Đề tài: phân tích để làm rõ quá trình hình thành và phát triển đường lối
cách mạng giải phóng dân tộc trong những năm 1930-1945.
A-Chủ trương đấu tranh từ năm 1930 đến năm 1935:
I-Cương lĩnh chính trị đầu tiên của Đảng(2/1930):
Ngày 24-2-1930 ,Đảng cộng sản Việt Nam đã hoàn thành việc hợp nhất 3 tổ
chức cộng sản ở Việt Nam và thông qua cương lĩnh chính trị đầu tiên của Đảng
cộng sản Việt Nam.
1-Nhiệm vụ cách mạng: đánh đổ đế quốc chủ nghĩa Pháp và bọn phong kiến
làm cho Việt Nam hoàn toàn độc lập. Song để dành thắng lợi từng phần trước hết
Đảng phải tập trung lực lượng cách mạng đánh đổ kẻ thù chủ yếu là đế quốc và
bọn tay sai của chúng. Tức là khi xác định kẻ thù, Đảng xác định mâu thuẫn lớn
nhất trong xã hội lúc bấy giờ bao gồm mâu thuẫn giai cấp và mâu thuẫn dân tộc.
Trong đó mâu thuẫn chủ yếu vẫn là mâu thuẫn dân tộc: giữa các tầng lớp với đế
quốc Pháp. Do đó, nhiệm vụ cấp bách trước mắt là tập hợp lực lượng và xây dựng
đoàn kết dân tộc để chống lại đế quốc trên cả phương diện chính trị và kinh tế:
+Về chính trị, Đảng chủ trương đánh đổ đế quốc và bọn phản động tay sai,
đồng thời thu hồi quyền hành của phong kiến. Từ đó, sự lãnh đạo của Đảng được
củng cố.
+Về mặt kinh tế, bước thứ nhất "Tịch thu toàn bộ đồn điền và đất đai của đế
quốc Pháp và địa chủ phản cách mạng. Còn các tầng lớp trung tiểu địa chủ và tư
bản Việt Nam chưa rõ phản cách mạng thì phải sử dụng hoặc ít nhất làm họ trung
lập."
2-Lực lượng cách mạng: Chủ trương cần kết hợp các yếu tố dân tộc và yếu
tố giai cấp. Công nhân và giai cấp nông dân là lực lượng chính , là quân chủ lực
của cách mạng, giai cấp công nhân là giai cấp lãnh đạo. Đồng thời phải hết sức liên
lạc với tiểu tư sản, trí thức, trung nông để lôi kéo họ về phía giai cấp vô sản và
tranh thủ các tầng lớp phú nông, trung tiểu địa chủ và tư sản dân tộc có lòng yêu
nước để đưa họ vào mặt trận dân tộc thống nhất chế độ. Lực lượng cách mạng gồm
các giai cấp: công nhân, nông dân, tiểu tư sản, do giai cấp công nhân lãnh đạo, dựa
trên cơ sở liên minh công nông. Về nguyên tắc liên minh với các lực lượng và tầng
lớp yêu nước khác, cương lĩnh nêu rõ: không khi nào nhượng bộ một chút ít lợi ích
3-Phạm vi giải quyết vấn đề dân tộc: Đảng Cộng sản Đông Dương có trách
nhiệm lãnh đạo phối hợp cuộc kháng chiến của ba dân tộc Việt Nam, Lào,
Campuchia, lãnh đạo cách mạng Đông Dương.
III-Đại hội đại biểu lần thứ nhất của Đảng(3/1935):
Trên cơ sở phong trào cách mạng đã được phục hồi và sự chuẩn bị trước đó,
từ ngày 28 đến 31/03/1935. Đại hội đại biểu lần thứ nhất của Đảng đã họp tại một
địa điểm ở phố Quan Công, Ma Cao (Trung Quốc) nhằm xác định đường lối cho
thời kỳ đấu tranh mới khi Đảng đã phục hồi.
1-Nhiệm vụ cách mạng:
- Phát triển và củng cố Đảng: Cần củng cố lực lượng hiện tại, tăng cường
phát triển Đảng ở các xí nghiệp, đồn điền, hầm mỏ, đường giao thông quan trọng,
kết nạp thêm nông dân và trí thức. Phải đưa thêm nhiều đảng viên xuất thân từ
thành phần công nhân vào các cơ quan lãnh đạo, bảo đảm tính giai cấp. Ban Chấp
hành Trung ương Đảng được uỷ quyền đào tạo cán bộ dự bị mới cho Đảng. Để
thống nhất về tư tưởng và hành động, các đảng bộ cần tăng cường phê bình và tự
phê bình chống tả khuynh và hữu khuynh, giữ vững kỷ luật Đảng.
- Thu phục quần chúng: Đại hội coi thu phục rộng rãi quần chúng là nhiệm
vụ trung tâm cơ bản, trước mắt của Đảng. Các đảng bộ phải bênh vực quyền lợi
thiết thân của quần chúng, quan tâm đến các dân tộc thiểu số, thanh niên, phụ nữ
và quần chúng lao động ngoại kiều; phải củng cố và phát triển các tổ chức quần
chúng, lợi dụng các hình thức công khai và nửa công khai để xây dựng và phát
triển các tổ chức quần chúng lãnh đạo quần chúng đấu tranh.Lôi kéo các phần tử đi
sai đường:”vô luận là quần chúng ở dưới quyền lãnh đạo của các chính đảng và các
đoàn thể phản động, quốc gia cải lương, hay cách mạng tiểu tư sản, Đảng phải
dùng đủ phương pháp mà kéo các đám quần chúng đi sai đường ấy sang phe cộng
sản, nhất là phải chú trọng kéo quần chúng ra khỏi ảnh hưởng của tụi quốc gia cải
lương,và nếu ảnh hưởng quốc gia cải lương còn mạnh thì cách mạng Đông Dương
khó thành công.
- Chống chiến tranh đế quốc, ủng hộ Liên Xô, Trung Quốc: “Cần phổ biến
những sự thắng lợi vĩ đại của sự kiến thiết xã hội chủ nghĩa Xô viết Liên bang, cần
mâu thuẫn giữa dân tộc Việt Nam với đế quốc Pháp, từ đó không đặt nhiệm vụ
chống đế quốc lên hàng đầu, đánh giá chưa khách quan vai trò và thái độ cách
mạng của tiểu tư sản và mặt yêu nước của tư sản dân tộc cũng như một bộ phận địa
chủ nhỏ. Sở dĩ có hạn chế đó là do Hội nghị Ban Chấp hành Trung ương tháng
10/1930 chưa nắm vững đặc điểm của xã hội thuộc địa, nửa phong kiến Việt Nam,
vận dụng máy móc đường lối của Quốc tế Cộng sản vào hoàn cảnh nước ta; chưa
nhận thức rõ những quan điểm sáng tạo của đồng chí Nguyễn Ái Quốc đã nêu ra
trong các văn kiện được thông qua tại Hội nghị thành lập Đảng.
- Hội nghị ban chấp hành trung ương Đảng 3/1935: Đại hội đánh dấu sự
khôi phục và phát triển của tổ chức Đảng. Là sự chuẩn bị cho thắng lợi của các
phong trào tiếp theo. Đại hội đại biểu lần I của Đảng được xem như là mốc đánh
dấu bước phát triển quan trọng của Đảng, Đảng đã phục hồi được hệ thống tổ chức
từ Trung ương đến địa phương, các Xứ ủy Bắc Kỳ, Trung Kỳ và Nam Kỳ được lập
lại, các tổ chức quần chúng của Đảng cũng dần được khôi phục và phát triển. Đại
hội chính là mốc đánh dấu sự sống còn của Đảng Cộng Sản Việt Nam vì trước đó
tất cả các tổ chức, đảng phái khác như Việt Nam Quang phục hội, Việt Nam quốc
dân đảng,… sau khi bị thực dân Pháp đàn áp đều không còn hoạt động hoặc hoạt
động rất hạn chế, cơ sở trong nước bị khủng bố hoàn toàn, chỉ còn các cơ sở hoạt
động tại hải ngoại.
-Nhận xét chung: Trong giai đoạn này đã xác định được con đường của cách
mạng Việt Nam là cách mạng vô sản chấm dứt thời kỳ khủng hoảng về đường lối,
vận dụng sáng tạo chủ nghĩa Mác-Lênin vào thực tiễn cách mạng nước ta. Tuy có
những nhận định sai về nhiệm vụ chiến lược ở thời kỳ sau nhưng chúng ta đã xác
định chính xác nhiệm vụ ở Cương lĩnh đầu tiên của Đảng.
B-Chủ trương đấu tranh từ năm 1936 đến năm 1939:
I-Chủ trương đấu tranh đòi quyền dân chủ, dân sinh(7/19360):
Hội nghị họp vào tháng 7/1936 tại Thượng Hải (Trung Quốc). Hội nghị đã
đề ra những chủ trương thích hợp để đưa cách mạng nước ta tiến lên trong tình
hình mới, bổ khuyết những thiếu sót của Đại hội I.
1-Nhiệm vụ cách mạng : Kẻ thù chủ yếu trước mắt của nhân dân Đông
thời, vào cuộc đấu tranh nhằm thực hiện mục tiêu trước mắt.
-Hạnchế: Chưa nêu được những khẩu hiệu thích hợp về dân tộc trong lúc
còn tạm gác khẩu hiệu chiến lược đánh đổ đế quốc Pháp giành độc lập dân tộc cho
các dân tộc Đông Dương.
C-Chủ trương đấu tranh từ năm 1939 đến năm 1945:
I-Hội nghị Ban chấp hành Trung ương Đảng(11/1939):
Mâu thuẫn giữa các dân tộc Đông Dương với thực dân Pháp trở nên gay gắt.
Do đó, trong các ngày 6, 7, 8/11/1939, Trung ương Đảng họp ở Bà Điểm, Hóc
Môn (Gia Định) để bàn các chủ trương của Đảng trong tình hình mới, dưới sự chủ
trì của đồng chí Nguyễn Văn Cừ.
1-Nhiệm vụ cách mạng: hai nhiệm vụ cơ bản của cuộc cách mạng tư sản dân
quyền là đánh đổ đế quốc và giai cấp địa chủ phong kiến không thay đổi, nhưng
phải được áp dụng cho phù hợp với tình hình mới. Đặt nhiệm vụ giải phóng dân
tộc lên hàng đầu; tạm gác khẩu hiệu cách mạng ruộng đất, chỉ tịch thu ruộng đất
của đế quốc và địa chủ phản bội quyền lợi dân tộc, chống tô cao, lãi nặng; thay
khẩu hiệu lập chính quyền Xô viết công – nông – binh bằng khẩu hiệu lập chính
quyền dân chủ cộng hòa. Nhiệm vụ trung tâm trước mắt của cách mạng Việt Nam
nói riêng và cách mạng Đông Dương nói chung là đánh đổ đế quốc và tay sai ,
giành hoàn toàn độc lập cho dân tộc: "Bước đường sinh tồn của các dân tộc Đông
Dương không còn có con đường nào khác hơn là con đường đánh đổ đế quốc Pháp,
chống tất cả ách ngoại xâm, vô luận da trắng hay da vàng để giành lấy giải phóng
độc lập"
2-Lực lượng chính của Mặt trận là: công nhân, nông dân, đoàn kết với các
tầng lớp tiểu tư sản thành thị và nông thôn, đồng minh trong chốc lát hoặc cô lập
giai cấp tư sản bản xứ, trung, tiểu địa chủ. Mặt trận do giai cấp công nhân lãnh đạo.
3-Phạm vi cách mạng: toàn Đông Dương.
II- Hội nghị BCH TW Đảng lần thứ 7 (11 – 1940) tại Đình Bảng (Từ Sơn, Bắc
Ninh).
1-Nhiệm vụ cách mạng: Như thế cuộc cách mạng Đông Dương trong giai
đoạn hiện tại phải bao gồm có hai tính: phản đế và thổ địa. Cuộc cách mạng gồm
nhất để" có tính dân tộc hơn, cho có một mãnh lực dễ hiệu triệu hơn". Hội nghị
cũng đặc biệt nhấn mạnh đến sự đoàn kết ba dân tộc ở Đông Dương trong một
chiến lược chống kẻ thù chung Pháp-Nhật và tay sai, giành độc lập ở từng dân tộc,
coi đó là vấn đề sống còn của ba dân tộc. "Những dân tộc sống ở Đông Dương đều
chịu dưới ách thống trị của giặc Pháp-Nhật, cho nên muốn đánh đuổi chúng nó
không chỉ dân tộc này hay dân tộc kia mà đủ, mà phải có một lực lượng thống nhất
của tất thảy các dân tộc Đông Dương họp lại ". Sau khi hoàn thành sự nghiệp giải
phóng dân tộc,"ta phải thi hành đúng chính sách dân tộc tự quyết" cho dân tộc
Đông Dương.
IV-Nhận xét:
-Hội nghị Ban Chấp hành Trung ương tháng 11/1939 đánh dấu sự trưởng
thành của Đảng, cụ thể hoá một bước đường lối cứu nước trên tinh thần của Cương
lĩnh đầu tiên được hoạch định từ khi thành lập Đảng. Đây là sự chuyển hướng từ
đấu tranh chính trị, hoà bình đòi quyền dân sinh dân chủ sang đấu tranh vũ trang -
bạo lực, kết hợp đấu tranh chính trị với đấu tranh vũ trang và khởi nghĩa vũ trang
để giành chính quyền.
-Hội nghị BCH TW Đảng lần thứ 7 (11 – 1940) chưa thật dứt khoát với chủ
trương đặt nhiệm vụ giải phóng dân tộc lên hàng đầu được đề ra trong hội nghị 11-
1939.
- Hội nghị Trung ương lần thứ tám đã phát triển, hoàn chỉnh những chủ
trương được đề ra ở Hội nghị Trung ương (tháng 11-1939) và (tháng 11-1940).
Nghị quyết Hội nghị Trung ương tháng 5/1941 đã phát triển sáng tạo lý luận về
cách mạng vô sản ở một nước thuộc địa, tiến hành công cuộc giải phóng dân tộc
như nước ta; có tác dụng quyết định trong việc vận động toàn Đảng, toàn dân tích
cực chuẩn bị tiến tới khởi nghĩa vũ trang giành chính quyền.
-Nhận xét chung: Như vậy, chủ trương mới của Đảng trong thời kỳ này đã
hoàn chỉnh việc điều chỉnh chiến lược cách mạng tư sản dân quyền để tập trung
cho mục tiêu số một là giải phóng dân tộc.Đường lối dương cao ngọn cờ giải
phóng dân tộc, đặt nhiệm vụ dân tộc lên hàng đầu là ngọn cờ dẫn đường cho nhân
dân ta tiến lên giành thắng lợi trong sự nghiệp đánh Pháp, đuổi Nhật, giành độc lập
nghĩa.
- Chỉ thị dự kiến những điều kiện thuận lợi để thực hiện tổng khởi nghĩa như
khi quân đồng minh kéo vào Đông Dương đánh Nhật, Nhật kéo ra mặt trận ngăn
cản quân Đồng minh để phía sau sơ hở. Cũng có thể là cách mạng Nhật bùng nổ,
chính quyền cách mạng của nhân dân Nhật ra đời, hoặc Nhật bị mất nước như
Pháp năm 1940, quân đội viễn chinh Nhật mất tinh thần.
3-Tổng Khởi Nghĩa
-Hội nghị cán bộ Đảng toàn quốc ở Tân Trào giữa tháng 8 - 1945 đã kịp thời
quyết định Tổng khởi nghĩa trên cả nước sau khi quân Nhật tuyên bố đầu hàng
Đồng minh và trước khi quân đội Đồng minh vào Đông Dương giải giáp quân
Nhật. Thời cơ khởi nghĩa thuận lợi nhất là nửa cuối tháng 8 - 1945. Khởi nghĩa đã
nổ ra và giành thắng lợi đúng như thế. C.Mác nói khởi nghĩa là một nghệ thuật.
Điểm tuyệt diệu nhất của nghệ thuật đó là chớp đúng thời cơ. Khi phát động khởi
nghĩa Đảng và Hồ Chí Minh cũng đã sớm nhận thấy khó khăn phức tạp và nguy cơ
mới xuất hiện đó là quân đội Đồng minh kéo vào. Phải giành thắng lợi trước khi
quân Đồng minh vào Đông Dương để với tư cách người chủ đất nước tiếp quân
Đồng minh.
-Tin Nhật đầu hàng vô điều kiện đã nhanh chóng thổi bùng lên ngọn lửa cách
mạng trong toàn quốc, từ thành thị đến nông thôn, từ đồng bằng đến miền núi,
khắp cả Bắc, Trung, Nam. Lúc này, các tầng lớp trung gian đã ngả hẳn về cách
mạng, hàng ngũ địch hoang mang, khủng hoảng, do dự, chia rẽ đến cực điểm, quần
chúng sẵn sàng hy sinh cho mục tiêu cuối cùng của cách mạng.
-Thời cơ cách mạng chín muồi, lực lượng cách mạng đã chuẩn bị chu đáo cộng
với sự lãnh đạo sáng suốt, tài tình của Đảng biết nắm lấy thời cơ, biết sử dụng lực
lượng cách mạng đúng lúc, kết hợp chính trị và vũ trang, lấy lực lượng chính trị
của quần chúng giữ vai trò quyết định, kết hợp nông thôn và thành thị, kết hợp các
hình thức đấu tranh hợp pháp, từ thấp lên cao, từ khởi nghĩa từng phần tiến lên
tổng khởi nghĩa giành thắng lợi hoàn toàn, đó chính là nguyên nhân chủ yếu đưa
cuộc Tổng khởi nghĩa tháng Tám đến thắng lợi.