nhập sâu hơn trong
tiến trình hợp tác của Việt Nam với khu vực ASEAN. Trước đó, Việt Nam chủ yếu
hợp tác trong khu vực ở ASEAN ở lĩnh vực kinh tế, hợp tác trong lĩnh vực an ninh
còn ở mức độ thấp. Đối với Việt Nam, hợp tác trong lĩnh vực an ninh trong khu vực
Đông Nam Á là một lĩnh vực rất mới và rất nhạy cảm nhưng cũng chính vì điều đó đã
chứng tỏ các nhà lãnh đạo Việt Nam đã nhận thức được tầm quan trọng của một cộng
đồng an ninh trong khu vực trong việc đảm bảo an ninh của Việt Nam. Từ đó, chính
sách đối ngoại của Việt Nam đã có thay đổi khá quan trọng theo hướng hợp tác toàn
diện trong khu vực Đông Nam Á thay vì chỉ “nâng cao hiệu quả và chất lượng hợp tác
với các nước ASEAN”
16
(nghĩa là chỉ tăng cường hợp tác trên cơ sở những lĩnh vực
hợp tác sẵn có). Năm 2006, 3 năm sau khi Việt Nam tham gia vào ASC, nghị quyết
đại hội Đảng lần X tuy không nói rõ vai trò của ASC với Việt Nam nhưng đã khẳng
định “thúc đẩy quan hệ hợp tác toàn diện và có hiệu quả với các nước ASEAN”. Một
phần của yếu tố “toàn diện” ở đây chính là việc nâng cao mức độ hợp tác trong lĩnh
vực an ninh giữa Việt Nam và ASEAN.
Đằng sau việc Việt Nam tham gia vào ASC là việc Việt Nam nâng cao mức độ
trong việc triển khai tập hợp lực lượng ở khu vực Đông Nam Á. Chính sách tập hợp
lực lượng ở khu vực đã được bắt đầu từ sau Nghị quyết 13 của Bộ chính trị năm 1988

nước lớn ngoài khu vực. 17
Tài liệu học tập Nghị quyết Hội nghị lần thứ tám Ban Chấp hành Trung ương Đảng khoá IX, Nxb CTQG, H.
2003
[19]

Kết luận
Qua các phân tích, mặc dù vẫn còn những thách thức không nhỏ khi Việt Nam
tham gia vào ASC nhưng những lợi ích mà ASC đem lại vẫn là mặt chính để bảo đảm
an ninh và tồn vong của Việt Nam. Nhận thức được những lợi ích to lớn này, Việt
Nam đã tham gia tích cực vào quá trình xây dựng ASC nhằm biến cộng đồng này
thành hiện thực trước năm 2015. Qua đó, chính sách đối ngoại của Việt Nam cũng có
những bước thay đổi tích cực như nâng cao mức độ việc tập hợp lực lượng trong khu
vực và chính sách kết hợp đối ngoại với an ninh quốc phòng. Trong Chiến lược bảo vệ
tổ quốc trong tình hình mới, Đảng cộng sản đã xác định cùng với sức mạnh bên trong
thì việc hợp tác với ASEAN là yếu tố quyết định việc đảm bảo an ninh, phát triển của
Việt Nam trong tình hình hiện nay: “Với những thuận lợi đó, đồng thời biết khai thác
những lợi thế của nước ta và ASEAN, mở rộng quan hệ quốc tế, chúng ta có khả năng
giữ vừng hòa bình, ổn định, để thực hiện thắng lợi sự nghiệp công nghiệp hóa đất

Nguyễn Thu Mỹ, “Cộng đồng an ninh ASEAN từ ý tưởng đến hiện thực”, Tạp chí
Cộng Sản điện tử.
Trần Văn Trình, "”An ninh phi truyền thống, một khái niệm mới và hướng hợp tác
mới”, Tạp chí cộng sản điện tử
“Russia, China Stands for Nuclear-free Zone in Southeast Asia”, People’s Daily
Online
ANNEX for ASEAN Security Community Plan of Action
Annex for ASEAN Security Community Plan of Action
ASEAN Convention on Counter Terrorism
Declaration of ASEAN Concord II”, ASEAN
Instrument of Accession to the Treaty of Amity and Cooperation in Southeast Asia
Instrument of Accession to the Treaty of Amity and Cooperation in Southeast Asia by
Russian Federation
Japan Instrument of Accession to the Treaty of Amity and Cooperation in Southest
Asia
Treaty of Amity and Cooperation in Southeast Asia
Treaty on the Southeast Asia Nuclear Weapon-Free Zone


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status