A/ ĐẶT VẤN ĐỀ
Thuế là phạm trù kinh tế, vừa là phạm trù lịch sử .Lịch sử xã hội loài
người đã chứng minh rằng thuế ra đời là một tất yếu khách quan, gắn liền với sự
phát triển của nhà nước. Ở Việt Nam, cùng với quá trình phát triển của đời sống
kinh tế - xã hội, hệ thống pháp luật thuế được hình thành và ngày càng phát triển.
Pháp luật thuế có hệ thống quy phạm phức tạp, chi tiết, thường xuyên được sửa
đổi thay thế bổ sung để đáp ứng nhu cầu của nhà nước và phù hợp với đời sống
kinh tế - xã hội. Để hiểu rõ hơn về pháp luật thuế ở Việt Nam nhóm chúng em
xin được trình bày đề tài “ Phân tích để làm rõ các yếu tố chi phối pháp luật
thuế ở nước ta hiện nay , ý kiến pháp lý của nhóm về sự thể hiện các yếu tố
chi phối này trong hệ thống pháp luật thuế .”
B/ GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ
I. Lý luận chung về thuế, pháp luật thuế
1. Khái niệm thuế
Thuế là một phạm trù kinh tế, pháp lý mang tính lịch sử, sự xuất hiện tồn tại
và phát triển của thuế luôn luôn gắn liền với sự ra đời và phát triển của Nhà nước.
Ở Việt Nam thuế bắt đầu xuất hiện từ đầu thời kì phong kiến. Xã hội ngày càng
phát triển, đòi hỏi bộ máy quyền lực Nhà nước phải hoàn thiện dẫn tới việc gia
tăng các khoản chi tiêu cho bộ máy đó, đồng thời sự phát triển về kinh tế - xã hội
đã làm nảy sinh nhiều quan hệ phức tạp hơn. Tất cả những lý do đó mà các thứ
thuế khác nhau lần lượt ra đời với những sắc thái rất đa dạng, nguồn thu của thuế
tồn tại dưới nhiều hình thức, mỗi một loại thuế có vai trò và mục đích khác nhau
với phạm vi, đối tượng nộp thuế và cách tính thuế khác nhau. Như vậy, thuế là
hiện tượng tất yếu, xuất hiện và tồn tại cùng với hiện tượng kinh tế xã hội khác. Sự
xuất hiện và phát triển của thuế gắn với mỗi giai đoạn, lợi ích mà nhà nước sử
dụng nó làm cộng cụ điều tiết nguồn thu của nền kinh tế xã hội ấy.
Mặc dù có nhiều cách định nghĩa về thuế như vậy nhưng chúng ta có thể
thấy: “Thuế là một khoản thu mang tính chất bắt buộc từ các tổ chức, cá nhân
phải nộp cho nhà nước khi đủ những điều kiện nhất định”.
Với cách nhìn nhận khách quan về thuế như vậy, có thể thấy thuế là một
thu từ phí, lệ phí).
- Thuế luôn gắn với yếu tố quyền lực: Thuế xuất hiện cùng với sự xuất hiện
của Nhà nước, thực hiện cung cấp cơ sở vật chất cho Nhà nước thực hiện các chức
năng và nhiệm vụ của mình. Bằng quyền lực chính trị Nhà nước tạo ra cho thuế
tính cố định, sự tuân thủ của đối tượng nộp thuế. Các yếu tố như đối tượng nộp
thuế, thuế suất…được quy định trước và mang tính ổn định trong một khoảng thời
gian nhất định. Chỉ gắn với yếu tố quyền lực, thuế mới đảm bảo hoàn thành nhiệm
vụ tạo nguồn thu nhập tài chính cho nhà nước.
3. Pháp luật thuế và hệ thống pháp luật thuế
a. Pháp luật thuế
Pháp luật thuế là tổng hợp các quy phạm pháp luật điều chỉnh các quan hệ
xã hội phát sinh trong quá trình thu, nộp thuế giữa cơ quan nhà nước có thẩm
quyền và người nộp thuế nhằm hình thành nguồn thu ngân sách nhà nước để thực
hiện các mục tiêu xác định trước.
Như vậy, ta có thể thấy được vai trò quan trọng của pháp luật thuế đối với
việc điều chỉnh các quan hệ xã hội phát sinh trong quá trình thu, nộp thuế giữa cơ
quan nhà nước có thẩm quyền và người nộp thuế. Pháp luật thuế là cơ sở pháp lý
để cho quá trình thu, nộp thuế diễn ra theo đúng trình tự, thủ tục do luật định, hiệu
quả, đặc biệt nó là cơ sở pháp lý quan trọng trong giải quyết các vi phạm về thuế
và khiếu nại thuế từ đó hạn chế tình trạng trốn thuế, gian lận thuế gây thất thoát
cho nguồn thu vào quỹ ngân sách nhà nước. Tóm lại, bằng phương pháp mệnh
lệnh quyền uy, pháp luật thuế điều chỉnh những nhóm quan hệ sau: nhóm quan hệ
phát sinh trong quá trình quản lí thuế, nhóm quan hệ phát sinh trong quá trình thực
hiện nghĩa vụ thuế, nhóm quan hệ phát sinh trong quá trình xử lý vi phạm và khiếu
nại thuế.
b. Hệ thống pháp luật thuế
Theo tinh thần của lý luận chung về nhà nước và pháp luật thì ta có thể hiểu
“hệ thống pháp luật thuế là tổng thể các quy phạm pháp luật về thuế có mối quan
hệ nội tại thống nhất với nhau, được phân định thành các chế định pháp luật, các
ngành luật và được thể hiện trong các văn bản do nhà nước ban hành theo nhữn
nông nghiệp; dịch vụ thu hoạch sản phẩm nông nghiệp. (Khoản 3, Điều 5, Luật
thuế GTGT 2008).
- v.v
b. Thực trạng phát triển kinh tế - xã hội của đất nước.
Bên cạnh chính sách phát triển kinh tế - xã hội của Đảng, Nhà nước,
thực trạng tình hình phát triển kinh tế - xã hội của đất nước cũng là một nhân tố
làm ảnh hưởng đáng kể tới pháp luật thuế ở Việt Nam hiện nay.
Thuế có vai trò quan trọng trong việc điều chỉnh nền kinh tế. Thuế có ảnh
hưởng trực tiếp đến giá cả và thu nhập nên căn cứ vào từng tình huống kinh tế,
Nhà nước có thể sử dụng thuế làm công cụ điều chỉnh nền kinh tế. Các qui
định về đối tượng, pham vi đánh thuế, thuế suất,điều kiện miễn, giảm thuế…
Tóm lại, thông qua thuế Nhà nước tác động tích cực đến việc thúc đẩy sản
xuất phát triển trên cơ sở tận dụng và sử dụng hợp lý mọi nguồn lực của đất
nước trong việc điều chỉnh quan hệ cung cầu và cơ cấu kinh tế.
Như vậy, việc thực thi thuế là nhằm những mục đích về kinh tế - xã hội. Vì
vậy, sự phát triển của nền kinh tế - xã hội sẽ có những tác động nhất định tới
việc thực thi pháp luật thuế. Hiện nay, nước ta đang bước vào nền kinh tế thị
trường với những thành tựu đáng kể. Tốc độ tăng tổng sản phẩm trong nước đạt
5,83%, gấp gần 1,9 lần tốc độ tăng trong quý I/2009. Đáng chú ý là sự phục hồi
diễn ra ở hầu hết các ngành, các lĩnh vực kinh tế then chốt: Giá trị sản xuất
nông, lâm nghiệp và thủy sản tăng 5,8%; giá trị sản xuất công nghiệp tăng
13,6%; thị trường trong nước tiếp tục phát triển ổn định với tốc độ tăng trưởng
cao, trong đó, tổng mức bán lẻ hàng hóa và dịch vụ tiêu dùng theo giá thực tế
tăng 24,1%, hoạt động du lịch sôi nổi…
Nhìn một cách tích cực, mọi mặt của đời sống, kinh tế, xã hội đều có sự
tiến bộ rõ rệt. Vì thế, về phía nhà nước, khoản thuế thu thêm sẽ ngày càng tăng.
Bởi lẽ, người tiêu dùng (người chịu thuế) có đời sống khá giả hơn, sẵn sàng bỏ
ra khoản tiền lớn để mua những hàng hóa đã được tính thuế. Về phía người nộp
thuế, họ cũng sẽ thực thi pháp luật thuế hiệu quả hơn nếu như bước vào nền
kinh tế thị trường, nền kinh tế phát triền.
thay đổi và tác động không nhỏ đến hệ thống pháp luật thuế. Đó là, Việt Nam
vừa thoát khỏi danh sách các nước nghèo đồng nghĩa với việc giảm đáng kể các
nguồn lực tài trợ từ bên ngoài, kể cả viện trợ cho phát triển nguồn nhân lực.
Thực thi đầy đủ cam kết quốc tế song phương và đa phương, mở cửa hoàn toàn
thị trường nội địa chắc chắn làm giảm đáng kể nguồn thu ngân sách nhà nước
từ hàng hóa nhập khẩu, vừa tạo cơ hội nhưng cũng vừa tăng sức ép đối với việc
cơ cấu lại các thu ngân sách nhà nước. Như vậy, để đảm bảo nhu cầu của ngân
sách nhà nước trong bối cảnh mới thì hệ thống pháp luật thuế cũng phải có sự
thay đổi phù hợp để đảm bảo cho sự phát triển của đất nước.
1.3. Ý thức chấp hnh pháp luật thuế của người dân
Ý thức chấp hành pháp luật thuế của người dân là yếu tố có ảnh hưởng
quyết định tới việc thực thi pháp luật thuế. Ý thức chấp hành này thể hiện rõ rệt
qua hành vi tự khai nộp thuế của các đối tượng kinh doanh.
Các Doanh nghiệp ít khi vi phạm về thời gian quy định nộp tờ khai thuế
mà chủ yếu vi phạm về cơ chế tự khai, tự nộp thuế. Nguyên nhân là do ý thức
tự giác chấp hành pháp luật thuế của người dân Việt Nam còn kém. Nhiều
người có tư tưởng, nộp đủ thuế là “khác người”, vậy nên, họ tìm mọi cách để
gian lận, mà gian lận dễ dàng nhất là dùng hóa đơn chứng từ khống để nộp thuế
và hoàn thuế. Chất lượng kê khai được thông qua việc thực hiện đúng theo biểu
mẫu quy định, các chỉ tiêu kê khai phù hợp với thực tế phát sinh trong quan hệ
mua, bán hàng hoá dịch vụ tại cơ sở kinh doanh.
Hiện nay, qua số liệu kê khai nộp thuế cho thấy, tỷ lệ giữa số thuế GTGT
phát sinh âm trên số thuế GTGT phát sinh dương của các doanh nghiệp ngoài
quốc doanh luôn lớn hơn so với doanh nghiệp nước ngoài; có nhiều doanh
nghiệp liên tục không phát sinh số thuế GTGT phải nộp. Đối với doanh nghiệp
nước ngoài và doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài thường có số thuế
GTGT phát sinh dương lớn hơn thuế GTGT phát sinh âm (thuế GTGT đầu ra
lớn hơn thuế GTGT đầu vào); từ đó có số thuế GTGT nộp vào NSNN. Còn đối
với lĩnh vực ngoài quốc doanh thì ngược lại; nhiều doanh nghiệp có quy mô
kinh doanh khá lớn nhưng thuế GTGT đầu ra lại nhỏ hơn thuế GTGT đầu vào
2.3. Các hiệp định của Tổ chức thương mại thế giới (WTO)
Khi thực hiện một công việc nào đó liên quan tới các nước thành viên,
các nước phải tuân theo các quy định trong Hiệp định của WTO, thông thường
các nước thành viên chú ý tới thực hiện các hiệp định: Hiệp định chung về
Thuế quan và Thương mại (GATT); Hiệp định về các biện pháp đầu tư liên
quan đến thương mại (TRIMS); Hiệp định về các biện pháp đầu tư liên quan
đến thương mại (TRIPS); Hiệp định về xác định giá trị Hải quan (CVA).
III. Ý kiến pháp lý của nhóm thực hiện về sự thể hiện của các yếu tố chi phối
này đối với hệ thống pháp luật thuế.
1. Sự tác động của các yếu tố chi phối đến hệ thống pháp luật thuế.
1.1.Thứ nhất, tình hình kinh tế, chính trị trong nước và quốc tế:
Nhiệm vụ của tất cả các nước đang phát triển là tăng trưởng kinh tế, nhanh
chóng lấp đầy khoảng cách giữa các nước phát triển và các nước đang phát triển,
Việt Nam cũng không nằm ngoài xu hướng đó. Mặc dù các nước đang phát triển
( Trong đó có Việt Nam) cũng có nhiều lợi thế để thu hút đầu tư, kích thích tăng
trưởng, chẳng hạn như sẵn sàng chấp nhận phương án đầu tư vào các lĩnh vực có
khả năng sử dụng nhiều lao động, điều kiện sử dụng lao động không cao…tuy nhiên,
những lợi thế này lại là những mặt hạn chế của sự phát triển kinh tế. Vì vậy, để đảm
bảo nền kinh tế ngày càng phát triển và phát triển một cách bền vững phải xác định
tốc độ phát triển kinh tế trong ngắn hạn và dài hạn. Để thực hiện đầu tư với mục tiêu
tăng trưởng cao, yêu cầu thiết yếu về mức độ đầu tư tài chính, nguồn tài chính luôn
là áp lực đối với mọi chủ thể trong xã hội, trong đó không thể phủ nhận vai trò đầu
tư từ phía Nhà nước. Bên cạnh đó, để thu hút đầu tư, thông thường các quốc gia tìm
mọi biện pháp ưu đãi thuế. Thuế thu nhập doanh nghiệp, thuế giá trị gia tăng, thuế
xuất khẩu thường được sử dụng để thu hút đầu tư thông qua những quy định về các
trường hợp miễn, giảm thuế hoặc quy định mức thuế suất có tính thu hút. Tuy nhiên,
khi sử dụng các biện pháp khuyến khích đầu tư qua thuế, nguồn thu từ thuế bị giảm
sút do chính những yếu tố ưu đãi thu hút đầu tư. Sự giảm sút này mâu thuẫn với nhu
cầu chi tiêu ngày càng tăng của Chính phủ, gây nguy cơ thâm hụt ngân sách. Bên
cạnh đó, nền kinh tế tăng trưởng nóng chắc chắn làm cho chi phí xã hội tăng, chẳng
Đồng thời cần triển khai thực thi có hiệu quả Luật thuế tài nguyên.Bởi Việc
khai thác cạn kiệt và không có quy hoạch các loại tài nguyên diễn ra phổ biến ở Việt
Nam hiện nay không chỉ dẫn đến hậu quả triệt tiêu tài nguyên mà còn trực tiếp gây
ra tác động đến môi trường sống của con người.
1.2.Thứ hai, về nhu cầu tăng nguồn thu ngân sách Nhà nước:
Kết quả nghiên cứu về lịch sử phát triển của thuế qua các thời kì, cho thấy
thuế chiếm phần lớn trong tổng thu ngân sách Nhà nước. Hệ thống pháp luật thuế
đang tạo cơ sở pháp lý cho việc hình thành nguồn thu ổn định với tỉ trọng ngày càng
cao trong tổng thu ngân sách Nhà nước. Thu từ thuế đã thực hiện được nguyên tắc
cân đối: các khoản thu từ thuế, phí, lệ phí và các khoản thu bắt buộc khác không
những đảm bảo chi trả cho toàn bộ các khoản chi thường xuyên mà còn đáp ứng
được một phần cho chi đầu tư phát triển. Tuy nhiên, với hệ thống pháp luật thuế hiện
hành cùng với những cam kết quốc tế mà Việt Nam đã, đang và sẽ phải thực hiện,
nguồn thu từ thuế có thể bị giảm sút. Sự giảm sút không chỉ là hệ quả của việc sửa
đổi thuế xuất khẩu, nhập khẩu mà còn là hệ quả của việc sửa đổi các khoản thu từ
thuế nội địa. Thực tế đó đặt ra cho hệ thống pháp luật thuế là phải tìm ra các phương
thức thích hợp để tăng nguồn thu từ thuế.
1.3.Thứ ba, là sự tác động của quá trình hội nhập kinh tế quốc tế:
Trong tiến trình hội nhập sâu rộng vào các quan hệ quốc tế, Việt Nam đã kí
kết nhiều điều ước quốc tế với các nước trên thế giới, trong đó có những điều ước
liên quan đến thuế. Do vậy, Cần đảm bảo mức độ tương thích của luật thuế với các
điều ước quốc tế mà Việt Nam kí kết hoặc tham gia. Vấn đề này đặt ra khi Việt Nam
không chỉ ký kết các điều ước quốc tế song phương và đa phương với rất nhiều quốc
gia mà còn công nhận và cam kết tuân thủ với nhiều điều ước quốc tế đa phương
trước đó. Yêu cầu cơ bản đạt ra là phải đảm bảo tính tương đồng về nguyên tắc, định
hướng. Nguyên tắc cơ bản nhất về thuế theo thỏa thuận với các quốc gia khác
thường được đặt ra như yêu cầu tiên quyết là nguyên tắc không phân biệt đối xử,
nguyên tắc ràng buộc và cắt giảm thuế quan, nguyên tắc công khai minh bạch. Về
mức độ tương thích với hệ thống pháp luật các nước kí kết điều ước quốc tế. Cụ thể
là khi xây dựng hệ thống pháp luật thuế cần phải tuân thủ những nguyên tắc này để
thống pháp luật thuế còn nhiều quy định mâu thuẫn, chồng chéo và không hợp lý,
nên khi áp dụng vào thực tiễn sẽ gặp khó khăn, không hiệu quả. Từ việc tìm hiểu các
yếu tố chi phối pháp luật thuế và sự thể hiện của các yếu tố này trong hệ thống pháp
luật thuế Việt Nam, nhóm thực hiện xin đưa ra một số giải pháp nhằm khắc phục
những hạn chế thực tiễn của các yếu tố chi phối, tăng cường hiệu quả áp dụng pháp
luật trong lĩnh vực thuế.
2.1.Thứ nhất, hoàn thiện nhanh chóng hệ thống pháp luật thuế.
Hiện nay tiến trình cải cách hệ thống pháp luật thuế của nước ta đang bước
vào giai đoạn thứ tư, giai đoạn hoàn thiện hệ thống pháp luật thuế để đáp ứng nhu
cầu hội nhập kinh tế quốc tế.Tuy nhiên, rất nhiều quy định pháp luật thuế hiện nay
chưa được kịp thời sửa đổi cho phù hợp với đòi hỏi của nền kinh tế, nên đã không
phát huy được hiệu qảu khi áp dụng.Chính vì vậy, trong những năm tới, tiến trình
cải cách hệ thống pháp luật thuế cần phải được thực hiện nhanh chóng hơn nữa.
2.2.Thứ 2, cần xây dựng hệ thống chỉ tiêu đánh giá mức độ chấp hành pháp luật
thuế của doanh nghiệp để phục vụ công tác kiểm tra, giám sát.
Với cơ chế tự khai, tự nộp thuế, cơ quan quản lý thuế sẽ dành nhiều thời gian
hơn để thực hiện công tác giám sát thông qua hoạt động thanh tra và kiểm tra thuế.
Tuy nhiên, để hoạt động kiểm tra thuế được thực hiện hiệu quả, cần xây dựng hệ
thống chỉ tiêu đánh giá mức độ chấp hành pháp luật thuế của doanh nghiệp để việc
kiểm tra được thuận lợi hơn. Hệ thống chỉ tiêu đánh giá sẽ giúp cơ quan quản lý thuế
phân loại các chủ thể nộp thuế, từ đó, tập trung nhiều hơn đối với những chủ thể có
mức độ chấp hành pháp luật thấp để giám sát. Với một hệ thống chỉ tiêu đánh giá
hợp lý, chắc chắn công tác kiểm tra, giám sát sẽ được thực hiện hiệu quả hơn.
2.3.Thứ ba, cần tăng cường công tác bồi dưỡng đội ngũ công chức thuế và phát
triển cơ sở hạ tầng ngành thuế.
Như đã phân tích ở mục 1, sự phát triển ngày càng phức tạp của nền kinh tế
đòi hỏi hệ thống pháp luật nói chung và pháp luật thuế nói riêng phải phát triển
tương xứng. Bên cạnh đó, những cải cách trong hoạt động quản lý Nhà nước và ứng
dụng công nghệ thông tin đòi hỏi đội ngũ công chức quản lý thuế phải được bồi
dưỡng nâng cao trình độ để đáp ứng yêu cầu công tác. Cơ sở hạ tầng ngành thuế
3. Pháp luật thuế và hệ thống pháp luật thuế
II. Những yếu tố chi phối pháp luật thuế ở nước ta hiện nay.
1. Yếu tố trong nước
1.1. Tình hình kinh tế, chính trị trong nước v quốc tế
1.2. Chi phối bởi nhu cầu ngân sách của nh nước
1.3. Ý thức chấp hnh pháp luật thuế của người dân
2.Yếu tố nước ngoài
2.1 Các cam kết về thuế với các nước thành viên Diễn đàn hợp tác Châu
Á Thái Bình Dương (EPEC)
2.2. Các hiệp định tránh đánh thuế hai lần được ký kết giữa Việt Nam
và các nước
2.3. Các hiệp định của Tổ chức thương mại thế giới (WTO)
III. Ý kiến pháp lý của nhóm thực hiện về sự thể hiện của các yếu tố chi phối
này đối với hệ thống pháp luật thuế.
1. Sự tác động của các yếu tố chi phối đến hệ thống pháp luật thuế.
2. Các giải pháp nhằm khắc phục sự hạn chế của các yếu tố chi phối, góp
phần hoàn thiện hệ thống pháp luật thuế.
C/ KẾT THÚC VẤN ĐỀ
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Luật thuế GTGT 2008
2. Luật thương mại năm 2005.
3. Luật NSNN năm 2002.
4. “Một số vấn đề lí luận v thực tiễn về xây dựng v hon thiện
hệ thống pháp luật thuế Việt Nam trong tiến trình hội nhập
kinh tế quốc tế”, Đề tài khoa học cấp trường năm 2008.
5. Khương Thị Quỳnh Hương, Hon thiện pháp luật về kiểm soát
chi NSNN ở Việt Nam, Luận văn thạc sĩ, 2006.
Nông trần thu 362617
Hoàng thị phượng 361801
Hồ thị dịu 361751