MỤC LỤC
TRANG
I/ ĐẶT VẤN ĐỀ 2
II/ GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ
1. Khái quát chung về pháp luật Thuế của Việt Nam
a. Khái niệm
b. Các yếu tố chi phối luật Thuế ở nước ta hiện nay
2. Những yếu tố chi phối luật Thuế ở nước ta hiện nay
a. Những yếu tố chi phối đến việc xây dựng và ban
hành pháp luật Thuế ở nước ta
b. Những yếu tố chi phối đến việc thực thi pháp luật
Thuế ở nước ta
3. Sự thể hiện các yếu tố chi phối trong Luật
thuế nhập khẩu
2
2
2
2
3
3
7
9
III/ KẾT THÚC VẤN ĐỀ 16
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
I/ ĐẶT VẤN ĐỀ:
Pháp luật nói chung và pháp luật Thuế nói riêng khi ra đời đều chịu sự chi
phối của những nguyên nhân chủ quan và nguyên nhân khách quan nhất định. Ở
1
1
phạm vi bài làm, nhóm chúng em xin tìm hiểu về đề tài số 01: “Phân tích để làm rõ
các yếu tố chi phối luật Thuế ở nước ta hiện nay. Ý kiến pháp lý của nhóm thực
tế của Nhà nước từng thời kỳ…
Như vậy, có rất nhiều yếu tố chi phối đến pháp luật Thuế trong những hoạt
động cụ thể. Những yếu tố mà nhóm xin trình bày dưới đây được nhận định chủ
quan là những yếu tố quan trọng và có sự chi phối rõ rệt nhất.
3. Những yếu tố chi phối luật Thuế ở nước ta hiện nay:
c. Những yếu tố chi phối đến việc xây dựng và ban hành pháp luật Thuế ở nước
ta
Thứ nhất, việc xây dựng pháp luật thuế chịu sự chi phối của nhu cầu đảm bảo
vật chất, chi tiêu cho Nhà nước. Khi xây dựng một luật thuế cần phải căn cứ vào nhu
cầu thực tế này để đưa ra những quy định chính sách phù hợp. Nhận thấy, pháp luật
thuế được ban hành nhằm mục đích chủ yếu là phải đáp ứng được tối đa nhu cầu chi
tiêu cho Nhà nước, nhằm tạo lập quỹ ngân sách nhà nước.
Xuất phát từ việc Nhà nước là chủ thể duy nhất phải chịu những nghĩa vụ đặc
biệt, đó là các chi tiêu công cộng như an ninh, quốc phòng, ngoại giao, trợ cấp xã
hội, Người dân là chủ thể được hưởng kết quả của hoạt động chi tiêu này. Thuế
chính là nguồn thu quan trọng, chủ yếu vào ngân sách nhà nước. Theo quy định tại
khoản 1 Điều 2 Luật Ngân sách nhà nước: “Thu ngân sách nhà nước bao gồm các
khoản thu từ thuế, phí, lệ phí; các khoản thu từ hoạt động kinh tế Nhà nước; các
khoản đóng góp của các tổ chức và cá nhân; các khoản viện trợ; các khoản thu
khác theo quy định của pháp luật”. Mặt khác, theo quy định tại Điều 30, Điều 31
Luật Ngân sách nhà nước quy định về nguồn thu của ngân sách trung ương, ngân
sách địa phương đa phần các nguồn thu về ngân sách nhà nước được thu từ các loại
thuế như thuế giá trị gia tăng, thuế tiêu thụ đặc biệt, thuế thu nhập doanh nghiệp,
thuế đối với người thu nhập cao, Một nền tài chính quốc gia lành mạnh phải dựa
vào nguồn thu nội bộ của nền kinh tế quốc dân, xuất phát từ phạm vi hoạt động mà
đòi hỏi nhà nước phải ban hành và tổ chức thực hiện pháp luật thuế để tập trung
3
3
nguồn tài chính vào ngân sách, từ đó mới đáp ứng được nhu cầu chi ngày càng tăng.
Chính những nguồn thu từ thuế vào ngân sách nhà nước đã huy độn một phần lớn
lối này, hệ thống pháp luật thuế phải tạo điều kiện cho công nghiệp phát triển, đặc
biệt những lĩnh vực công nghiệp quan trọng, hiện đại. Ngoài ra, các qui định pháp
luật về thuế phải phản ánh được xu hướng công nghiệp hoá, hiện đại hoá trong quá
trình quản lý, thu và nộp thuế.Qua đó, đáp ứng được các yêu cầu phát triển kinh tế -
xã hội.
Nhà nước bằng pháp luật có khả năng quản lý, điều tiết mọi mặt của đời sống
xã hội. Bằng hệ thống pháp luật thuế nhà nước thể hiện ý chí của mình đối với
đường lối phát triển kinh tế một cách gián tiếp. Thông qua các quy định của pháp
luật thuế nhà nước chủ động can thiệp đến cung cầu của nền kinh tế một cách hợp lý
có sự tác động lớn đến sự ổn định và tăng trưởng kinh tế. Bằng các quy định của
pháp luật thuế, nhà nước tác động tích cực đến cung cầu của nền kinh tế trong tất cả
các giai đoạn. Trong điều kiện cạnh tranh của nền kinh tế vận hành theo cơ chế thị
trường tất yếu dẫn đến tình trạng suy thoái về tài chính ở một số doanh nghiệp. Đối
với các ngành nghề, lĩnh vực sản xuất, kinh doanh cần khuyến khích, pháp luật thuế
còn các quy định ưu đãi, miễn giảm thuế nhằm khắc phục sự suy thoái về tài chính,
tạo sự ổn định và phát triển cho các doanh nghiệp.
Trên thực tế, ta thấy pháp luật thuế là công cụ điều tiết vĩ mô của nhà nước
đối với nền kinh tế và đời sống xã hội. Nó là đòn bẩy kinh tế quan trọng, kích thích
hoặc hạn chế sản xuất. Vì vậy, khi xây dựng hệ thống pháp luật thuế ta cần căn cứ
vào điều kiện, kinh tế, xã hội để khi được ban hành pháp luật thuế sẽ thúc đẩy kinh
tế phát triển.
Thứ ba, việc xây dựng pháp luật thuế phải dựa trên căn cứ nhìn nhận bao quát
về nguồn thu, tức là các quy định pháp luật thuế phải đảm bảo không bỏ sót đối
tượng nộp thuế, đối tượng nằm trong diện cần điều tiết, vì khi đáp ứng được yêu cầu
này pháp luật thuế sẽ tạo căn cứ pháp lý để tạo nguồn thu tối đa, chính đáng và cũng
đạt được nguyên tắc công bằng, bình đẳng, hạn chế sự phân hóa giàu nghèo trong xã
hội…từ đó sẽ cân nhắc được các nhiệm vụ chi cho hợp lý. Do vậy, khi xây dựng
pháp luật thuếcần xác định đúng và đủ phạm vi điều chỉnh của mỗi loại thuế. Việc
xác định đúng và đủ phạm vi áp dụng của một loại thuế không chỉ đảm bảo nguyên
tắc công bằng, bình đẳng trong quá trình thực hiện nghĩa vụ thuế mà còn là biện
thuế trong giai đoạn hiện nay. Hệ thống thuế của Việt Nam cũng không nằm ngoài
6
6
những yêu cầu chung đó. Vấn đề này đặt ra khi Việt Nam không chỉ ký kết điều ước
song phương và đa phương với rất nhiều quốc gia và mà còn công nhận và cam kết
tuân thủ với nhiều điều ước quốc tế đa phương đã được ký kết và thực hiện trước
đó.Về mức độ tương thích với hệ thống pháp luật thuế của các quốc gia ký kết điều
ước quốc tế, yêu cầu cơ bản đặt ra là phải đảm bảo tính tương đồng về nguyên tắc,
định hướng. Khi xây dựng hệ thống pháp luật thuế cần phải tuân thủ một số nguyên
tắc nhất định để đảm bảo sự phù hợp với những cam kết về thuế giữa các nước ký
kết và tham gia các cam kết quốc tế với các nước trên thế giới và trong khu vực.
Ví dụ như nguyên tắc ràng buộc và cắt giảm thuế quan, bảo hộ thông qua thuế
quan và phi thuế quan. Nguyên tắc này đòi hỏi các quốc gia mở cửa thị trường bằng
cách giảm số thuế đánh vào hàng hoá nhập khẩu từ quốc gia ký kết, giảm thiểu sự
bảo hộ hàng hoá sản xuất trong nước thông qua hàng rào thuế nhập khẩu và các
khoản thuế đánh ở khâu nhập khẩu. Việt Nam đã có thời kỳ thực thi chính sách bảo
hộ hàng nội địa tương đối rõ ràng và nghiêm ngặt. Tuy nhiên sau khi gia nhập
ASEAN, Việt Nam đã chủ động thực hiện nhiều biện pháp khác nhau nhằm hạn chế
và từng bước loại bỏ các biện pháp hạn chế nhập khẩu phi thuế quan. Bởi lẽ, trong
khu vực ASEAN, các hạn chế về số lượng nhập khẩu được qui định đã loại bỏ ngay,
các rào cản phi thuế quan khác đã được loại bỏ trong vòng 5 năm đồng thời với việc
thực hiện tiêu chuẩn chất lượng. Đối với các thành viên tổ chức thương mại thế giới,
Việt nam tuyên bố đã chủ động thực hiện hạn chế về số lượng từ năm 2000 và cam
kết tiếp tục giảm các dòng thuế, thực hiện mức thuế suất thực tế không vượt quá so
với mức đã ràng buộc cam kết với các bên ký kết.
d. Những yếu tố chi phối đến việc thực thi pháp luật Thuế ở nước ta
Thứ nhất, yếu tố tình hình kinh tế, chính trị trong nước và các chính sách
thương mại quốc gia.
Tình hình kinh tế, chính trị trong nước và quốc tế ở một thời kì nhất định là
yếu tố có ảnh hưởng quyết định đến nội dung chính sách thuế và nội dung pháp luật
thực thi pháp luật thuế.
Ngân sách nhà nước thực hiện việc điều tiết các hoạt động kinh tế xã hội,
đồng thời tạo ra các hàng hoá, dịch vụ công cộng phục vụ cho người dân. Đối với
8
8
những nước đang phát triển như Việt Nam thì Thuế là nguồn thu quan trọng, chủ yếu
của ngân sách nhà nước. Có những thời kỳ vì nhu cầu cấp bách của Ngân sách Nhà
nước để đối phó với những sự cố khách quan hay khắc phục hậu quả mà buộc phải
thực hiện việc thu thêm thuế, ngoài những khoản đã được quy định trong pháp luật
đã quy định. Đây chính là yếu tố do nhu cầu của Ngân sách nhà nước ảnh hưởng đến
việc thực thi pháp luật thuế trên thực tế.
Thứ tư, sự hiểu biết và nắm bắt pháp luật của người nộp thuế là nhân tố chi
phối mang tính chủ quan trong hoạt động thực thi pháp luật Thuế hiện nay.
Đây là yếu tố vô cùng quan trọng trong việc thực thi pháp luật về thuế. Nếu
những người nộp thuế có ý thức chấp hành tốt pháp luật về thuế thì sẽ giúp cho pháp
luật thuế được thực hiện hiệu quả, đầy đủ, giúp cho Nhà nước định hướng được nền
sản xuất, tiêu dùng trong nước, các mục tiêu của thuế cũng qua đó mà được thực
hiện. Tuy nhiên do thuế là khoản thu không hoàn trả nên người nộp thuế thường có
thái độ không thân thiện với thuế và pháp luật về thuế, các hành vi trốn thuế khá phổ
biến và nhiều khi gây nên hậu quả nghiêm trọng cho nhà nước và xã hội. Chính vì
vậy cần tuyên truyền sâu rộng cho nhân dân về mục đích của thuế, những giá trị mà
thuế mang lại, hơn nữa là tạo mọi điều kiện thuận lợi để người nộp thuế thực hiện
nghĩa vụ nộp thuế của mình. Bên cạnh đó các quy định pháp luật về thuế cũng cần
khuyến khích người nộp thuế nộp thuế đầy đủ. Có như vậy thì việc thực thi pháp luật
thuế mới đạt được hiệu quả. Nếu sự hiểu biết và nắm bắt pháp luật của người nộp
thuế cao thì họ sẽ có ý thức chấp hành pháp luật thuế tốt, nộp thuế đầy đủ cho nhà
nước, và ngược lại.
4. Sự thể hiện các yếu tố chi phối trong Luật thuế nhập khẩu:
Thứ nhất, nhu cầu đảm bảo vật chất cho chi tiêu thực tế của Nhà nước, cũng
như việc đảm bảo ngân sách nhà nước để thực hiện các nhiệm vụ quốc gia là yếu tố
Chi cho phát triển sự nghiệp kinh tế - xã hội, quốc phòng, an ninh, quản lý hành
chính tổng là 542.000 tỉ đồng.
Thứ hai, hoạt động xây dựng pháp luật thuế nhập khẩu còn được biểu hiện ở
sự ảnh hưởng của điều kiện kinh tế - chính trị - xã hội của nước ta.
Pháp luật thuế được sử dụng như một công cụ điều tiết nền kinh tế, thực hiện
đường lối trong một thời kỳ nhất định của nhà nước Tác động của thuế quan đối với
nền kinh tế. Xét trên góc độ quốc gia đánh thuế thì thuế quan sẽ mang lại thu nhập
10
10
thuế cho nước đánh thuế. Tuy nhiên, đứng trên góc độ toàn bộ nền kinh tế, thuế quan
lại làm giảm phúc lợi chung do nó làm giảm hiệu quả khai thác nguồn lực của nền
kinh tế thế giới, nó làm thay đổi cán cân thương mại, điều tiết hoạt động xuất khẩu
và nhập khẩu của một quốc gia. Thuế quan cao sẽ ảnh hưởng đến khả năng cạnh
tranh của hàng hóa và do đó làm giảm lượng hàng hóa được tiêu thụ, kích thích tệ
nạn buôn lậu. Thuế quan cao cũng là nguyên nhân chủ yếu dẫn tới hiện tượng gian
lận thuế, trốn thuế (bởi khi trốn thuế hay gian lận thuế thì người ta phải bỏ ra một
khoản tiền được gọi là chi phí để trốn tránh nghĩa vụ nộp thuế).
Thuế nhập khẩu có vai trò quan trọng trong việc bảo hộ thị trường nội địa, đặc
biệt là bảo hộ các ngành công nghiệp non trẻ. Thuế quan nhập khẩu sẽ làm tăng giá
hàng hóa, do vậy sẽ khuyến khích các nhà sản xuất trong nước. Tuy nhiên, điều đó
cũng sẽ làm giảm khả năng cạnh tranh của hàng hóa sản xuất trong nước. Thuế nhập
khẩu có thể giúp cải thiện thương mại của nước đánh thuế. Có thể có nhiều sản
phẩm mà giá của chúng không tăng đáng kể khi bị đánh thuế. Đối với loại hàng hóa
này thuế quan có thể khuyến khích nhà sản xuất ở nước ngoài giảm giá. Khi đó lợi
nhuận sẽ được chuyển dịch một phần cho nước nhập khẩu. Tuy nhiên, để đạt được
hiệu ứng đó, nước nhập khẩu phải là nước có khả năng chi phối đáng kể đối với cầu
thế giới của hàng hóa nhập khẩu.
Thứ ba, chính sách thuế quan trong điều kiện hội nhập cũng là nhân tố quan
trọng chi phối pháp luật thuế nhập khaari của nước ta.
Nhìn chung chính sách thuế quan của các quốc gia trong điều kiện hiện nay
xuất khẩu; như vậy, mức thuế suất này được áp dụng đối với cả hoạt động xuất khẩu
tại chỗ, các dịch vụ xuất khẩu khi đáp ứng điều kiện của luật, Nhà nước áp dụng
mức thuế suất 0% đối với hàng hóa xuất khẩu thể hiện mục đích thúc đẩy xuất khẩu
phát triển; Bên cạnh mức thuế suất 0% nhà nước còn áp dụng mức thuế suất 5% đối
với các hàng hóa dịch vụ ưu đãi, khuyến khích phát triển đầu tư. Các sản phẩm thiết
yếu (như: thuốc, các trang thiết bị y tế, ), các sản phẩm công nghiệp nặng hoặc
công nghiệp phục vụ nông nghiệp, dịch vụ công cộng đều thuộc diện ưu đãi và áp
dụng mức thuế suất 5%; Mức thuế suất cao nhất trong biểu thuế giá trị gia tăng, đó
cũng là mức thuế suất chuẩn, áp dụng cho hàng hóa, dịch vụ thông thường. Thông
qua việc áp dụng các loại thuế suất khác nhau mà nhà nước thể hiện ý chí của mình
trong đó. Đối với các loại hàng hóa, dịch vụ đáp ứng nhu cầu thiết yếu của đời sống
nhân dân thì mức thuế suất thường ở mức thấp hơn. Điều này càng được thể hiện rõ
12
12
hơn ở biểu thuế đối với một số loại hàng hóa đặc biệt là đối tượng điều chỉnh của
luật thuế tiêu thụ đặc biệt. Cụ thể, mức thuế suất cao nhất được áp dụng với bia chai,
bia hộp; và mức thuế thấp nhất là 10% áp dụng đối với xăng, các chế phẩm dùng pha
chế xăng và dịch vụ kinh doanh golf. Chúng ta có thể thấy được nhà nước đã dùng
chính sách thuế để điều tiết nền kinh tế quốc gia, thể hiện đường lối phát triển kinh
tế xã hội. Trong nền kinh tế thị trường, các tổ chức, cá nhân có thể tồn tại và vận
động theo nhu cầu và lợi ích của chính họ, điều đó có thể tổn thương đến trật tự xã
hội cũng như định hướng của nhà nước trong từng giai đoạn, ở mỗi quốc gia. Giải
quyết vấn đề này, pháp luật thuế có thể làm thay đổi hoặc can thiệp gián tiếp vào
hoạt động và quyết định đầu tư của các chủ thể nhằm đạt tới mục tiêu nhất định của
nhà nước. Thông qua hệ thống pháp luật thuế nhà nước có thể thay đổi cơ cấu đầu
tư, cơ cấu ngành kinh tế mà không cần can thiệp hành chính. Để thực hiện cơ cấu
đầu tư định trước, pháp luật thuế có những quy định cụ thể khác nhau giữa nghĩa vụ
thuế của đối tượng ưu tiên và đối tượng hạn chế. Chính điều này sẽ làm ảnh hưởng
đến cơ hội tìm kiếm thu nhập của đối tượng đầu tư, qua đó có thể làm thay đổi luồng
chu chuyển vốn từ khu vực đầu tư này sang khu vực đầu tư khác.
thu ngân sách vừa làm giảm thu ngân sách do đó khi tiến hành xây dựng chính sách
pháp luật về thuế nhập khẩu thì phải có sự tính toán lỹ lưỡng hợp lý, phải tính đến
nhu cầu thu ngân sách nhà nước để bảo đảm cho ngân sách quốc gia có được nguồn
thu ổn định lành mạnh.
Thứ tư, yêu cầu của các quan hệ kinh tế đối ngoại, quan hệ quốc tế trong từng
giai đoạn cụ thể cũng có ảnh hưởng nhất định đến pháp luật thuế nhập khẩu.
Hội nhập kinh tế quốc tế là xu hướng tất yếu của các quốc gia, trong đó có
Việt Nam. Trong văn kiện đại hội Đảng lần thứ IX ( năm 2001), Đảng ta nhận định:
“Toàn cầu hóa kinh tế là một xu thế khách quan, lôi cuốn ngày càng nhiều nước
tham gia, xu thế này đang bị một số nước phát triển và các tập đoàn kinh tế tư bản
xuyên quốc gia chi phối, chứa đựng nhiều mâu thuẫn, vừa có mặt tích cực, vừa có
mặt tiêu cực, vừa có hợp tác, vừa có đấu tranh”. Như vậy, các quốc gia không thể
đứng ngoài xu thế toàn cầu hóa mà phải nắm bắt những cơ hội của nó để đưa đất
nước nhanh chóng hội nhập kinh tế quốc tế. Hội nhập kinh tế quốc tế thể hiện qua
việc một quốc gia tham gia vào các tổ chức hay liên minh kinh tế quốc tế giữa hai
nước, trong khu vựa hay trên thế giới. Sự tham gia đó được chứng nhận thông qua
14
14
việc quốc gia tiến hành kí kết các điều ước quốc tế song phương hoặc đa phương và
quốc gia đó phải tuân thủ các điều ước đó một cách nghiêm túc ngay khi điều ước đó
có hiệu lực. Để làm được điều này thì quốc gia thành viên phải xây dựng một hệ
thống pháp luật phù hợp với quy chế của điều ước quốc tế đã kí kết. Luật thuế nhập
khẩu là một trong hệ thống pháp luật quốc gia, nó là loại thuế phản ánh rõ nhất tiến
trình hội nhập của quốc gia đó nên khi xây dựng hệ thống pháp luật thuế nhập khẩu
thì mỗi quốc gia phải “ nội luật hóa” các cam kết quốc tế về thuế nhập khẩu bằng
cách bổ sung, ban hành các quy định mới về thuế nhập khẩu hoặc sửa đổi các quy
định cũ để phù hợp với cam kết đó.
Việt Nam đã gia nhập Tổ chức thương mại thế giới ( WTO) từ ngày 7/11/2006
và chính thức trở thành thành viên từ 15/1/2007. Trước khi gia nhập tổ chức này,
Việt Nam đã tiến hành cải cách hệ thống pháp luật, ví dụ là Luật thuế xuất khẩu,
trình của doanh nghiệp, điều chỉnh mức giá tính thuế 4,8USD/m2. Cục Hải quan
TP.HCM đã điều chỉnh tăng thuế các lô hàng nhập khẩu thuộc 4 tờ khai hải quan,
với tổng số thuế tăng 274 triệu đồng.
Nhiều vụ việc trốn thuế đã phải truy cứu trách nhiệm hình sự vì sự nguy hiểm
và nghiêm trọng của hành vi vi phạm. TAND TP HCM đã xét xử vụ trốn thuế hơn
40 tỷ đồng tại Công ty TNHH Việt Hùng. Đây được đánh giá là vụ trốn thuế nhập
khẩu quy mô lớn nhất tại TP HCM, sau vụ Đông Nam. Trong vụ án này, Lầu Lý
Sáng, nguyên giám đốc Công ty Việt Hùng, cùng 3 nhân viên bị truy tố về tội trốn
thuế, 8 người nguyên là cán bộ kiểm hoá Hải quan TP HCM tội thiếu trách nhiệm,
gây hậu quả nghiêm trọng. Việt Hùng được thành lập với chức năng kinh doanh các
mặt hàng dây kéo YKK, máy photo và các phụ kiện nhập khẩu của Công ty
CROWNING (Hong Kong). Sáng trực tiếp lập một số hợp đồng nhập khẩu với giá
nhập thấp hơn giá thực tế để trốn thuế. Đơn vị bán hàng không viết hóa đơn tài chính
hoặc liên trên hóa đơn với liên dưới không giống nhau về số lượng, chủng loại, giá
cả mặt hàng đã bán. Bằng những thủ đoạn này, Việt Hùng đã trốn thuế hơn 33,8 tỷ
đồng. Ngoài ra, Sáng còn tổ chức nhập dây kéo YKK theo đường quà biếu phi mậu
dịch mang tên một số nhân viên của Việt Hùng. Theo kết quả giám định của Tổng
cục Thuế, 91 tờ khai hải quan nhập hàng “phi mậu dịch”, giá trị 25,5 tỷ đồng. Song
qua tay Sáng và các nhân viên hải quan chỉ còn 2,4 tỷ. Nhờ đó, Việt Hùng đã trốn
hơn 6,8 tỷ đồng tiền thuế.
Như vậy, sự hiểu biết đúng đắn về pháp luật thuế nhập khẩu có ảnh hưởng rất
lớn đến việc pháp luật có đi vào cuộc sống hay không. Cần có những chế tài nghiêm
16
16
khắc để ngăn chặn những hành vi vi phạm pháp luật thuế như trên để luật thuế nhập
khẩu phát huy hiệu quả cao nhất.
III/ KẾT THÚC VẤN ĐỀ:
Qua việc phân tích, tìm hiểu và tìm hiểu biện những yếu tố chi phối đối với
pháp luật thuế nói chung và luật thuế nhập khẩu nói riêng phần nào ta đã hiểu rõ
hơn, có cái nhìn toàn diện hơn về vấn đề này.