NHỮNG CHẤT ĐỘC trong MÔI TRƯỜNG SINH SỐNG và những ảnh hưởng trên Sức khỏe - Phần 2 - Pdf 20

NHỮNG CHẤT ĐỘC trong MÔI
TRƯỜNG SINH SỐNG và những ảnh
hưởng trên Sức khỏe
Phần 2

Những bệnh Ung thư do ở Hóa chất gây ô-nhiễm môi sinh:
Nhiều nghiên cứu đã ghi nhận những nồng độ OCCs cao trong tế bào
mỡ của những bệnh nhân ung thư vú (so sánh với những ngưới bình thường)
Các hóa chất tìm thấy, với nồng độ cao, nơi người bị ung thư gồm: DDT,
DDE, PCBs và Hexachlorocyclohexane (HCH , còn được gọi là
lindane,Kwell @ hay BHCthường dùng làm thuốc trị chấy rận) Nồng độ
những hóa chất này không chỉ cao ở trong mô mỡ mà thật ra còn cao hơn ở
trong các tế bào ung thư, so với các tế bào lành mạnh ngay bên cạnh. Các
nghiên cứu này cũng cho thấy nồng độ OCCs tồn trữ cao nhất tại mô tế bào
vú, hơn là tại các mô tế bào mỡ khác.
Nồng độ OCCs trong máu cũng liên hệ mật thiết đến nguy cơ bị ung
thư vú. Nồng độ cao của DDE và PCB trong máu gây nguy cơ ung thư vú
tăng lên gấp 4 lần (Journal of National Cancer Institute No 85-1993).
Các liên hệ giữa việc tiếp xúc với hóa chất và ung thư nơi trẻ em cũng
đã được nghiên cứu (Arch Environ Contam Toxicol No 24-1993): 45 trường
hợp ung thư óc nơi trẻ em đã được so sánh với 85 trường hợp đối chứng:
một sự liên hệ khá rõ rệt đã được ghi nhận giữa ung thư óc và sự tiếp xúc với
No-Pest Strips, thuốc trừ mối, Kwell Shampoo, dây đeo cổ trừ bọ chó,
diazinon dùng trong vườn.
Một số nghiên cứu đã tìm thấy sự liên quan giữa hóa chất diệt cỏ dại
2,4 D (thường dùng trong vườn) và ung thư mô tế bào mềm loại
sarcoma.(Am J Public Health No 85-1995). Ngoài ra cũng có sự liên quan
giữa ung thư máu leukemia và các hóa chất trừ sâu.
Những người trưởng thành tiếp xúc với những hóa chất diệt cỏ dại
loại chlorophenoxy như 2-4 D, có thể có nguy cơ bị ung thư phổi, ung thư
bao tử, ung thư máu, lymphoma loại Hodgkin, sarcoma nơi mô mềm.

OCCs ảnh hưởng trên thần kinh bằng cách gây rối loạn sự di chuyển các ion
dọc theo thân tế bào thần kinh (axon). Các thuốc trừ sâu loại phosphate hữu
cơ, được phát triển từ các nghiên cứu về hơi độc và các carbamate, ảnh
hưởng trên phân hóa tố acetylcholinesterase đưa đến sự thừa acetylcholine
nơi các điểm tiếp nối (synapse) thần kinh.
Các dung môi hữu cơ, một số được dùng lúc ban đàu làm thuốc gây
mê, gây trở ngại cho sự dẫn truyền luồng thần kinh dọc theo thân tế bào thần
kinh. Các chất này gây một số độc hại cho não bộ (cấp tính hoặc kinh niên).
Các bệnh về tế bào thần kinh (neuronopathies) có thể lan tỏa hay tập
trung vào một điểm, tùy theo loại neuron bị ảnh hưởng hay khi sự hư hại
phát triển đến toàn hệ thần kinh. Mục tiêu gây hại của độc chất nhắm vào
toàn tế bào thần kinh nên đưa đến hậu quả là sư hư hại có thể ở axon hay ở
phần dendritic!
Một trong những ví dụ điển hình về tác động gây hư hại tế ào thần
kinh có tính cách lan rộng là tác hại của methylmercury, đã được ghi nhận là
gây hại cho các tế bào hạt ở lớp thứ 4 của vỏ não phần điều hành thị giác
(visual cortex), các tế bào hạt trong lớp hạt của não bộ và các tế bào thần
kinh cảm xúc (sensory neurons) của phần hạch gốc. Các tác ại này đưa đến
một sự thoái biến thần kinh, dẫn đến hoại tử, teo axon và mất myelin.
Một ví dụ khác là trường hợp của nhôm, đã gây ra tử vong do sưng
não phải dùng đến lọc thẩm áp (dialysis encephalopathy), xẩy ra sau từ 3-7
năm lọc thẩm áp không liên tục. Tuy nồng độ nhôm trong óc tăng cao,
nhưng không tìm được các nút rối (tangles) chứng tỏ rằng nếu chỉ riêng
nhôm thì không đủ gây ra những bệnh chứng lú lẫn kiểu Alzheimer.
Tác dụng độc hại thần kinh cũng có thể có tính cách chuyên biệt, chỉ
ảnh hưởng trên một vài neuron. Một số các hóa chất độc hại loại này như
doxorubicin (Adriamycin@) chỉ tác động vào phần lưng của gốc hạch
(dorsal root ganglia); cisplatin chỉ ảnh hưởng đến neuron cảm giác; và
manganese gây hội chứng loại Parkinson. Các hư hại do Manganese gây ra
tập trung tại sustantia nigra, globus pallidus và caudate nucleus (các điểm

chất xúc tác trong kỹ nghệ silicon và epoxy. Organotins cũng được dùng
trong kỹ nghệ gỗ và dệt để bảo tồn chống nấm, diệt trùng và diệt sâu bọ. Các
organotins điển hình như TET (Tri Ethylen Tetramine) , TMT (Tetra Methyl
Thiuram). Hexachlorophen (HCP) thường được thêm vào sa-phòng để sát
trùng cũng gây hư hại myelin. HCP được hấp thuqua da, và màng nhày, và
cũng như TET, TMT có thể gây ra mờ mắt, suy yếu bắp thịt đưa dần đến tê
liệt. Thần kinh thị giác là bộ phận khá mẫn cảm với HCP và các dung môi
đặc biệt như uống methanol, ethanol ngửi hơi trichloroethylene, toluene,
CS2 và benzene.
Các dung môi khác cũng gây những bệnh về myelin chuyên biệt:
Thần kinh trigeminal rất mẫn cảm với trichloroethylene (trong các dung dịch
tẩy rửa). Toluene, styrene, xylene và trichloroethylene, gây hư hại myeline
của thần kinh vestibulocochlear (tai) nên thường gây lãng, điếc tai.
Tác dụng độc hại trên Hệ nội tiết:
Các chất độc trong môi sinh cũng gây nhiều tai hại cho Hệ nội tiết,
những triệu chứng ngộ độc thường xẩy ra cho Hệ nội tiết gồm:
Rối loạn về giấc ngủ; Thay đổi tâm tính, năng lực hoạt động.
Thay đổi cân nặng; Mất cảm giác thèm ăn.
Thay đổi sự ham thích, hứng thú trong việc yêu-đương; Rối loạn kinh
nguyệt.
Cảm giác về nhiệt bị rối loạn; Đổ mồ hôi.
Rối loạn về tóc, hư hại nơi da.
Các dung môi hữu cơ, dây thẳng (aliphatic) như n-hexane gây hoại tử
loại zona fasciculata và zona reticularis nơi nang thượng thận, nơi chế tạo
các glucocorticoids.
Cadmium và Carbon tetrachloride đều ức chế một cách không chuyên
biệt sự sinh tổng hợp steroids.
Những công nhân làm công việc tiếp xúc với chì, bị suy giảm tiết
glucocorticoids (17- hydroxy) và steroids nam tính (17-keto): những người
này còn bị thương tổn nớI tuyến hypothalamus và pituitary.

nhiễm. Cơ thể chúng ta cũng khác biệt nên có thể có người ít khả năng tống
thải chất độc hơn, đưa đến sự tồn đọng độc chất vượt quá sức chịu đựng của
cơ thể . Khi lượng chất độc đạt đến một mức độ nào đó, sẽ gây ra sự tổn hại
cho cơ thể. Các bộ phận quan trọng nhất bị hư hại là các Hệ miễn-nhiễm,
thần-kinh và nội-tiết.
Nhiễm độc nơi Hệ miễn nhiễm có thể là yếu tố quan trọng gây những
bệnh như Suyễn, Dị ứng, Ung thư và nhiễm siêu vi trùng. Nhiễm độc thần
kinh có thể đưa đến hư hại trong nhận thức, tâm tính thay đổi và những bệnh
kinh niên về thần kinh. Nhiễm độc nội tiết gây những rối loạn về sinh dục,
kinh nguyệt, cảm hứng tình-dục, biến dưỡng
Một số biện pháp giúp phòng ngừa cũng như làm giảm thiểu tác hại
củacác chất độc trong môi trường sẽ được trình bày trong những bài kế tiếp.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status